Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Quản lý chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) tại khu vực nông thôn đang là một trong những thách thức môi trường lớn trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa tại Việt Nam. Sự gia tăng dân số cùng với biến đổi phương thức tiêu dùng đã khiến khối lượng CTRSH phát sinh ngày càng lớn và phức tạp về thành phần. Theo Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2019, cả nước có 1.322 cơ sở xử lý CTRSH (gồm 381 lò đốt, 37 dây chuyền chế biến phân compost và 904 bãi chôn lấp). Lượng rác thải sinh hoạt nông thôn phát sinh trên toàn quốc ước tính khoảng 32.000 tấn/ngày, trong khi tỷ lệ thu gom tại khu vực này trung bình chỉ đạt khoảng 66% đến 70%.
Tại tỉnh Hà Tĩnh, phong trào xây dựng nông thôn mới (NTM) đặt mục tiêu hoàn thành các tiêu chí xã, huyện NTM nâng cao, NTM kiểu mẫu và tiến tới tỉnh đạt chuẩn NTM vào năm 2025. Trong hệ thống tiêu chí nông thôn mới, Tiêu chí số 17 về Môi trường là một tiêu chí khó thực hiện và duy trì. Toàn tỉnh Hà Tĩnh năm 2020 phát sinh khoảng 242.635 tấn CTRSH (tương đương 664,8 tấn/ngày; nông thôn chiếm 71,7% với 476,6 tấn/ngày). Mặc dù tỉnh có 224 đơn vị thu gom rác thải, tỷ lệ rác được vận chuyển về các cơ sở xử lý đúng quy định chỉ đạt 58,6% (khoảng 389 tấn/ngày), trong khi 12,8% rác được đưa về các điểm trung chuyển để đốt hoặc chôn lấp chưa đúng quy định và 13,5% (89,9 tấn/ngày) chưa được thu gom, gây tồn lưu tại kênh mương, sông ngòi, ven đường giao thông.
Huyện Cẩm Xuyên là địa bàn trọng điểm nằm giữa thành phố Hà Tĩnh và Khu kinh tế Vũng Áng, sở hữu địa hình phân hóa đa dạng và đang trong lộ trình về đích huyện nông thôn mới. Trước yêu cầu cấp bách về kiểm soát ô nhiễm rác thải nông thôn, tác giả Nguyễn Thị Lương đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp ngành Khoa học Môi trường nhằm đánh giá toàn diện hiện trạng phát sinh, cơ chế quản lý thu gom và năng lực xử lý CTRSH tại địa phương, làm cơ sở khoa học để đề xuất phương án công nghệ xử lý phù hợp.
Mục tiêu nghiên cứu được tác giả xác định cụ thể như sau:
- Mục tiêu chung: Đánh giá thực trạng phát sinh và xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.
- Mục tiêu cụ thể:
- Mục tiêu 1: Đánh giá lượng phát sinh và đặc trưng CTRSH trên địa bàn huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.
- Mục tiêu 2: Đánh giá công tác quản lý trong giai đoạn thu gom, vận chuyển CTRSH.
- Mục tiêu 3: Nghiên cứu phương thức phân loại, mạng lưới thu gom chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.
- Mục tiêu 4: Tìm hiểu công nghệ xử lý CTRSH và đề xuất công nghệ xử lý đạt hiệu quả, phù hợp với địa bàn nghiên cứu.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh từ các hộ gia đình và hoạt động dịch vụ dân sinh.
- Phạm vi không gian: Huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh; khảo sát thực địa chuyên sâu tại 4 địa bàn đại diện gồm: xã Cẩm Hà, xã Cẩm Hưng, xã Cẩm Lạc và thị trấn Cẩm Xuyên.
- Phạm vi thời gian: Đề tài tiến hành thu thập số liệu và quan trắc thực địa từ tháng 1/2021 đến tháng 7/2021.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận thiết lập hệ thống cơ sở lý luận dựa trên các quy chuẩn môi trường quốc gia và khung pháp lý hiện hành tại thời điểm nghiên cứu:
- Luật Bảo vệ môi trường ngày 23/6/2014, trọng tâm là Điều 82 (Chương VIII) về nghĩa vụ của hộ gia đình trong việc giảm thiểu, phân loại tại nguồn, nộp phí dịch vụ thu gom và bảo đảm vệ sinh môi trường nông thôn.
