Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Một số khái niệm cơ bản - Khái niệm Môi trường Theo Khoản 1, Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường 2014: Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2014) [27]. - Khái niệm thành phần môi trường Theo Khoản 2, Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường 2014: Thành phần môi trường là yếu tố vật chất tạo thành môi trường gồm đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật và các hình thái vật chất khác (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2014) [27].
- Khái niệm phát triển bền vững Theo Khoản 4, Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường 2014: Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2014) [27]. - Khái niệm ô nhiễm môi trường Theo Khoản 8, Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường 2014: Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2014) [27]. - Khái niệm suy thoái môi trường Theo Khoản 9, Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường 2014: Suy thoái môi trường là sự suy giảm về chất lượng và số lượng của thành phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2014) [27]. 5 - Khái niệm quan trắc môi trường Theo Khoản 20, Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường 2014: Quan trắc môi trường là quá trình theo dõi có hệ thống về thành phần môi trường, các yếu tố tác động lên môi trường nhằm cung cấp thông tin đánh giá hiện trạng, diễn biến chất lượng môi trường và các tác động xấu đối với môi trường (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2014) [27].
- Khái niệm tài nguyên nước Theo Khoản 1, Điều 2, Luật Tài nguyên nước 2012: Tài nguyên nước bao gồm nguồn nước mặt, NDĐ, nước mưa và nước biển thuộc lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2012) [26]. - Khái niệm nguồn nước Theo Khoản 2, Điều 2, Luật Tài nguyên nước 2012: Nguồn nước là các dạng tích tụ nước tự nhiên hoặc nhân tạo có thể khai thác, sử dụng bao gồm sông, suối, kênh, rạch, hồ, ao, đầm, phá, biển, các tầng chứa NDĐ; mưa, băng, tuyết và các dạng tích tụ nước khác (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2012) [26]. - Khái niệm nước mặt Theo Khoản 3, Điều 2, Luật Tài nguyên nước 2012: Nước mặt là nước tồn tại trên mặt đất liền hoặc hải đảo (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2012) [26]. - Khái niệm NDĐ Theo Khoản 4, Điều 2, Luật Tài nguyên nước 2012: NDĐ là nước tồn tại trong các tầng chứa NDĐ (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2012) [26].
- Khái niệm nước sinh hoạt Theo Khoản 11, Điều 2, Luật Tài nguyên nước 2012: Nước sinh hoạt là nước sạch hoặc nước có thể dùng cho ăn, uống, vệ sinh của con người (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2012) [26]. - Khái niệm nước sạch Theo Khoản 12, Điều 2, Luật Tài nguyên nước 2012: Nước sạch là nước có chất lượng đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật về nước sạch của Việt Nam (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2012) [26]. 6 - Khái niệm nguồn nước sinh hoạt Theo Khoản 13, Điều 2, Luật Tài nguyên nước 2012: Nguồn nước sinh hoạt là nguồn nước có thể cung cấp nước sinh hoạt hoặc có thể xử lý thành nước sinh hoạt (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2012) [26]. - Khái niệm ô nhiễm nguồn nước Theo Khoản 14, Điều 2, Luật Tài nguyên nước 2012: Ô nhiễm nguồn nước là sự biến đổi tính chất vật lý, tính chất hóa học và thành phần sinh học của nước không phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật cho phép, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2012) [26].
- Khái niệm suy thoái nguồn nước Theo Khoản 15, Điều 2, Luật Tài nguyên nước 2012: Suy thoái nguồn nước là sự suy giảm về số lượng, chất lượng nguồn nước so với trạng thái tự nhiên hoặc so với trạng thái của nguồn nước đã được quan trắc trong các thời kỳ trước đó (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2012) [26]. - Khái niệm cạn kiệt nguồn nước Theo Khoản 16, Điều 2, Luật Tài nguyên nước 2012: Cạn kiệt nguồn nước là sự suy giảm nghiêm trọng về số lượng của nguồn nước, làm cho nguồn nước không còn khả năng đáp ứng nhu cầu khai thác, sử dụng và duy trì hệ sinh thái thủy sinh (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2012) [26]. - Khái niệm ngưỡng khai thác NDĐ Theo Khoản 19, Điều 2, Luật Tài nguyên nước 2012: Ngưỡng khai thác NDĐ là giới hạn cho phép khai thác NDĐ nhằm bảo đảm không gây xâm nhập mặn, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước, sụt, lún đất, tác động xấu đến nguồn nước mặt và môi trường liên quan (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2012) [26]. Khái quát về NDĐ NDĐ là một dạng nước tích trữ trong các lớp đất đá trầm tích bở rời như cặn, sạn, cát, bột kết, trong các khe nứt, hang caxtơ dưới bề mặt trái đất, có thể khai thác cho các hoạt động sống của con người.
Đặc điểm chung của NDĐ là khả năng di chuyển nhanh trong các lớp đất xốp, tạo thành dòng chảy ngầm theo địa hình (Đoàn Văn Cánh, 2014) [6]. 7 Theo độ sâu phân bố, có thể chia NDĐ thành NDĐ tầng mặt và NDĐ tầng sâu. NDĐ tầng mặt thường không có lớp ngăn cách với địa hình bề mặt. Do vậy, thành phần và mực nước biến đổi nhiều, phụ thuộc vào trạng thái của nước mặt.
