ĐẶT VẤN ĐỀ Trong các diễn đàn về nƣớc sạch và môi trƣờng gần đây trên Thế Giới cũng nhƣ ở Việt Nam thì chất lƣợng nƣớc sạch đang trong giai đoạn báo động đỏ, thiếu nƣớc sạch để sử dụng đang là áp lực chung của nhiều quốc gia trên Thế giới, trong đó Việt Nam không phải là trƣờng hợp ngoại lệ. Tại Việt Nam, hiện chỉ có khoảng 60% đô thị có hệ thống cấp nƣớc tập trung [13]. Tại các vùng nông thôn thì việc cung cấp nƣớc sạch chỉ đạt ở mức hơn 30%, đây là con số quá nhỏ so với một đất nƣớc mà ngƣời dân nông thôn chiếm gần 2/3 dân số cả nƣớc[12]. Tuy Việt Nam đã đạt tiến bộ nhanh chóng trong việc cải thiện tình hình cấp nƣớc vào những thập kỷ qua, song nhiều nơi ở Việt Nam, đặc biệt là những vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống và những cộng đồng dân cƣ nông thôn vùng xa vùng sâu và thƣờng là nghèo nhất đã bị tụt hậu.
Tình trạng thiếu nƣớc sạch phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày là nguyên nhân chủ yếu gây ra những hậu quả nặng nề về sức khỏe đối với đời sống con ngƣời. Tại thành phố Ninh Bình quá trình xây dựng nông thôn mới và công nghiệp hóa đang diễn ra mạnh mẽ và phát triển rất nhanh. Các khu công nghiệp cũng nhƣ các nhà máy xây dựng rải rác không tập trung. Nƣớc thải công nghiệp từ các khu công nghiệp làm ảnh hƣởng nghiêm trọng đến nguồn nƣớc ngầm cũng nhƣ nguồn nƣớc mặt tại thành phố Ninh Bình.
Hiện nay tại tại thành phố Ninh Bình tỉ lệ hộ gia đình sử dụng nƣớc cấp là khá cao. Tại trung tâm thành phố tỉ lệ sử dụng nƣớc cấp sinh hoạt đạt 100%. Ngoài ra tại một số phƣờng đang trong công cuộc xây dựng nông thôn mới thì tỉ lệ sử dụng nƣớc cấp sinh hoạt còn hạn chế, tại đây nguồn nƣớc sinh hoạt chủ yếu là nƣớc giếng đào, nƣớc giếng khoan và nƣớc mƣa. Do các hoạt động sản xuất nông nghiệp và công nghiệp diễn ra ngày càng mạnh dẫn đến nguồn nƣớc không đảm bảo vệ sinh sẽ gây nên nguy cơ mắc các bệnh đƣờng ruột, bệnh ngoài da và một số căn bệnh khác.
Nhằm góp phần cải thiện đời sống, nâng cao sức khỏe và bảo vệ môi trƣờng cho ngƣời dân địa phƣơng, đề tài “Đánh giá chất lượng và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng nước sinh hoạt tại địa bàn phường Ninh Khánh, thành phố Ninh Bình” đƣợc thực hiện sẽ góp phần làm rõ hơn về hiện trạng sử dụng nƣớc sinh hoạt của ngƣời dân, từ đó tìm ra giải pháp và nâng cao hiệu quả chất lƣợng nƣớc sinh hoạt, đạt tiêu chuẩn về vệ sinh môi trƣờng và phù hợp với điều kiện kinh tế của ngƣời dân. 1 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về nƣớc sinh hoạt Nƣớc sinh hoạt: Là loại nƣớc sử dụng cho mục đích sinh hoạt thông thƣờng không sử dụng để ăn uống trức tiếp hoặc dùng cho chế biến thực phẩm tại các cơ sở chế biến thực phẩm [4]. Nƣớc ăn uống: Là loại dùng để ăn uống, dùng cho các cơ sở chế biến thực phẩm [3].
Nƣớc uống sạch là nƣớc không có màu, không mùi, không vị khác thƣờng gây khó chịu cho ngƣời uống, không có các chất tan và và không tan gây độc hại cho sức khỏe ngƣời sử dụng [8]. Ô nhiễm nƣớc là sự biến đổi các thành phần của nƣớc khác biệt với trạng thái ban đầu. đó là sự biến đổi các chất hóa, lý, sinh vật và sự có mặt của chúng trong nƣớc làm cho nƣớc trở nên độc hại [8]. Nước ngầm Là nguồn cung cấp nƣớc sinh hoạt chủ yếu cho nhiều quốc gia và vùng dân cƣ trên thế giới (30% - 50% lƣợng nƣớc sinh hoạt của Việt Nam), tuy nhiên hiện nay tình trạng ô nhiễm đã làm ảnh hƣởng và suy thoái chất lƣợng nƣớc ngầm [9].