- Các nghị định của Chính phủ: Nghị định số 38/2015/NĐ-CP về quản lý chất thải và phế liệu; Nghị định số 40/2019/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ môi trường.
- Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050 theo Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 07/5/2018 của Thủ tướng Chính phủ.
- Tiêu chuẩn kỹ thuật áp dụng: TCVN 6705:2009 (Chất thải rắn thông thường - Phân loại); TCVN 6696-2000 (Chất thải rắn - Bãi chôn lấp hợp vệ sinh - Tiêu chuẩn thiết kế); TCVN 9461:2012/BTNMT về quy trình lấy mẫu phân tích rác thải hữu cơ.
- Các văn bản chỉ đạo của địa phương: Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh lần thứ XIX; Nghị quyết 05/NQ-TU ngày 08/12/2017 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hà Tĩnh; Quyết định số 33/2017/QĐ-UBND quy định giá tối đa dịch vụ thu gom, vận chuyển, xử lý rác sinh hoạt; Quyết định số 418/QĐ-UBND về quy hoạch quản lý CTR đô thị tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2020, định hướng đến năm 2030; Kế hoạch 122/KH-UBND và Kế hoạch 265/KH-UBND của UBND tỉnh Hà Tĩnh.
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và điều tra xã hội học được kết hợp đồng bộ:
- Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp: Tiếp nhận báo cáo quản lý chất thải, số liệu thống kê dân số, điều kiện kinh tế - xã hội từ UBND huyện Cẩm Xuyên, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Cẩm Xuyên và Chi cục Bảo vệ Môi trường (Sở TN&MT tỉnh Hà Tĩnh).
- Phương pháp điều tra, phỏng vấn xã hội học: Thiết kế phiếu điều tra phỏng vấn bán cấu trúc gồm 2 cán bộ chuyên trách tại Phòng TN&MT huyện Cẩm Xuyên và 120 hộ gia đình sinh sống trên 4 địa bàn: xã Cẩm Hà (30 hộ), xã Cẩm Hưng (40 hộ: gồm 30 hộ đồng bằng và 10 hộ khu vực ven đồi núi), xã Cẩm Lạc (40 hộ), thị trấn Cẩm Xuyên (50 hộ: phân bổ 20 hộ khu vực đông dân cư, 20 hộ khu ít dân cư, 10 hộ gần chợ trung tâm có kết hợp kinh doanh thương mại dịch vụ).
- Phương pháp lấy mẫu và cân đo khối lượng thực tế: Chọn ngẫu nhiên 40 hộ gia đình (10 hộ/xã tại Cẩm Hà, Cẩm Hưng, Cẩm Lạc; riêng thị trấn Cẩm Xuyên chọn 10 hộ thuộc 2 tổ dân phố đại diện). Phát túi nilon thu gom toàn bộ CTR phát sinh trong chu kỳ 24 giờ của các hộ, tiến hành cân trực tiếp vào 17 giờ hàng ngày liên tục trong vòng 1 tuần trước khi phương tiện thu gom tiếp cận.
- Phương pháp xác định thành phần cơ học: Mẫu CTRSH sau khi thu thập được gom thành đống lớn trộn đều, cân lấy mẫu ban đầu 10 kg. Áp dụng phương pháp chia bốn liên tiếp 2 lần để rút mẫu đại diện xuống 2,5 kg. Mẫu cuối cùng được phân loại thủ công tại hiện trường thành các hợp phần: thực phẩm thừa, rác vườn, giấy, nhựa, vải sợi, gỗ, da và cao su, kim loại, thủy tinh, sành sứ và tạp chất khác theo TCVN 9461:2012/BTNMT và đưa về phân tích tại phòng thí nghiệm Bộ môn Công nghệ Môi trường - Học viện Nông nghiệp Việt Nam.