Loại NDĐ tầng mặt rất dễ bị ô nhiễm. NDĐ tầng sâu thường nằm trong lớp đất đá xốp được ngăn cách bên trên và phía dưới bởi các lớp không thấm nước. Theo không gian phân bố, một lớp NDĐ tầng sâu thường có 3 vùng chức năng: - Vùng thu nhận nước. - Vùng chuyển tải nước.
- Vùng khai thác nước có áp. Khoảng cách giữa vùng thu nhận và vùng khai thác nước thường khá xa, từ vài chục đến vài trăm km. Các lỗ khoan nước ở vùng khai thác thường có áp lực. Đây là loại NDĐ có chất lượng tốt và lưu lượng ổn định.
Trong các khu vực phát triển đá cacbonat thường tồn tại loại NDĐ caxtơ di chuyển theo các khe nứt caxtơ. Trong các dải cồn cát vùng ven biển thường có các thấu kính nước ngọt nằm trên mực nước biển. Một số đặc điểm và cấu trúc của nguồn NDĐ a. Đặc điểm - Đặc điểm thứ nhất: NDĐ tiếp xúc trực tiếp và hoàn toàn với đất và nham thạch.
NDĐ có thể là các màng mỏng bao phủ các phần tử nhỏ bé của đất, nham thạch; là chất lỏng được chứa đầy trong các ống mao dẫn nhỏ bé giữa các hạt đất, đá; NDĐ có thể tạo ra các tia nước nhỏ trong các tầng ngấm nước; thậm chí nó có thể tạo ra khối NDĐ dày trong các tầng đất, nham thạch. Thời gian tiếp xúc của NDĐ với đất và nham thạch rất dài nên tạo điều kiện cho các chất trong đất và nham thạch tan trong NDĐ. Có thể nói cách khác, thành phần hoá học của NDĐ chủ yếu phụ thuộc vào thành phần hoá học của các tầng đất, nham thạch chứa nó (Đoàn Văn Cánh, 2014) [6]. - Đặc điểm thứ 2: Các loại đất, nham thạch của vỏ quả đất chia thành các tầng lớp khác nhau.
Mỗi tầng, lớp đó có thành phần hoá học khác nhau. Giữa các tầng, lớp đất, nham thạch thường có các lớp không thấm nước. Vì vậy NDĐ cũng được chia thành các tầng, lớp khác nhau và thành phần hoá học của các tầng lớp đó cũng khác nhau. 8 - Đặc điểm thứ 3: Ảnh hưởng của khí hậu đối với NDĐ không đồng đều.
NDĐ ở tầng trên cùng, sát mặt đất chịu ảnh hưởng của khí hậu. Các khí hoà tan trong tầng NDĐ này do nước mưa, nước sông, nước hồ… mang đến. Thành phần hoá học của NDĐ của tầng này chịu ảnh hưởng nhiều của thành phần hoá học nước mặt do đó cũng chịu ảnh hưởng nhiều của khí hậu. Trái lại, NDĐ ở tầng sâu lại ít hoặc không chịu ảnh hưởng của khí hậu.
Thành phần hoá học của NDĐ thuộc tầng này chịu ảnh hưởng trực tiếp của thành phần hoá học tầng nham thạch chứa nó. - Đặc điểm thứ 4: Thành phần của NDĐ không những chịu ảnh hưởng về thành phần hoá học của tầng nham thạch chứa nó mà còn phụ thuộc vào tính chất vật lý của các tầng nham thạch đó. Ở các tầng sâu khác nhau, nham thạch có nhiệt độ và áp suất khác nhau nên chứa trong các tầng nham thạch đó cũng có nhiệt độ và áp suất khác nhau. Vì vậy NDĐ ở các tầng rất sâu có thể có áp suất hàng ngàn N/m2 và nhiệt độ có thể lớn hơn 3730K.
- Đặc điểm thứ 5: NDĐ ít chịu ảnh hưởng của sinh vật nhưng chịu ảnh hưởng nhiều của vi sinh vật. Ở các tầng sâu do không có O2 và ánh sáng nên vi sinh vật yếm khí hoạt động mạnh, chi phối nhiều nên thành phần hóa học của NDĐ. Vì vậy thành phần hoá học của NDĐ chứa nhiều chất có nguồn gốc vi sinh vật (Đoàn Văn Cánh, 2014) [6]. Cấu trúc của một tầng NDĐ Cấu trúc của một tầng NDĐ được chia ra thành các tầng như sau: - Bề mặt trên gọi là mực NDĐ hay gương NDĐ.
- Bề mặt dưới, nơi tiếp xúc với tầng đất đá cách thuỷ gọi là đáy NDĐ. Chiều dày tầng NDĐ là khoảng cách thẳng đứng giữa mực NDĐ và đáy NDĐ. - Tầng thông khí hay nước tầng trên là tầng đất đá vụn bở không chứa nước thường xuyên, nằm bên trên tầng NDĐ. - Viền mao dẫn: là lớp nước mao dẫn phát triển ngay trên mặt NDĐ.
- Tầng không thấm: là tầng đất đá không thấm nước 9 NDĐ là một bộ phận của chu trình thủy văn xâm nhập vào các hệ đất đá từ mặt đất hoặc bộ phận nước mặt, và trong một thời gian dài NDĐ được xem là “nguồn nước sạch” - có thể sử dụng cho ăn uống sinh hoạt.