Đánh giá chất lượng và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng nước sinh hoạt tại địa bàn phường ninh khánh thành phố ninh bình

Chuyên khảo phân tích Đánh giá chất lượng và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng nước sinh hoạt tại địa bàn phường ninh, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên

Trường đại học

Trường Đại học Lâm Nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2018

84
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

DANH MỤC VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

ĐẶT VẤN ĐỀ

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan về nước sinh hoạt

1.2. Nước cấp sinh hoạt

1.3. Thực trạng chất lượng nước sinh hoạt trên Thế giới và Việt Nam

1.3.1. Thực trạng chất lượng nước trên thế giới

1.3.2. Thực trạng chất lượng nước tại Việt Nam

1.4. Ảnh hưởng của một số chất trong nước sinh hoạt đến sức khỏe con người

1.5. Một số nghiên cứu về đánh giá chất lượng nước sinh hoạt tại Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Mục tiêu nghiên cứu

2.1.1. Mục tiêu tổng quát

2.1.2. Mục tiêu cụ thể

2.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2.2. Phạm vi nghiên cứu

2.3. Nội dung nghiên cứu

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Phương pháp ngoại nghiệp

2.4.2. Phương pháp phỏng vấn

2.4.3. Phương pháp kế thừa số liệu

2.4.4. Phương pháp lấy mẫu

2.4.5. Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm

2.4.6. Phương pháp xử lý số liệu

3. CHƯƠNG 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI

3.1. Điều kiện tự nhiên

3.1.1. Vị trí địa lý, địa hình, khí hậu

3.1.2. Thuận lợi, khó khăn

3.2. Kinh tế - xã hội

3.2.1. Đặc điểm xã hội

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Thực trạng sử dụng nguồn nước sinh hoạt tại phường Ninh Khánh, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình

4.1.1. Nguồn nước sử dụng chủ yếu

4.1.2. Thống kê tình hình sử dụng nguồn nước tại phường Ninh Khánh

4.2. Thực trạng chất lượng nước sinh hoạt tại phường Ninh Khánh, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình

4.2.1. Chất lượng nước sinh hoạt của phường Ninh Khánh qua phỏng vấn

4.2.2. Chất lượng nước sinh hoạt tại khu vực nghiên cứu qua các chỉ tiêu phân tích mẫu

4.3. Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng nước sinh hoạt cho người dân khu vực

4.3.1. Cơ sở đề xuất giải pháp

4.3.2. Giải pháp khoa học – kỹ thuật nhằm nâng cao chất lượng nước sinh hoạt

4.3.3. Biện pháp quản lý và giáo dục cộng đồng

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN – TỒN TẠI – KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Toàn cảnh chất lượng nước sinh hoạt phường Ninh Khánh 2018

Nước sạch là yếu tố nền tảng cho sức khỏe cộng đồng và phát triển kinh tế - xã hội. Tại phường Ninh Khánh, thành phố Ninh Bình, quá trình đô thị hóa nhanh chóng đặt ra nhiều thách thức đối với việc đảm bảo chất lượng nước sinh hoạt. Một nghiên cứu chi tiết thực hiện năm 2018 đã cung cấp một cái nhìn toàn diện về thực trạng sử dụng và chất lượng các nguồn nước tại đây. Báo cáo này là cơ sở khoa học quan trọng để đánh giá chất lượng và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng nước sinh hoạt cho người dân. Nguồn cung cấp nước chính cho khu vực đến từ nhà máy nước Ninh Bình, thuộc quản lý của Công ty cổ phần cấp thoát nước Ninh Bình, bên cạnh các nguồn tự khai thác như giếng khoan, giếng đào. Tuy nhiên, sự tồn tại song song của nhiều nguồn nước khác nhau cũng tiềm ẩn những rủi ro về an toàn vệ sinh. Nghiên cứu tập trung phân tích các thông số chất lượng nước quan trọng như pH, độ cứng, Amoni, Sắt, Mangan theo tiêu chuẩn nước sạch bộ y tế, cụ thể là các quy chuẩn QCVN 01:2009/BYT và QCVN 02:2009/BYT, nhằm đưa ra bức tranh chân thực nhất về nguồn nước mà người dân đang sử dụng hàng ngày, từ đó làm tiền đề cho các giải pháp cải thiện hiệu quả.