- Phương pháp dự báo toán học: Sử dụng công thức Euler cải tiến để tính toán dân số tương lai: $N_t = N_0 \times (1 + r/100)^t$ (với $N_t$ là dân số năm dự báo, $N_0$ là dân số gốc, $r$ là tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên, $t$ là số năm dự báo), từ đó tính toán dự báo lượng CTRSH phát sinh đến các mốc thời gian.
- Phương pháp phân tích ma trận SWOT: Đánh giá điểm mạnh (Strengths), điểm yếu (Weaknesses), cơ hội (Opportunities) và thách thức (Threats) trong mạng lưới quản lý rác thải nội huyện và liên huyện.
- Xử lý số liệu: Sử dụng phần mềm Microsoft Excel để xử lý thống kê mô tả, lập biểu đồ tương quan và chạy kiểm định T-Test so sánh mức độ sai khác có ý nghĩa thống kê giữa các vùng nghiên cứu.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý chất thải rắn sinh hoạt. Tác giả trình bày các khái niệm về nguồn gốc phát sinh (từ hộ gia đình, cơ quan, khu công cộng, hoạt động nông nghiệp, xây dựng), tính chất vật lý (khối lượng riêng dao động từ 180 đến 400 kg/m³, độ ẩm), tính chất hóa học (hàm lượng carbon cố định dao động 5-12%, độ ẩm, chất bốc, nhiệt trị) và tính chất phân hủy sinh học của các hợp phần hữu cơ. Về mặt pháp lý, chương này tổng thuật toàn diện các quy định của Luật Bảo vệ môi trường 2014, Nghị định 38/2015/NĐ-CP, Nghị định 40/2019/NĐ-CP và các văn bản chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh Hà Tĩnh.
Về thực trạng quản lý CTRSH trên thế giới, tác giả trích dẫn thống kê từ Ngân hàng Thế giới (năm 2016 toàn cầu tạo ra 2,01 tỷ tấn CTR, tương đương 0,74 kg/người/ngày; dự kiến tăng lên 3,40 tỷ tấn vào năm 2050). Tỷ lệ chất thải xử lý qua bãi rác chiếm khoảng 37% (chỉ 8% là bãi chôn lấp hợp vệ sinh), tái chế và ủ phân compost chiếm 19%, thiêu đốt chiếm 11%. Tại Việt Nam, chương 1 phản ánh lượng phát thải nông thôn trung bình 0,33 kg/người/ngày (Đồng bằng sông Hồng và Cửu Long đạt 0,4 kg/người/ngày, vùng núi phía Bắc khoảng 0,2 kg/người/ngày).
Riêng tại tỉnh Hà Tĩnh năm 2020, tổng lượng phát thải là 242.635 tấn; lượng rác thu gom, vận chuyển đạt 474 tấn/ngày nhưng chỉ có 389 tấn/ngày được xử lý tại các khu xử lý đúng quy định; toàn tỉnh có 78.638 hộ dân/746.034 hộ thực hiện phân loại rác tại nguồn (đạt tỷ lệ 10,5%), giúp giảm 15,2% lượng rác cần vận chuyển đi xử lý tập trung. Chương 1 cũng phân tích ưu - nhược điểm của 3 công nghệ xử lý cơ bản: chôn lấp hợp vệ sinh theo TCVN 6696-2000, ủ sinh học làm phân compost và thiêu đốt rác thải sinh hoạt thu hồi nhiệt.
Chương 2: Đối tượng, phạm vi, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương này chuẩn hóa thiết kế nghiên cứu của khóa luận. Tác giả chi tiết hóa đối tượng nghiên cứu là CTRSH trên địa bàn huyện Cẩm Xuyên trong thời gian từ tháng 1/2021 đến tháng 7/2021. Nội dung nghiên cứu được chia làm 5 phần: (1) Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Cẩm Xuyên; (2) Thực trạng phát sinh và phân loại CTRSH hộ gia đình; (3) Công tác thu gom, vận chuyển; (4) Thực trạng xử lý CTRSH; (5) Đề xuất giải pháp kỹ thuật và quản lý.