Nƣớc bị ô nhiễm do kim loại nặng: Nguyên nhân chủ yếu gây ô nhiễm kim loại nặng là quá trình đổ vào môi trƣờng nƣớc chất thải công nghiệp và nƣớc thải độc hại không xử lý hoặc xử lý không đạt yêu cầu. Ô nhiễm nƣớc bởi kim loại nặng có tác động tiêu cực tới môi trƣờng sống của sinh vật và con ngƣời bởi kim loại nặng có Hg, Cd, Pb, As, Sb, Cr, Cu, Zn, Mn, v. thƣờng không tham gia hoặc ít tham gia vào quá trình sinh hóa của các thể sinh vật và thƣờng tích lũy trong cơ thể chúng. Kim loại nặng tích lũy theo chuỗi thức ăn thâm nhập và cơ thể ngƣời.
Nƣớc mặt bị ô nhiễm sẽ lan truyền các chất ô nhiễm vào nƣớc ngầm, vào đất và các thành phần môi trƣờng liên quan khác. Nƣớc bị ô nhiễm do vi sinh vật. Sinh vật có mặt trong môi trƣờng nƣớc ở nhiều dạng khác nhau. Bên cạnh các sinh vật có ích, có nhiều nhóm sinh vật gây 2 bệnh hoặc truyền bệnh cho ngƣời và sinh vật.
Nguyên nhân ô nhiễm sinh học cho môi trƣờng nƣớc chủ yếu là phân rác, nƣớc thải sinh hoạt, xác chết sinh vật, nƣớc thải các bệnh viện,…. Nƣớc bị ô nhiễm bởi thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học. Trong quá trình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học tại các vùng nông nghiệp thâm canh, một lƣợng đáng kể thuốc và phân không đƣợc cây trồng tiếp nhận. Chúng sẽ lan truyền và tích lũy trong đất, nƣớc và các sản phẩm nông nghiệp dƣới dạng dƣ lƣợng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật.
Nước cấp sinh hoạt Nƣớc cấp là nƣớc sau khi đƣợc xử lý tại cơ sở xử lý nƣớc đi qua các trạm cung cấp nƣớc và từ các trạm nƣớc này sẽ đƣợc cung cấp cho ngƣời tiêu dùng [13]. Ngày nay với sự phát triển công nghiệp, đô thị và sự bùng nổ dân số đã làm cho nguồn nƣớc tự nhiên bị hao kiệt và ô nhiễm dần. Vì thế, con ngƣời phải có công nghệ xử lý nƣớc cấp sinh hoạt (các nguồn nƣớc) để có đủ số lƣợng và đảm bảo đạt chất lƣợng cho mọi nhu cầu sinh hoạt và sản xuất công nghiệp. Ngày nay có rất nhiều công nghệ xử lý nƣớc cấp từ hai nguồn nƣớc chính là nƣớc ngầm và nƣớc mặt.
Đối với nƣớc mặt hiện nay có rất nhiều công nghệ tiên tiến và phổ biến nhất là công nghệ MET, ƣu điểm của công nghệ này là chi phí thấp, đảm bảo đƣợc sự dễ dàng vận hành và duy trì hệ thống. Đối với nƣớc ngầm thì có nhiều công nghệ đơn giản hơn nhƣ hệ thống các bể lọc, giàn phun để loại bỏ trực tiếp một số chất có hại cho sức khỏe. Thực trạng chất lƣợng nƣớc sinh hoạt trên Thế giới và Việt Nam 1. Thực trạng chất lượng nước trên thế giới Nƣớc chiếm khoảng 60 - 70% thể trọng cơ thể và nƣớc tham gia vào việc hình thành các dịch tiêu hóa, giúp con ngƣời hấp thu chất dinh dƣỡng, cũng nhƣ tạo thành các chất lỏng trong cơ thể, thúc đẩy quá trình trao đổi chất.