1.1. Khảo sát hiện trạng nguồn nước sinh hoạt phường Ninh Khánh

Theo kết quả điều tra tại địa bàn, nguồn nước sinh hoạt phường Ninh Khánh khá đa dạng. Nguồn nước máy do hệ thống cấp nước thành phố Ninh Bình cung cấp là chủ đạo, chiếm tới 81,25% số hộ sử dụng. Tuy nhiên, một bộ phận không nhỏ người dân vẫn duy trì việc sử dụng nước giếng khoan (11,25%) và giếng đào (7,5%). Tình trạng này xuất phát từ nhiều nguyên nhân: thói quen sử dụng lâu đời, chi phí nước máy hàng tháng còn cao so với một số hộ gia đình, và nhu cầu sử dụng nước cho các hoạt động nông nghiệp như tưới tiêu, chăn nuôi. Việc khai thác song song nhiều nguồn nước cho thấy nhu cầu cần có một sự đánh giá đồng bộ để đảm bảo an toàn chung cho cả cộng đồng.

1.2. Đánh giá của người dân về chất lượng nước máy Ninh Bình

Qua phỏng vấn trực tiếp, có đến 58,75% số hộ dân đánh giá chất lượng nước ở mức tốt. Tuy nhiên, vẫn còn 21,25% cho rằng chất lượng ở mức trung bình và 13,75% đánh giá là chưa tốt. Các ý kiến phản ánh chủ yếu tập trung vào hiện tượng nước thỉnh thoảng bị đục, có cặn và đôi khi có mùi lạ, đặc biệt sau những lần hệ thống đường ống được sửa chữa. Những đánh giá cảm quan này là tín hiệu ban đầu cho thấy dù chất lượng nước máy Ninh Bình từ nhà máy có thể đạt chuẩn, nhưng quá trình vận chuyển qua hệ thống đường ống có thể phát sinh vấn đề, cần được kiểm tra và giám sát chặt chẽ hơn.

II. Những rủi ro tiềm ẩn từ ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt

Ô nhiễm nguồn nước là một trong những mối đe dọa hàng đầu đối với sức khỏe con người. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), khoảng 80% bệnh tật có liên quan đến chất lượng nước và vệ sinh môi trường. Tại phường Ninh Khánh, các hoạt động sản xuất nông nghiệp, nước thải sinh hoạt chưa qua xử lý và chất thải rắn là những nguồn tiềm tàng gây ô nhiễm. Tác hại của ô nhiễm nước biểu hiện qua nhiều dạng bệnh tật. Các chất ô nhiễm hóa học như Amoni, Sắt, Mangan nếu vượt ngưỡng cho phép có thể gây ra các vấn đề nghiêm trọng. Nước nhiễm amoni khi vào cơ thể có thể chuyển hóa thành Nitrit, một chất có khả năng gây ung thư. Tương tự, nước nhiễm phèn (hàm lượng sắt cao) và Mangan có thể ảnh hưởng đến hệ thần kinh, hệ tiêu hóa và gây ra các bệnh ngoài da. Do đó, việc thực hiện xét nghiệm nước sinh hoạt Ninh Bình một cách định kỳ là cực kỳ cần thiết để phòng ngừa các bệnh tật từ nguồn nước.

2.1. Nguy cơ từ nước giếng khoan chưa được xử lý triệt để

Nước giếng khoan, dù được khai thác từ mạch ngầm sâu, vẫn có nguy cơ ô nhiễm cao do thẩm thấu từ bề mặt. Kết quả phân tích tại Ninh Khánh cho thấy nhiều mẫu nước giếng có các chỉ số vượt xa ngưỡng an toàn. Cụ thể, hàm lượng amoni trong nước và Mangan là hai vấn đề đáng báo động nhất. Bên cạnh đó, độ cứng của nước ở các giếng khoan cũng cao hơn đáng kể so với nước máy, gây bất tiện trong sinh hoạt và có thể là nguyên nhân gây ra các bệnh về sỏi thận nếu sử dụng lâu dài. Việc xử lý nước giếng khoan trước khi sử dụng là yêu cầu bắt buộc để bảo vệ sức khỏe.

