Đặt vấn đề Dưa chuột (Cucumis sativus L.) hay còn gọi là dưa leo thuộc họ Bầu bí (Cucurbitaceae), là loại rau ăn quả được trồng lâu đời trên thế giới, trở thành thực phẩm quan trọng và được thương mại hóa ở nhiều quốc gia. Dưa chuột được sử dụng rộng rãi trong các bữa ăn hằng ngày dưới nhiều hình thức như ăn tươi, xào, salat… Bên cạnh dùng tươi, dưa chuột là nguồn nguyên liệu cho các nhà máy chế biến như sản xuất dưa chuột đóng hộp,… Dưa chuột có thời gian sinh trưởng ngắn nên có thể trồng được nhiều vụ trong năm. Hơn nữa do có tiềm năng cho năng suất cao nên đây là một trong những loại rau chủ lực trong cơ cấu thâm canh tăng vụ nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trên đơn vị diện tích và tăng thu nhập cho người người trồng. Theo số liệu thống kê của Tổ chức Nông lương thế giới (FAO) năm 2018, diện tích gieo trồng dưa chuột trên thế giới lên đến 1.518 ha và sản lượng đạt 75.440 tấn, trong đó Trung Quốc, Iran, Mexico, Nga và Thổ Nhĩ Kỳ là những nước dẫn đầu về diện tích gieo trồng và sản lượng.
Việt Nam với điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa thuận lợi cho dưa chuột phát triển. Tuy nhiên chất lượng dưa chuột Việt Nam vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước cũng như xuất khẩu. Hơn nữa nhu cầu tiêu dùng hiện nay đối với các sản phẩm rau quả trong đó có dưa chuột ngày càng tăng, không chỉ có năng suất cao mà còn chất lượng tốt. Vì vậy, nhiều cơ sở đã và đang chọn tạo ra bộ giống dưa chuột ngày càng chất lượng và phong phú về chủng loại.
Canh tác trong nhà lưới hiện đang là hướng đi mới mang lại nhiều ưu điểm như giúp bảo vệ cây trồng khỏi côn trùng phá hoại, hạn chế sự thụ phấn từ côn trùng, tránh được tác động của thời tiết, tránh mưa bão. Từ đó, nông sản dễ đạt được tiêu chuẩn an toàn, hiệu quả kinh tế và giá trị cao. Tuy nhiên, e 2 do được cách ly với môi trường bên ngoài, không có côn trùng nên quá trình thụ phấn phải được tiến hành thủ công bằng tay hoặc phải thuê ong, côn trùng từ các cơ sở chăn nuôi dẫn đến tốn thêm công sức và chi phí. Việc sử dụng các giống dưa chuột đơn tính cái tự phối có khả năng đậu quả không cần qua thụ phấn thụ tinh là giải pháp hữu hiệu.
Mặt khác, các giống dòng dưa chuột khác nhau thường chỉ thích nghi với điều kiện sinh thái ở các địa phương khác nhau. Do đó, công tác khảo nghiệm các giống dưa chuột đơn tính cái canh tác trong nhà lưới là vô cùng quan trọng và cần thiết trong những điều kiện canh tác cụ thể tại thành phố Quy Nhơn. Nhằm khảo sát, đánh giá và tìm ra giống dưa chuột đơn tính cái phù hợp với điều kiện sinh thái địa phương. Chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu: “Đánh giá một số chỉ tiêu hóa sinh, sinh trưởng, năng suất và chất lượng của 6 giống dưa chuột đơn tính cái trồng trong nhà lưới tại thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định”.
Mục đích và yêu cầu của đề tài - Đánh giá so sánh được một số chỉ tiêu hoá sinh, sinh trưởng của 06 giống dưa chuột đơn tính cái trồng ở vụ Hè-Thu 2020 trong nhà lưới tại thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. - Đánh giá so sánh được các chỉ tiêu về năng suất, chất lượng và tình hình sâu bệnh hại của 6 giống dưa chuột đơn tính cái trồng ở vụ Hè-Thu 2020 trong nhà lưới tại thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. - Đề xuất được một hoặc một số giống dưa chuột có khả năng sinh trưởng tốt, năng suất cao, ít sâu bệnh và thích nghi với điều kiện sản xuất trong nhà lưới ở địa phương nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao cho bà con địa phương. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3.
