Tổng quan nghiên cứu

Khu vực phía Nam tỉnh Thái Nguyên đóng vai trò là cửa ngõ kết nối kinh tế trọng điểm giữa vùng trung du miền núi phía Bắc với vùng đồng bằng Bắc Bộ. Toàn tỉnh sở hữu nguồn tài nguyên nước mặt phong phú ước tính khoảng 3 đến 4 tỷ m3 cùng tiềm năng nước dưới đất dao động từ 1,5 đến 2 tỷ m3. Tuy nhiên, cùng với tốc độ phát triển công nghiệp hóa vượt bậc tại thị xã Phổ Yên và huyện Phú Bình với diện tích tự nhiên trên 506 km2 cùng dân số hơn 285.000 người, nguồn tài nguyên nước đang phải đối mặt với áp lực ô nhiễm và suy thoái nghiêm trọng. Nguồn nước sông Cầu ghi nhận hàm lượng chất ô nhiễm hữu cơ và amoni vượt chuẩn nhiều lần với BOD5 vượt từ 1,08 đến 9,5 lần và NH4+ vượt từ 1,34 đến 20 lần quy chuẩn môi trường.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn tập trung vào việc đánh giá hiện trạng chất lượng, trữ lượng và động thái khai thác tài nguyên nước dưới đất tại thị xã Phổ Yên và huyện Phú Bình, từ đó xây dựng cơ sở khoa học cho công tác quy hoạch bền vững. Mục tiêu cụ thể gồm: khảo sát thực trạng khai thác sử dụng nước của cộng đồng và doanh nghiệp; phân tích diễn biến chất lượng nước theo quy chuẩn QCVN 09-MT:2015/BTNMT; và đề xuất hệ thống giải pháp quản lý tài nguyên nước ngầm đồng bộ.

Nghiên cứu được triển khai trên không gian 18 đơn vị hành chính thị xã Phổ Yên và 21 xã, thị trấn huyện Phú Bình trong khung thời gian từ tháng 07/2016 đến tháng 07/2017. Về mặt ý nghĩa thực tiễn, đề tài cung cấp luận cứ định lượng chính xác để quản lý ngưỡng khai thác an toàn trong tổng trữ lượng tiềm năng 123.717 m3/ngày, giúp ngăn ngừa suy giảm mực nước ngầm và bảo vệ sức khỏe cho hàng trăm nghìn người dân địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết địa chất thủy văn về chu trình vận động của nước dưới đất trong các cấu trúc trầm tích bở rời và tầng đá nứt nẻ, kết hợp lý thuyết quản lý tổng hợp tài nguyên nước (IWRM) nhằm bảo đảm cân bằng giữa nhu cầu phát triển kinh tế với khả năng tự phục hồi của hệ thống thủy văn. Mô hình nghiên cứu phân tích mối quan hệ tương tác giữa ba trụ cột: áp lực nhân sinh (hoạt động khai thác công nghiệp, xả thải, sản xuất nông nghiệp), biến động trạng thái môi trường (mực nước, nhiệt độ, chỉ tiêu hóa lý) và phản ứng quản lý nhà nước.

Nghiên cứu chuẩn hóa và áp dụng 4 khái niệm nền tảng theo Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13 và Luật Bảo vệ Môi trường số 55/2014/QH13:

  • Nước dưới đất: nguồn nước tồn tại trong các tầng chứa nước dưới lòng đất.
  • Tầng chứa nước: tập hợp các lớp đất đá có khả năng chứa và truyền dẫn nước trọng lực.
  • Ngưỡng khai thác nước dưới đất: giới hạn thể tích cho phép khai thác nhằm chống suy thoái, sụt lún và cạn kiệt tầng chứa.
  • Ô nhiễm và suy thoái nguồn nước: sự biến đổi các đặc tính lý học, hóa học và sinh học của nước vượt ngưỡng quy chuẩn kỹ thuật cho phép.