2.2. Ảnh hưởng của các thông số chất lượng nước đến sức khỏe

Mỗi thông số chất lượng nước đều có ảnh hưởng nhất định. Amoni (NH4+) có thể chuyển hóa thành nitrit gây thiếu oxy trong máu, đặc biệt nguy hiểm với trẻ em. Mangan (Mn) tích tụ lâu ngày gây độc cho hệ thần kinh, với các triệu chứng tương tự bệnh Parkinson. Sắt (Fe) tuy cần thiết cho cơ thể nhưng với hàm lượng cao sẽ gây mùi tanh, làm biến đổi màu sắc thực phẩm và gây ra các vấn đề tiêu hóa. Các chỉ tiêu vi sinh trong nước như E.coli, Coliforms (dù không được phân tích trong nghiên cứu này) cũng là tác nhân chính gây ra các bệnh đường ruột nguy hiểm. Hiểu rõ các tác hại này giúp người dân có ý thức hơn trong việc lựa chọn và xử lý nguồn nước.

III. Kết quả xét nghiệm nước sinh hoạt Ninh Bình tại Ninh Khánh

Để có đánh giá khách quan, nghiên cứu đã tiến hành lấy 21 mẫu nước tại các hộ dân, bao gồm 16 mẫu nước máy và các mẫu nước giếng đào, giếng khoan để phân tích tại phòng thí nghiệm. Các kết quả được đối chiếu trực tiếp với các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia hiện hành, bao gồm QCVN 01:2009/BYT (Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ăn uống) và QCVN 09:2015/BTNMT (Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ngầm). Việc phân tích chi tiết các chỉ tiêu hóa lý cung cấp bằng chứng khoa học vững chắc về thực trạng chất lượng nước sinh hoạt tại khu vực. Các chỉ tiêu chính được đưa vào phân tích là pH, độ cứng, TSS, Amoni, Nitrat, Sắt tổng số, Mangan và COD. Kết quả cho thấy sự khác biệt rõ rệt về mức độ an toàn giữa nguồn nước máy và nước giếng tự khai thác, nhấn mạnh sự cần thiết phải có các biện pháp cải thiện chất lượng nước phù hợp cho từng loại nguồn.

3.1. Phân tích chất lượng nước máy theo tiêu chuẩn Bộ Y tế

Đối với 16 mẫu nước máy được phân tích, hầu hết các chỉ tiêu hóa lý quan trọng như pH (dao động từ 6.8 - 7.7), độ cứng (88 - 103 mg/l) đều nằm trong giới hạn cho phép của QCVN 01:2009/BYT. Điều này cho thấy công nghệ xử lý của nhà máy nước Ninh Bình về cơ bản đang hoạt động hiệu quả. Tuy nhiên, một số mẫu có nồng độ Amoni (0.4 - 0.5 mg/l) và Nitrat (lên tới 1.404 mg/l) dù vẫn dưới ngưỡng nhưng cũng cần được theo dõi sát sao. Dữ liệu về Sắt và Mangan trong nước máy không được thể hiện trong báo cáo, nhưng phản ánh của người dân về độ đục cho thấy khả năng tái nhiễm bẩn trong đường ống là có thể xảy ra.

3.2. Cảnh báo các chỉ tiêu vượt ngưỡng trong nước giếng khoan

Trái ngược với nước máy, chất lượng nước giếng khoan tại phường Ninh Khánh cho thấy nhiều dấu hiệu đáng lo ngại. Nhiều mẫu nước có hàm lượng amoni (cao nhất 5.2 mg/l) và Mangan (cao nhất 2.98 mg/l) vượt gấp nhiều lần giới hạn cho phép của tiêu chuẩn nước sạch bộ y tế (QCVN 02 và QCVN 09). Cụ thể, hàm lượng Mangan vượt ngưỡng cho phép tới gần 6 lần. Ngoài ra, hàm lượng sắt tổng số ở một số giếng cũng vượt mức 0.5 mg/l, gây ra hiện tượng nước nhiễm phèn. Những con số này khẳng định rằng nguồn nước giếng tại đây không đủ an toàn để sử dụng trực tiếp cho mục đích ăn uống và sinh hoạt nếu không qua các hệ thống xử lý chuyên dụng.