Ý nghĩa khoa học Kết quả nghiên cứu cung cấp dữ liệu về sự sinh trưởng, phát triển, năng e 3 suất của 6 giống dưa chuột đơn tính cái (AIKO 65, LUCAS 603, KICHI 207, TROY 666, NAPALI 64 và DOTA 601) trong điều kiện nhà lưới tại thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu là nguồn tư liệu quý trong công tác chọn lọc và bổ sung bộ giống dưa chuột đơn tính cái của địa phương. Từ đó xác định được giống có năng suất, chất lượng, khả năng thích nghi cao phù hợp và có thể áp dụng trong điều kiện trồng trọt trong nhà lưới tại khu vực thành phố Quy Nhơn nhằm góp phần nâng cao hiệu quả trồng dưa chuột và kinh tế cho bà con nông dân. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Nguồn gốc, phân bố, phân loại của cây dƣa chuột 1. Nguồn gốc và phân bố Cây dưa chuột (Cucumis sativus L.) là cây trồng làm rau ăn quả lâu đời trên thế giới và trở thành thực phẩm thông dụng được thương mại hóa ở nhiều nước. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có công bố xác đáng về nguồn gốc của cây dưa chuột thuộc họ Bầu bí (Cucurbitaceae) và còn nhiều ý kiến khác nhau về xuất xứ của loài cây này. Nhiều nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng cây dưa chuột có nguồn gốc từ Tây Ấn Độ, nơi tồn tại các loài họ hàng hoang dại với số lượng nhiễm sắc thể 2n = 14.
Loài hoang dại (Cucumis hardiwickii Royle) là loài dưa chuột quả nhỏ, có vị đắng, có gai quả cứng và thưa được tìm thấy mọc hoang dại ở dưới chân núi Hymalaya. Từ Ấn Độ, dưa chuột đã được đưa đến Hy Lạp và Ý và sau đó là Trung Quốc (De Candole A.P, 1984; Staub et al. Cũng có ý kiến cho rằng dưa chuột có nguồn gốc ở Nam Á và được trồng tại đây khoảng 3.000 năm, sau đó đưa đến một số vùng phía Tây châu Á, Bắc Phi và Nam Âu. Dưa chuột được trồng ở Trung Quốc khoảng 100 năm trước công nguyên, ở Pháp và Tây Ban Nha đã phát hiện ra cây dưa chuột của địa phương trong thời gian thực dân thống trị lâu dài ở thế kỷ XVI (Tạ Thu Cúc, 2000) [5].
Nhà thực vật học người Nga Vavilov (1926) lại cho rằng khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam giáp Lào là nơi phát sinh cây dưa chuột vì ở đây còn tồn tại các loài dưa chuột hoang dại. Ông cũng khẳng định, Trung Quốc là trung tâm khởi nguyên thứ hai của cây dưa chuột do có giống dưa chuột Trung Quốc với hàng loạt tính trạng như quả dài, hình thành quả không cần e 5 thụ phấn (parthenocarpy), quả không chứa chất gây đắng cucurbitacin, gai quả màu trắng… [7]. Hiện nay, cây dưa chuột hầu như được trồng khắp mọi nơi trên thế giới từ vùng nhiệt đới Châu Á, Châu Phi đến tận 630 vĩ Bắc. Ở các vùng ôn đới, ở các vùng cực Bắc Châu Âu, dưa chuột luôn là một trong những cây trồng chính trong nhà kính.
Hiện chưa có nghiên cứu nào đề cập đến thời gian xuất hiện dưa chuột ở nước ta. Tài liệu sớm hơn cả có nhắc đến dưa chuột là sách “Nam phương thảo mộc trạng” của Kế Hàm có từ năm Thái Khang thứ 6 giới thiệu “… cây dưa leo hoa vàng, quả dài cỡ gang tay, ăn mát vào mùa hè”. Mô tả kỹ hơn cả là cuốn “Phủ biên tạp lục” (1775) Lê Quý Đôn đã ghi rõ tên dưa chuột và vùng trồng là Đàng Trong (từ Quảng Bình đến Hà Tiên) và Bắc Bộ [7]. Hiện nay, cây dưa chuột có thể trồng được ở nhiều vùng trong cả nước nhưng thích hợp nhất chủ yếu ở đồng bằng và trung du, miền núi phía Bắc.