Quy trình nghiên cứu thực nghiệm được mô tả chi tiết: từ thu thập tài liệu thứ cấp tại các cơ quan quản lý đến quy trình điều tra xã hội học bằng 120 phiếu khảo sát và quy trình lấy mẫu cân trực tiếp 40 hộ dân trong 7 ngày liên tục. Phương pháp chia bốn đồng nhất mẫu được mô tả chính xác (từ 10 kg rút xuống 2,5 kg để phân loại thủ công). Đồng thời, chương 2 thiết lập khung công thức dự báo Euler và quy trình phân tích ma trận SWOT để làm căn cứ luận giải cho các đề xuất ở chương sau.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 3 trình bày các kết quả quan trắc và điều tra thực tế tại huyện Cẩm Xuyên:
- Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội: Huyện Cẩm Xuyên có diện tích tự nhiên 63.647 ha (đất nông nghiệp chiếm 77,04%), dân số gần 15 vạn người, gồm 23 đơn vị hành chính (21 xã và 2 thị trấn). Địa bàn phân chia thành 3 vùng sinh thái rõ rệt: bán sơn địa, đồng bằng và ven biển. Khảo sát 120 hộ gia đình cho thấy cơ cấu nghề nghiệp chủ đạo gồm 42,5% hộ nông nghiệp, 39,17% hộ thương mại - dịch vụ, 7,5% công nhân viên chức và 10,83% ngành nghề khác. Về thu nhập, 50% số hộ có thu nhập trên 3 triệu đồng/tháng, 32,5% đạt 1-3 triệu đồng/tháng và 17,5% dưới 1 triệu đồng/tháng.
- Hệ số phát sinh chất thải: Số liệu cân đo thực tế tại 40 hộ gia đình thuộc 4 địa bàn nghiên cứu cho thấy hệ số phát sinh dao động từ 0,32 đến 0,47 kg/người/ngày (bình quân toàn huyện từ 0,3 đến 0,5 kg/người/ngày).
Bảng tổng hợp khối lượng phát sinh CTRSH tại các địa bàn khảo sát:
| Khu vực khảo sát |
Đặc điểm sinh thái / kinh tế |
Hệ số phát sinh (kg/người/ngày) |
Dân số khu vực (người) |
Tổng lượng phát thải (kg/ngày) |
| Thị trấn Cẩm Xuyên |
Đô thị trung tâm, chợ thương mại |
0,47 |
8.460 |
3.976 |
| Xã Cẩm Lạc |
Nông thôn đồng bằng thuần nông |
0,40 |
7.133 |
2.853 |
| Xã Cẩm Hưng |
Bán sơn địa (đồng bằng và đồi núi) |
0,38 |
5.847 |
2.221 |
| Xã Cẩm Hà |
Nông thôn đồng bằng |
0,32 (giải trình: 0,35) |
5.643 |
1.805 (giải trình: 1.940) |
| Tổng cộng 4 xã/thị trấn |
- |
- |
27.083 |
10.855 |
(Ghi chú: Số liệu tổng hợp từ Bảng 3.2 và Bản giải trình chỉnh sửa luận văn của tác giả).
Tác giả giải thích mức phát thải tại 3 xã nông thôn ở mức trung bình và thấp so với mặt bằng chung cả nước do đặc thù nhân khẩu học: thanh niên trong độ tuổi lao động phần lớn đi làm ăn xa hoặc đi học đại học, lực lượng sinh sống thường xuyên tại địa phương chủ yếu là người già và trẻ em. Thị trấn Cẩm Xuyên có hệ số phát thải cao nhất (0,47 kg/người/ngày) do tập trung chợ lớn, dịch vụ thương mại và các hộ kết hợp nhà ở với buôn bán mặt hàng tiêu dùng.
- Đặc trưng thành phần rác thải: Hợp phần rác hữu cơ dễ phân hủy sinh học (thức ăn thừa, rau củ quả, rác làm vườn) chiếm tỷ trọng áp đảo, lên tới 62% tổng khối lượng CTRSH. Nhóm có thể tái chế gồm nhựa và giấy chiếm tỷ lệ nhỏ hơn; phần còn lại là tro xỉ, dệt may, cao su, kim loại và sành sứ.
- Mạng lưới thu gom và phân loại tại nguồn: Trên 70% hộ gia đình được điều tra đã tham gia phân loại rác tại nguồn dưới sự hướng dẫn của chính quyền để thực hiện Tiêu chí 17 nông thôn mới. Công tác thu gom do các Hợp tác xã (HTX) Môi trường đảm nhận.