IV. TOP biện pháp cải thiện chất lượng nước sinh hoạt hiệu quả

Từ những kết quả phân tích trên, việc đề xuất các biện pháp cải thiện chất lượng nước là nhiệm vụ cấp thiết. Các giải pháp cần mang tính đồng bộ, kết hợp cả về kỹ thuật, quản lý và nâng cao nhận thức cộng đồng. Đối với đơn vị cung cấp, cần tập trung vào việc hiện đại hóa công nghệ xử lý và bảo trì hệ thống cấp nước thành phố Ninh Bình. Đối với người dân, đặc biệt là các hộ đang sử dụng nước giếng, cần trang bị các kiến thức và thiết bị xử lý nước tại nguồn. Việc áp dụng các giải pháp này không chỉ giải quyết các vấn đề trước mắt mà còn góp phần đảm bảo an ninh nguồn nước bền vững cho tương lai. Các giải pháp kỹ thuật như lắp đặt hệ thống lọc nước tổng hay máy lọc nước RO đang là lựa chọn tối ưu được nhiều chuyên gia khuyến nghị để chủ động bảo vệ sức khỏe gia đình trước nguy cơ ô nhiễm nguồn nước.

4.1. Giải pháp kỹ thuật cho hệ thống cấp nước tập trung

Để nâng cao chất lượng nước máy Ninh Bình, công ty cấp nước cần đầu tư nâng cấp công nghệ xử lý, đặc biệt là các công đoạn khử sắt, mangan và amoni. Bên cạnh đó, cần có kế hoạch kiểm tra, súc xả và thay thế định kỳ hệ thống đường ống đã cũ để hạn chế tình trạng tái nhiễm bẩn. Việc ứng dụng công nghệ giám sát chất lượng nước theo thời gian thực tại các điểm nút quan trọng trong mạng lưới phân phối cũng là một giải pháp quản lý hiệu quả, giúp phát hiện và xử lý sự cố kịp thời.

4.2. Xử lý nước giếng khoan bằng hệ thống lọc nước tổng

Đối với các hộ gia đình sử dụng nước giếng, giải pháp hiệu quả nhất là lắp đặt một hệ thống lọc nước tổng ngay tại đầu nguồn. Hệ thống này thường bao gồm các cột lọc chứa vật liệu chuyên dụng để loại bỏ sắt, mangan, làm mềm nước (khử độ cứng của nước) và hấp phụ các chất hữu cơ. Sau khi qua hệ thống lọc tổng, nước đã đảm bảo an toàn cho các mục đích sinh hoạt thông thường như tắm giặt, vệ sinh. Đây là bước quan trọng trong quy trình xử lý nước giếng khoan.

4.3. Sử dụng máy lọc nước RO cho nguồn nước ăn uống trực tiếp

Để đảm bảo an toàn tuyệt đối cho nước ăn uống, máy lọc nước RO (thẩm thấu ngược) là lựa chọn hàng đầu. Công nghệ RO có khả năng loại bỏ tới 99.9% vi khuẩn, virus, kim loại nặng, và các tạp chất hòa tan, cho ra nguồn nước tinh khiết có thể uống trực tiếp tại vòi. Việc kết hợp hệ thống lọc tổng cho toàn bộ ngôi nhà và một máy lọc RO cho nhà bếp là mô hình xử lý nước toàn diện, bảo vệ sức khỏe gia đình một cách tối ưu nhất, dù nguồn nước đầu vào là nước máy hay nước giếng đã qua xử lý thô.