Nƣớc giúp cho các phế nang luôn ẩm ƣớt, có lợi cho việc hô hấp, là dầu bôi trơn của toàn bộ khớp xƣơng trong cơ thể và là một chất hoãn xung của hệ thống thần kinh. Nhiều nghiên cứu cho thấy, nguồn nƣớc tại nhiều địa phƣơng bị ô nhiễm trầm 3 trọng và nhận thức của ngƣời dân về bảo vệ nguồn nƣớc còn hạn chế. Đây là những nguyên nhân chính làm gia tăng nhiều loại bệnh liên quan đến nƣớc và vệ sinh môi trƣờng (Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) 2011). Trong số 5 nhóm bệnh có liên quan đến nƣớc (bệnh lây lan qua nƣớc ăn uống, nhóm bệnh do thiếu nƣớc trong tắm giặt, nhóm bệnh do muỗi truyền, nhóm bệnh do vi yếu tố, hóa chất độc hại trong nƣớc và nhóm bệnh do tiếp xúc với nƣớc) thì ô nhiễm nƣớc đóng vai trò quan trọng trong việc lây lan các bệnh truyền nhiễm và không truyền nhiễm.
Ngoài các bệnh do vi sinh vật tồn tại trong nƣớc thì thực trạng sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật và phân bón hóa học trong nông nghiệp, rác thải và nƣớc thải công nghiệp không đƣợc thu gom và xử lý hợp vệ sinh trƣớc khi thải ra môi trƣờng, hóa chất sử dụng trong y tế, trong sản xuất các sản phẩm gia dụng… dẫn đến nguồn nƣớc ngày càng bị ô nhiễm trầm trọng, gây ra nhiều loại bệnh nguy hiểm nhƣ ung thƣ (ung thƣ gan, dạ dày, bàng quang…), bệnh Minimata (tƣơng tự bệnh Tê tê say say) do phơi nhiễm thủy ngân, Itai Itai do phơi nhiễm với cadmium, ảnh hƣởng tới hệ sinh sản và các bệnh về thần kinh do phơi nhiễm thuốc bảo vệ thực vật. Theo WHO, khoảng 80% bệnh tật là có liên quan tới chất lƣợng nƣớc và tình trạng vệ sinh môi trƣờng. Mỗi năm, trên thế giới, có khoảng 4 tỷ trƣờng hợp bị tiêu chảy, 88% các bệnh về đƣờng tiêu hóa, chiếm 4,1% gánh nặng bệnh tật toàn cầu và khoảng 2,5 triệu ngƣời tử vong, chủ yếu là tr em dƣới 5 tuổi. Ở Việt Nam, bệnh tiêu chảy là một trong 10 bệnh có số ca mắc và tử vong cao nhất với khoảng từ 725.000 ca mắc mỗi năm [13] Nhìn chung, thiệt hại của ô nhiễm nƣớc có thể tính đến gánh nặng bệnh tật (bao gồm chi phí điều trị, nghỉ làm, chăm sóc…), thiệt hại về mùa màng, nuôi trồng thủy sản, thiệt hại do phá hủy công trình, thiết bị, chi phí mua nƣớc đóng chai, chi phí xử lý nƣớc ăn uống, thiệt hại về du lịch… Tuy nhiên, tác động sức khỏe do ô nhiễm nƣớc thƣờng khó đánh giá một cách toàn diện do hiện nay, trên thế giới cũng nhƣ tại Việt Nam có rất ít nghiên cứu về mối quan hệ giữa phơi nhiễm với ô nhiễm nƣớc và hậu quả sức khỏe, thiếu hệ thống quan trắc dữ liệu 4 về các yếu tố nguy cơ ô nhiễm nƣớc và bệnh tật liên quan đến ô nhiễm nƣớc.
Ngoài ra, đánh giá phơi nhiễm với các chất ô nhiễm trong nƣớc cũng rất phức tạp, do các hộ gia đình thƣờng áp dụng nhiều cách xử lý nƣớc khác nhau trƣớc khi sử dụng cho mục đích ăn uống, sinh hoạt nên ngay khi sử dụng chung một nguồn nƣớc với cùng mức ô nhiễm thì mức phơi nhiễm của các cá nhân trong cộng đồng là khác nhau. Thực trạng chất lượng nước tại Việt Nam Nƣớc cần thiết cho mọi hoạt động sống của con ngƣời là vậy, nhƣng loài ngƣời hiện nay đang đứng trƣớc nguy cơ thiếu nƣớc trầm trọng, chất lƣợng nƣớc ngày càng suy giảm, do đó đã và đang gây ra những ảnh hƣởng xấu đối với sức khỏe con ngƣời.