Phương pháp nghiên cứu

Dữ liệu nghiên cứu được tích hợp chặt chẽ từ hai nguồn chính:

  • Nguồn dữ liệu thứ cấp: chuỗi số liệu quan trắc mực nước và nhiệt độ liên tục trong năm 2016 tại 13 lỗ khoan quan trắc chuyên dụng do Trung tâm Quan trắc Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thái Nguyên quản lý; các báo cáo địa chất tỷ lệ 1:200.000 và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội địa phương.
  • Nguồn dữ liệu sơ cấp: tiến hành điều tra xã hội học với cỡ mẫu 100 phiếu khảo sát thông qua phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên, gồm 10 phiếu dành cho các cơ quan quản lý nhà nước (Sở Tài nguyên và Môi trường, Phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện, UBND 6 xã trọng điểm) và 90 phiếu dành cho các tổ chức, hộ gia đình trực tiếp khai thác sử dụng nước.

Nghiên cứu lựa chọn 6 điểm quan trắc đại diện (ký hiệu từ NN1 đến NN6) trên các tầng chứa nước chính (tầng bở rời Đệ tứ Q, tầng nứt nẻ Tam Đảo T21tđ và tầng Mẫu Sơn T3cms) để lấy mẫu nước trong 2 chu kỳ: mùa khô (tháng 11/2016) và mùa mưa (tháng 05/2017). Quy trình lấy mẫu, bảo quản và vận chuyển tuân thủ nghiêm ngặt tiêu chuẩn TCVN 6663-11:2011 và quy định QA/QC theo Thông tư số 21/2012/TT-BTNMT. Việc lựa chọn phương pháp phân tích phòng thí nghiệm chuẩn quốc gia (AAS, cực phổ, đo quang phổ DR/6000) đối với 20 thông số lý hóa và vi sinh nhằm bảo đảm tính khách quan, độ chính xác cao và khả năng đối sánh trực tiếp với QCVN 09-MT:2015/BTNMT.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả tính toán trữ lượng và đánh giá thực trạng tài nguyên nước dưới đất tại khu vực nghiên cứu thể hiện qua các phát hiện khoa học cụ thể:

  1. Trữ lượng tiềm năng và khả năng khai thác: Tổng trữ lượng nước dưới đất tiềm năng của khu vực phía Nam tỉnh Thái Nguyên đạt 123.717 m3/ngày. Trong đó, vùng Ba Hàng - Yên Bình - Nam Phổ Yên chiếm tỷ trọng cao nhất với 42.724 m3/ngày (khoảng 34,5%), tiếp đến là vùng Tây Phổ Yên với 44.744 m3/ngày (khoảng 36,2%) và vùng Sông Công - Điềm Thụy đạt 36.249 m3/ngày (khoảng 29,3%). Trữ lượng khai thác dự báo an toàn của các công trình đạt 37.693 m3/ngày, trong đó riêng vùng Ba Hàng - Yên Bình chiếm tới 57,1% (đạt 21.510 m3/ngày).
  2. Biến động động thái mực nước ngầm: Mực nước dưới đất tại 13 lỗ khoan quan trắc có sự dao động rõ nét theo mùa với biên độ hạ thấp trung bình từ 1,5 m đến 3,2 m vào các tháng mùa khô (tháng 11 đến tháng 3). Tầng chứa nước Đệ tứ bở rời có mức độ liên thông thủy lực mạnh với nước mặt, trong khi các tầng chứa nước khe nứt Mẫu Sơn và Tam Đảo phản ánh tốc độ bổ cập chậm hơn.
  3. Chất lượng nước và ô nhiễm cục bộ: Phân tích 20 chỉ tiêu hóa lý và vi sinh tại 6 trạm quan trắc đại diện cho thấy chất lượng nước ngầm nhìn chung còn trong lành nhưng đã xuất hiện dấu hiệu ô nhiễm cục bộ. Hàm lượng Sắt tổng số (Fe) tại một số giếng khoan dao động từ 1,2 đến 5,8 mg/l, vượt giới hạn cho phép của QCVN 09-MT:2015/BTNMT (5,0 mg/l) tại các vị trí tiếp giáp đới đất trũng. Giá trị pH có xu hướng thấp ở vùng trung du (dao động từ 5,2 đến 6,4). Đặc biệt, chỉ tiêu vi sinh Coliform trong các giếng đào nông tại khu dân cư vượt giới hạn chuẩn trên 35% tổng số mẫu do thiếu đới phòng hộ vệ sinh.
  4. Hiện trạng khai thác phân tán và thiếu kiểm soát: Kết quả điều tra 100 phiếu khảo sát chỉ ra rằng hơn 80% hộ gia đình nông thôn tự khoan giếng khai thác nước ngầm tầng nông phục vụ sinh hoạt và tưới tiêu nông nghiệp, trong đó 90% công trình không có hệ thống lắng lọc đạt chuẩn kỹ thuật.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến tình trạng ô nhiễm Sắt và giảm pH bắt nguồn từ cấu trúc địa chất tự nhiên của hệ tầng Hà Cối và Nà Khuất chứa nhiều khoáng vật sulfide kim loại dễ bị phong hóa hòa tan. Bên cạnh đó, áp lực từ các khu công nghiệp tập trung như Điềm Thụy, Yên Bình cùng các hoạt động chế biến cơ khí, luyện kim và khai thác khoáng sản làm gia tăng nguy cơ rò rỉ nước thải công nghiệp chứa kim loại nặng vào lòng đất. So với các công trình nghiên cứu trước đây tại lưu vực sông Hồng của các chuyên gia địa chất thủy văn, tài nguyên nước dưới đất vùng Nam Thái Nguyên có mô đun dòng ngầm phong phú hơn (đạt 300 đến 450 m3/ngày/km2), song độ nhạy cảm trước nguy cơ ô nhiễm tầng mặt là rất cao.

Các dữ liệu quan trắc mực nước trung bình ngày, giá trị cực đại và cực tiểu trong năm 2016 tại 13 lỗ khoan (QH1 đến QH8, QH10, TN1 đến TN4) được tổng hợp thành hệ thống bảng biểu định lượng và đồ thị đường biểu diễn trực quan. Qua biểu đồ diễn biến mực nước theo thời gian, mối liên hệ tương hỗ giữa lượng mưa khu vực (trung bình 2.500 mm/năm) và biên độ hồi phục của gương nước ngầm được thể hiện rõ rệt, chứng minh tính cấp thiết của việc bảo vệ vùng bổ cập tự nhiên.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm bảo vệ và khai thác bền vững nguồn tài nguyên nước dưới đất tại thị xã Phổ Yên và huyện Phú Bình, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:

  1. Hoàn thiện công tác quy hoạch và phân vùng khai thác: Thiết lập ngay bản đồ phân vùng cấm, vùng hạn chế xây dựng mới công trình khai thác nước dưới đất trên địa bàn thị xã Phổ Yên và huyện Phú Bình trước năm 2020. Khống chế tổng lưu lượng khai thác toàn vùng dưới ngưỡng dự báo an toàn 37.693 m3/ngày nhằm chống cạn kiệt tầng chứa. Cơ quan thực hiện: UBND tỉnh Thái Nguyên chủ trì, phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường.
  2. Nâng cấp và hiện đại hóa mạng lưới quan trắc tự động: Đầu tư chuyển đổi 13 lỗ khoan quan trắc hiện hữu sang chế độ đo truyền số liệu tự động liên tục về mực nước và nhiệt độ, đồng thời tăng tần suất lấy mẫu kiểm nghiệm định kỳ lên 4 đợt/năm trong giai đoạn 2018-2022. Cơ quan thực hiện: Trung tâm Quan trắc Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thái Nguyên.
  3. Tăng cường kiểm soát cấp phép và trám lấp giếng hỏng: Tổ chức tổng rà soát, tiến hành cấp phép khai thác cho 100% cơ sở sản xuất công nghiệp và dịch vụ quy mô trên 10 m3/ngày; thực hiện trám lấp kỹ thuật 100% các giếng khoan hư hỏng hoặc không còn sử dụng để triệt tiêu nguy cơ gây ô nhiễm thông tầng trong giai đoạn 2018-2025. Cơ quan thực hiện: Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã Phổ Yên, huyện Phú Bình và UBND các xã, phường liên quan.
  4. Áp dụng kỹ thuật xử lý nước hộ gia đình và giải pháp bổ sung nhân tạo: Xây dựng các mô hình lọc nước khử sắt, mangan và nâng pH chi phí thấp đạt tiêu chuẩn sinh hoạt cho các cụm dân cư nông thôn, đồng thời ứng dụng giải pháp thu gom nước mưa đưa vào lòng đất để bổ sung nhân tạo tầng chứa nước Đệ tứ trước năm 2025. Cơ quan thực hiện: Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn phối hợp cùng cộng đồng dân cư địa phương.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:

  1. Cán bộ quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường: Cung cấp cơ sở dữ liệu pháp lý và kỹ thuật phục vụ thẩm định hồ sơ cấp phép thăm dò, khai thác, thiết lập hành lang bảo vệ nguồn nước ngầm tại Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thái Nguyên cũng như các cơ quan chuyên môn cấp huyện.
  2. Kỹ sư địa chất thủy văn và chuyên gia tư vấn môi trường: Cung cấp thông số địa chất chi tiết, tọa độ mạng quan trắc VN-2000 và các chỉ số mô đun trữ lượng (300 đến 450 m3/ngày/km2) để ứng dụng vào thiết kế mạng lưới giếng khai thác công nghiệp và đánh giá tác động môi trường các dự án FDI.
  3. Ban quản lý các khu, cụm công nghiệp và doanh nghiệp sản xuất: Giúp các doanh nghiệp tại Khu công nghiệp Yên Bình, Điềm Thụy nắm rõ trữ lượng an toàn (vùng Ba Hàng - Yên Bình đạt 21.510 m3/ngày) và đặc tính hóa lý của nguồn nước ngầm để thiết kế dây chuyền xử lý nước cấp phục vụ chu trình sản xuất đạt hiệu quả kinh tế cao nhất.
  4. Giảng viên, học viên sau đại học và sinh viên ngành Môi trường: Đóng vai trò là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp kết hợp điều tra xã hội học (100 phiếu) với quan trắc thực địa 2 mùa đối sánh QCVN 09-MT:2015/BTNMT trong các công trình nghiên cứu quản lý môi trường nước.

Câu hỏi thường gặp

  1. Trữ lượng khai thác tiềm năng của tài nguyên nước dưới đất tại khu vực nghiên cứu là bao nhiêu? Tổng trữ lượng nước dưới đất tiềm năng tại khu vực phía Nam tỉnh Thái Nguyên được xác định là 123.717 m3/ngày. Trong đó, vùng Tây Phổ Yên đạt 44.744 m3/ngày, vùng Ba Hàng - Yên Bình - Nam Phổ Yên đạt 42.724 m3/ngày và vùng Sông Công - Điềm Thụy đạt 36.249 m3/ngày. Trữ lượng khai thác công trình dự báo an toàn toàn vùng là 37.693 m3/ngày.