- Đánh giá hiện trạng xử lý và bất cập hạ tầng:
- Cơ sở xử lý tập trung: Toàn bộ rác thải thu gom của huyện được vận chuyển về Nhà máy xử lý rác Cẩm Quan (xã Cẩm Quan). Nhà máy tiếp nhận khoảng 130 tấn/ngày bằng công nghệ đốt, nhưng công suất thiết kế không đáp ứng đủ khối lượng rác gia tăng, dẫn đến quá tải nghiêm trọng.
- Điểm trung chuyển và bãi rác tự phát: Huyện Cẩm Xuyên vẫn còn 10 xã chưa xây dựng được bãi trung chuyển rác thải đạt chuẩn, dẫn đến tình trạng xả rác bừa bãi ven đê, đường giao thông, sông ngòi và kênh mương thủy lợi. Tại các bãi rác tự phát, rác không được xử lý định kỳ mà chủ yếu để người dân đốt thủ công khi khối lượng quá nhiều, phát sinh khói bụi và mùi hôi.
- Hoạt động của các HTX Môi trường: Hoạt động đơn lĩnh vực, không có nguồn thu phụ trợ; phương tiện thu gom thiếu thốn, cũ kỹ, không phù hợp giao thông nông thôn; chưa bảo đảm trang thiết bị văn phòng (máy tính, máy in); thiếu trụ sở làm việc (chủ yếu nhờ nhà riêng Giám đốc HTX hoặc văn phòng Hội Phụ nữ xã); người lao động chưa được đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế. Nguồn thu phí vệ sinh từ hộ dân không bù đắp nổi chi phí vận chuyển, trong khi ngân sách cấp xã chưa bố trí đủ kinh phí trợ giá.
Kết quả và đóng góp
Kết quả định lượng cụ thể của nghiên cứu:
- Đo đạc chính xác hệ số phát sinh CTRSH tại địa bàn huyện Cẩm Xuyên dao động trong khoảng 0,30 - 0,50 kg/người/ngày; xác lập mức phát sinh cụ thể: Thị trấn Cẩm Xuyên (0,47 kg/người/ngày), xã Cẩm Lạc (0,40 kg/người/ngày), xã Cẩm Hưng (0,38 kg/người/ngày), xã Cẩm Hà (0,32 - 0,35 kg/người/ngày). Tổng lượng phát sinh tại 4 địa bàn điều tra đạt 10.855 kg/ngày.
- Phân tích cấu trúc thành phần rác thải nông thôn huyện Cẩm Xuyên với chất hữu cơ dễ phân hủy sinh học (thức ăn thừa, rác vườn) chiếm tỷ trọng chi phối 62%.
- Nhận diện trên 70% hộ dân khảo sát đã thực hiện phân loại rác tại nguồn, đồng thời chỉ ra điểm nghẽn hạ tầng: 10 xã chưa có bãi trung chuyển và Nhà máy rác Cẩm Quan bị quá tải ở mức tiếp nhận 130 tấn/ngày.
Giải pháp và kiến nghị đề xuất từ tác giả:
- Kiến nghị đầu tư xây dựng 01 nhà máy điện rác tập trung với công nghệ hiện đại, công suất quy hoạch khoảng 500 tấn/ngày nhằm xử lý rác thải liên huyện cho khu vực phía Bắc tỉnh Hà Tĩnh; trong đó phân kỳ giai đoạn I có công suất tối thiểu 300 tấn/ngày, đưa vào vận hành từ năm 2025.
- Hoàn thiện quy hoạch mạng lưới các điểm trung chuyển đạt chuẩn kỹ thuật môi trường cho 10 xã còn lại; thay thế phương tiện thu gom thủ công bằng xe chuyên dụng phù hợp mạng lưới đường liên thôn, liên xã.
- Củng cố năng lực HTX Môi trường: hoàn thiện cơ chế tài chính bù đắp chi phí vận chuyển từ ngân sách cấp xã, mở rộng ngành nghề hoạt động để tăng thu nhập, trang bị phương tiện làm việc và thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người lao động.