V. Cách nâng cao vai trò quản lý và giám sát của cơ quan chức năng

Bên cạnh các giải pháp kỹ thuật, vai trò của cơ quan quản lý nhà nước là không thể thiếu trong việc đảm bảo chất lượng nước sinh hoạt. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị như Sở Tài nguyên và Môi trường Ninh Bình, Trung tâm Y tế Dự phòng Ninh Bình và chính quyền địa phương. Công tác quản lý không chỉ dừng lại ở việc thanh tra, kiểm tra định kỳ mà còn phải bao gồm việc xây dựng các chính sách khuyến khích, hỗ trợ người dân tiếp cận với nước sạch và các công nghệ xử lý tiên tiến. Việc công khai minh bạch các báo cáo hiện trạng môi trường và kết quả quan trắc chất lượng nước sẽ giúp người dân có thông tin đầy đủ để giám sát và đưa ra lựa chọn phù hợp. Đồng thời, cần thực hiện nghiêm ngặt việc đánh giá tác động môi trường đối với các dự án phát triển kinh tế - xã hội có nguy cơ ảnh hưởng đến nguồn nước.

5.1. Tăng cường giám sát và công bố thông số chất lượng nước

Các cơ quan chức năng cần thiết lập một mạng lưới các điểm quan trắc chất lượng nước thường xuyên trên toàn địa bàn, bao gồm cả nước mặt, nước ngầm và nước tại vòi của các hộ dân. Kết quả phân tích phải được cập nhật và công bố định kỳ trên các phương tiện thông tin đại chúng. Điều này không chỉ giúp người dân yên tâm sử dụng mà còn tạo áp lực để đơn vị cấp nước luôn duy trì và nâng cao chất lượng dịch vụ, tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn nước sạch bộ y tế.

5.2. Tổ chức các chương trình giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng

Nâng cao nhận thức là giải pháp bền vững nhất. Chính quyền và các tổ chức đoàn thể cần tổ chức các buổi nói chuyện, phát tờ rơi, tuyên truyền về tác hại của ô nhiễm nước và hướng dẫn các biện pháp xử lý nước đơn giản tại nhà. Cần khuyến khích người dân bảo vệ nguồn nước ngầm bằng cách xây dựng nhà vệ sinh, chuồng trại chăn nuôi đúng quy cách, sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật hợp lý. Khi mỗi người dân trở thành một giám sát viên môi trường, chất lượng nguồn nước sẽ được bảo vệ một cách hiệu quả.

04/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Trong các diễn đàn về nƣớc sạch và môi trƣờng gần đây trên Thế Giới cũng nhƣ ở Việt Nam thì chất lƣợng nƣớc sạch đang trong giai đoạn báo động đỏ, thiếu nƣớc sạch để sử dụng đang là áp lực chung của nhiều quốc gia trên Thế giới, trong đó Việt Nam không phải là trƣờng hợp ngoại lệ. Tại Việt Nam, hiện chỉ có khoảng 60% đô thị có hệ thống cấp nƣớc tập trung [13]. Tại các vùng nông thôn thì việc cung cấp nƣớc sạch chỉ đạt ở mức hơn 30%, đây là con số quá nhỏ so với một đất nƣớc mà ngƣời dân nông thôn chiếm gần 2/3 dân số cả nƣớc[12]. Tuy Việt Nam đã đạt tiến bộ nhanh chóng trong việc cải thiện tình hình cấp nƣớc vào những thập kỷ qua, song nhiều nơi ở Việt Nam, đặc biệt là những vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống và những cộng đồng dân cƣ nông thôn vùng xa vùng sâu và thƣờng là nghèo nhất đã bị tụt hậu.

Tình trạng thiếu nƣớc sạch phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày là nguyên nhân chủ yếu gây ra những hậu quả nặng nề về sức khỏe đối với đời sống con ngƣời. Tại thành phố Ninh Bình quá trình xây dựng nông thôn mới và công nghiệp hóa đang diễn ra mạnh mẽ và phát triển rất nhanh. Các khu công nghiệp cũng nhƣ các nhà máy xây dựng rải rác không tập trung. Nƣớc thải công nghiệp từ các khu công nghiệp làm ảnh hƣởng nghiêm trọng đến nguồn nƣớc ngầm cũng nhƣ nguồn nƣớc mặt tại thành phố Ninh Bình.