  2. Chất lượng nước dưới đất tại thị xã Phổ Yên và huyện Phú Bình có đáp ứng tiêu chuẩn ăn uống trực tiếp không? Nước dưới đất tại khu vực chưa đáp ứng tiêu chuẩn ăn uống trực tiếp theo QCVN 01:2009/BYT do có độ pH thấp (5,2 đến 6,4), hàm lượng Sắt tại nhiều điểm vượt ngưỡng 5,0 mg/l và chỉ tiêu Coliform ở giếng đào nông vượt giới hạn cho phép. Nguồn nước bắt buộc phải qua hệ thống xử lý lọc khử phèn sắt, trung hòa axit và khử trùng trước khi sử dụng cho ăn uống.

  3. Mực nước dưới đất tại các lỗ khoan quan trắc biến đổi theo mùa như thế nào? Theo số liệu quan trắc năm 2016 tại 13 lỗ khoan chuyên dụng, mực nước dưới đất chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi chế độ mưa 2.500 mm/năm của vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa. Vào mùa khô (tháng 11 đến tháng 3), mực nước hạ thấp sâu từ 1,5 m đến hơn 3,0 m so với mùa mưa, đòi hỏi phải kiểm soát công suất khai thác nghiêm ngặt vào các tháng cao điểm khô hạn.

  4. Luận văn sử dụng những tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia nào để đánh giá chất lượng môi trường nước? Nghiên cứu áp dụng quy chuẩn cốt lõi QCVN 09-MT:2015/BTNMT về chất lượng nước dưới đất, kết hợp QCVN 08-MT:2015/BTNMT về chất lượng nước mặt để đánh giá tính liên thông thủy lực, đồng thời đối sánh với QCVN 01:2009/BYT và QCVN 02:2009/BYT về tiêu chuẩn nước ăn uống và sinh hoạt.

  5. Vì sao cần phải thực hiện trám lấp các giếng khoan không còn sử dụng? Các giếng khoan thăm dò hoặc khai thác bị hư hỏng, bỏ hoang nếu không được trám lấp đúng kỹ thuật theo quy định sẽ tạo thành các phễu thủy lực dẫn trực tiếp nước thải bề mặt bị ô nhiễm xuống các tầng chứa nước sâu (T3cms, T21tđ), gây ô nhiễm thông tầng vĩnh viễn và làm suy giảm nghiêm trọng chất lượng nguồn nước ngầm quý giá.

Kết luận

  • Đề tài đã đánh giá toàn diện tiềm năng tài nguyên nước dưới đất vùng Nam Thái Nguyên với trữ lượng tiềm năng 123.717 m3/ngày và trữ lượng khai thác an toàn dự báo 37.693 m3/ngày.
  • Phân tích chi tiết diễn biến chất lượng nước qua 20 thông số hóa lý, phát hiện nguy cơ ô nhiễm Sắt (1,2 đến 5,8 mg/l) và vi sinh cục bộ theo quy chuẩn QCVN 09-MT:2015/BTNMT.
  • Xác định quy luật động thái dao động mực nước ngầm theo mùa với biên độ chênh lệch 1,5 đến 3,2 m dựa trên chuỗi số liệu quan trắc thực nghiệm tại 13 lỗ khoan tiêu biểu.
  • Làm rõ bức tranh thực tế về công tác quản lý và nhu cầu khai thác phân tán của cộng đồng qua 100 phiếu điều tra khảo sát xã hội học.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp kỹ thuật và quản lý đồng bộ từ quy hoạch phân vùng cấm, nâng cấp quan trắc tự động đến kiểm soát cấp phép và công nghệ xử lý nước.

Luận văn đã đóng góp nguồn luận cứ khoa học tin cậy, hỗ trợ đắc lực cho các cấp chính quyền tỉnh Thái Nguyên trong việc thiết lập ranh giới bảo vệ nguồn nước ngầm và cấp phép khai thác đến năm 2025. Các cơ quan quản lý và doanh nghiệp tại địa phương cần nhanh chóng đưa các khuyến nghị quy hoạch của công trình vào thực tiễn quản lý nhằm hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế gắn kết bền vững với bảo vệ môi trường sinh thái.