- Mở rộng mô hình phân loại rác tại nguồn kết hợp cấp phát thùng rác phân loại miễn phí và triển khai kỹ thuật ủ rác hữu cơ thành phân vi sinh (compost) tại quy mô hộ gia đình nhằm tận dụng 62% lượng rác hữu cơ phục vụ canh tác nông nghiệp.
Đóng góp khoa học và thực tiễn tự nêu của tác giả:
- Khóa luận tiến hành đo đạc thực tế ngay trong giai đoạn then chốt khi huyện Cẩm Xuyên đang phấn đấu đạt chuẩn huyện nông thôn mới và nông thôn mới kiểu mẫu.
- Khác biệt so với các đề tài trước đó: nghiên cứu đã ứng dụng phương pháp cân mẫu trực tiếp 24 giờ liên tục trong 7 ngày tại các vùng địa hình đặc thù, chuẩn hóa mẫu bằng phương pháp chia bốn và áp dụng kiểm định thống kê T-Test để xác nhận mức độ sai khác có ý nghĩa khoa học về phát thải giữa các cụm dân cư.
- Đề xuất mô hình tích hợp: kết hợp giải pháp công nghệ vĩ mô (nhà máy điện rác liên huyện 500 tấn/ngày) với các giải pháp quản lý vi mô (mô hình ủ rác hữu cơ tại hộ gia đình nông thôn).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của khóa luận:
- Phạm vi quan trắc thực nghiệm mới chỉ bao phủ 40 hộ gia đình thuộc 3 xã và 1 thị trấn đại diện (Cẩm Hà, Cẩm Hưng, Cẩm Lạc, TT. Cẩm Xuyên) trên tổng số 23 đơn vị hành chính của toàn huyện Cẩm Xuyên.
- Thời gian khảo sát và lấy mẫu tập trung trong chu kỳ ngắn (từ tháng 1/2021 đến tháng 7/2021), chưa phản ánh đầy đủ sự biến thiên tải lượng và thành phần CTRSH theo chu kỳ 4 mùa trong năm hoặc vào các dịp lễ tết đặc biệt.
- Phương pháp phân tích thành phần chủ yếu là phân loại cơ học thủ công tại hiện trường; các chỉ tiêu phân tích hóa lý chuyên sâu trong phòng thí nghiệm chưa được triển khai đồng đều cho toàn bộ các dạng chất thải đặc thù.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng quy mô điều tra và lấy mẫu trên toàn bộ các xã thuộc vùng ven biển (như khu du lịch Thiên Cầm, Cẩm Lĩnh, Cẩm Dương) để đánh giá tác động của hoạt động du lịch biển đến dòng thải CTRSH.
- Thực hiện quan trắc động thái phát thải theo các mùa trong năm nhằm hiệu chỉnh công thức dự báo và tối ưu hóa biểu đồ vận hành của các tuyến xe thu gom.
- Nghiên cứu sâu hơn về tính chất nhiệt trị và tỷ lệ phát thải khí của CTRSH Cẩm Xuyên nhằm cung cấp thông số kỹ thuật đầu vào phục vụ thiết kế lò đốt của dự án nhà máy điện rác liên huyện.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo cho:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Môi trường, Quản lý Tài nguyên và Kỹ thuật Môi trường khi thực hiện các đồ án, khóa luận tốt nghiệp về rác thải sinh hoạt nông thôn.
- Cán bộ kỹ thuật và quản lý môi trường tại các phòng ban chuyên môn cấp huyện, chi cục bảo vệ môi trường cấp tỉnh khi xây dựng đề án quản lý chất thải rắn phục vụ Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM.
- Phần đáng tham khảo nhất trong công trình là quy trình lấy mẫu chia bốn và các bảng số liệu cân đo khối lượng thực tế (Bảng 3.2), ma trận SWOT phân tích năng lực tổ chức của các HTX Môi trường nông thôn, cùng mô hình tính toán dự báo lượng rác bằng công thức Euler cải tiến.