Một số tỉnh trồng nhiều dưa chuột như: Hải Dương, Hải Phòng, Hưng Yên, Nam Định, Hà Nội, Phú Thọ, Tây Ninh, Đồng Nai, Tiền Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp [1]. Phân loại Theo bảng phân loại của Gabaev X (1932) các loài C. được chia thành 3 loài phụ sau: Loài phụ Đông Á: ssp. Loài phụ Tây Á: ssp.
Dưa chuột hoang dại: ssp. Trên cơ sở các nghiên cứu sự tiến hoá sinh thái của loài Cucumis sativus L., nhà thực vật học A. Trong số này dưa chuột hoang dại ssp. agrostis Gab đứng riêng, còn lại 6 loài phụ khác thuộc dạng cây trồng bao gồm: 1.
europaeo - americanus Fil. - loài phụ Âu Mỹ, diện phổ biến e 6 rộng nhất. occidentali - asiaticus Fil. - Tây Á, phổ biến ở Trung và Tiểu Á: Iran, Apganixtan, Azecbaigian.
- Trung Quốc, được trồng nhiều trong nhà kính ở Châu Âu, dạng quả ngắn thụ phấn nhờ côn trùng và quả dài không qua thụ phấn. indico - japonicus Fil.: Ấn Độ - Nhật Bản, các giống dưa chuột Việt Nam thuộc nhóm này.- dưa chuột lưỡng tính. Nhà di truyền học Ba Lan Kubicki (1969) đã chia C. sativus thành 3 thứ [3]: var.
hermafroitus (dưa chuột lưỡng tính) và var. Bảng phân loại này mặc dù chỉ dựa trên quan điểm hình thái thực vật nhưng tương đối thuận lợi khi sử dụng trong công tác nghiên cứu giống [7] Hiện nay, Việt Nam có hai loài dưa chuột hoang dại mới được phát hiện, trong đó C. de Wilde & Duyfes là loài đặc hữu và C. hystrix Chakrav là loài tuy phân bố rộng rãi nhưng không phổ biến [5].
Đặc điểm thực vật học của cây dƣa chuột Rễ: cây dưa chuột có rễ phát triển yếu, trong đất có thành phần cơ giới trung bình chỉ dài 10 -15 cm. Hệ rễ chiếm 1,5% toàn bộ trọng lượng cây, với hệ thống rễ phân bố trên bề mặt rộng chừng 60-90 cm [17]. Ở nhóm dưa chuột có thời gian sinh trưởng dài, bộ rễ cùng các cơ quan trên bề mặt đất phát triển mạnh hơn. Tuy nhiên, ở các giống lai F1 tất cả các pha sinh trưởng bộ rễ phát triển mạnh và có khối lượng lớn hơn so với các cặp bố mẹ [17].
Do vậy, mức độ phát triển bộ rễ ở giai đoạn đầu là một trong những tính trạng có tương quan chặt chẽ tới năng suất cây sau này. Thân: cây dưa chuột là cây một năm có thân thảo mềm, thân leo hay bò, e 7 có phủ lớp lông dày, có gốc cạnh, dạng leo dài từ 2-3m [32]. Do thuộc loại thân leo nên cần phải làm giàn để nâng đỡ thân, lá, quả giúp làm tăng năng suất và chất lượng quả [30]. Trên thân chính hình thành nhánh cấp 1 và cấp 2, có thể mang trái nếu cây phát triển tốt.
Chiều cao cây thay đổi rất lớn phụ thuộc vào giống và điều kiện trồng trọt. Lá: Lá là cơ quan dinh dưỡng với chức năng chính là quang hợp, ngoài ra lá còn có chức năng thoát hơi nước và trao đổi không khí.