Câu hỏi thường gặp
1. Khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh bình quân đầu người tại huyện Cẩm Xuyên là bao nhiêu?
Hệ số phát sinh CTRSH bình quân dao động từ 0,30 đến 0,50 kg/người/ngày. Trong đó, cao nhất là thị trấn Cẩm Xuyên với 0,47 kg/người/ngày (tổng lượng 3.976 kg/ngày trên 8.460 dân), tiếp theo là xã Cẩm Lạc đạt 0,40 kg/người/ngày (2.853 kg/ngày trên 7.133 dân), xã Cẩm Hưng đạt 0,38 kg/người/ngày (2.221 kg/ngày trên 5.847 dân) và xã Cẩm Hà đạt 0,32 - 0,35 kg/người/ngày (1.805 - 1.940 kg/ngày trên 5.643 dân).
2. Thành phần đặc trưng của CTRSH tại địa bàn nghiên cứu gồm những gì?
Rác hữu cơ dễ phân hủy (gồm thức ăn thừa, phụ phẩm rau quả và rác làm vườn) chiếm tỷ trọng vượt trội lên tới 62% tổng khối lượng CTRSH. Phần còn lại gồm các vật liệu có thể tái chế (nhựa, giấy, kim loại) và các tạp chất trơ (tro xỉ, vải vụn, da, cao su, sành sứ, thủy tinh).
3. Đơn vị nào đảm nhiệm công tác thu gom CTRSH và đang gặp phải những khó khăn gì?
Công tác thu gom do các Hợp tác xã Môi trường phụ trách. Các khó khăn chính gồm: phương tiện thiếu thốn, cũ kỹ, không hợp chuẩn; thiếu thiết bị văn phòng (máy tính, máy in); thiếu trụ sở (hoạt động tại nhà riêng Giám đốc HTX hoặc phòng mượn của Hội Phụ nữ); người lao động chưa được cấp thẻ bảo hiểm y tế và bảo hiểm xã hội; nguồn kinh phí thu từ giá dịch vụ không đủ bù cước vận chuyển, trong khi ngân sách xã chưa cân đối bù đắp kinh phí hỗ trợ.
4. Năng lực xử lý chất thải hiện tại của huyện Cẩm Xuyên ra sao và còn tồn tại điểm nghẽn nào?
Toàn bộ rác thu gom được đưa về Nhà máy rác xã Cẩm Quan xử lý bằng phương pháp đốt với tải lượng tiếp nhận khoảng 130 tấn/ngày, nhưng nhà máy đang bị quá tải công suất. Toàn huyện vẫn còn 10 xã chưa có bãi trung chuyển rác thải, làm phát sinh nhiều điểm đổ rác tự phát gây ô nhiễm ven đường giao thông, sông ngòi và công trình thủy lợi.
5. Tác giả đề xuất giải pháp kỹ thuật công nghệ nào để giải quyết triệt để rác thải sinh hoạt?
Tác giả đề xuất quy hoạch và đầu tư xây dựng 01 nhà máy điện rác tập trung công nghệ hiện đại quy mô liên huyện phía Bắc tỉnh Hà Tĩnh với công suất 500 tấn/ngày (giai đoạn I công suất tối thiểu 300 tấn/ngày, đưa vào vận hành từ năm 2025), kết hợp chương trình phân loại tại nguồn và ủ rác hữu cơ làm phân compost tại quy mô hộ gia đình.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Lương đã phản ánh toàn diện thực trạng phát sinh, mạng lưới thu gom và năng lực xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh năm 2021. Bằng phương pháp cân đo thực nghiệm và điều tra xã hội học, nghiên cứu đã xác lập hệ số phát thải từ 0,30 đến 0,50 kg/người/ngày và chỉ ra thành phần rác hữu cơ chiếm tỷ trọng ưu thế 62%. Nghiên cứu đã làm rõ những bất cập về hạ tầng tại 10 xã thiếu trạm trung chuyển, tình trạng quá tải của Nhà máy rác Cẩm Quan và những khó khăn trong vận hành của các Hợp tác xã Môi trường. Các giải pháp đề xuất về quy hoạch nhà máy điện rác liên huyện 500 tấn/ngày cùng mô hình ủ compost hộ gia đình cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn phục vụ quản lý môi trường nông thôn hướng tới mục tiêu đạt chuẩn nông thôn mới bền vững.