Hiện nay tại tại thành phố Ninh Bình tỉ lệ hộ gia đình sử dụng nƣớc cấp là khá cao. Tại trung tâm thành phố tỉ lệ sử dụng nƣớc cấp sinh hoạt đạt 100%. Ngoài ra tại một số phƣờng đang trong công cuộc xây dựng nông thôn mới thì tỉ lệ sử dụng nƣớc cấp sinh hoạt còn hạn chế, tại đây nguồn nƣớc sinh hoạt chủ yếu là nƣớc giếng đào, nƣớc giếng khoan và nƣớc mƣa. Do các hoạt động sản xuất nông nghiệp và công nghiệp diễn ra ngày càng mạnh dẫn đến nguồn nƣớc không đảm bảo vệ sinh sẽ gây nên nguy cơ mắc các bệnh đƣờng ruột, bệnh ngoài da và một số căn bệnh khác.

Nhằm góp phần cải thiện đời sống, nâng cao sức khỏe và bảo vệ môi trƣờng cho ngƣời dân địa phƣơng, đề tài “Đánh giá chất lượng và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng nước sinh hoạt tại địa bàn phường Ninh Khánh, thành phố Ninh Bình” đƣợc thực hiện sẽ góp phần làm rõ hơn về hiện trạng sử dụng nƣớc sinh hoạt của ngƣời dân, từ đó tìm ra giải pháp và nâng cao hiệu quả chất lƣợng nƣớc sinh hoạt, đạt tiêu chuẩn về vệ sinh môi trƣờng và phù hợp với điều kiện kinh tế của ngƣời dân. 1 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về nƣớc sinh hoạt Nƣớc sinh hoạt: Là loại nƣớc sử dụng cho mục đích sinh hoạt thông thƣờng không sử dụng để ăn uống trức tiếp hoặc dùng cho chế biến thực phẩm tại các cơ sở chế biến thực phẩm [4]. Nƣớc ăn uống: Là loại dùng để ăn uống, dùng cho các cơ sở chế biến thực phẩm [3].

Nƣớc uống sạch là nƣớc không có màu, không mùi, không vị khác thƣờng gây khó chịu cho ngƣời uống, không có các chất tan và và không tan gây độc hại cho sức khỏe ngƣời sử dụng [8]. Ô nhiễm nƣớc là sự biến đổi các thành phần của nƣớc khác biệt với trạng thái ban đầu. đó là sự biến đổi các chất hóa, lý, sinh vật và sự có mặt của chúng trong nƣớc làm cho nƣớc trở nên độc hại [8]. Nước ngầm Là nguồn cung cấp nƣớc sinh hoạt chủ yếu cho nhiều quốc gia và vùng dân cƣ trên thế giới (30% - 50% lƣợng nƣớc sinh hoạt của Việt Nam), tuy nhiên hiện nay tình trạng ô nhiễm đã làm ảnh hƣởng và suy thoái chất lƣợng nƣớc ngầm [9].

Nƣớc bị ô nhiễm do kim loại nặng: Nguyên nhân chủ yếu gây ô nhiễm kim loại nặng là quá trình đổ vào môi trƣờng nƣớc chất thải công nghiệp và nƣớc thải độc hại không xử lý hoặc xử lý không đạt yêu cầu. Ô nhiễm nƣớc bởi kim loại nặng có tác động tiêu cực tới môi trƣờng sống của sinh vật và con ngƣời bởi kim loại nặng có Hg, Cd, Pb, As, Sb, Cr, Cu, Zn, Mn, v. thƣờng không tham gia hoặc ít tham gia vào quá trình sinh hóa của các thể sinh vật và thƣờng tích lũy trong cơ thể chúng. Kim loại nặng tích lũy theo chuỗi thức ăn thâm nhập và cơ thể ngƣời.

Nƣớc mặt bị ô nhiễm sẽ lan truyền các chất ô nhiễm vào nƣớc ngầm, vào đất và các thành phần môi trƣờng liên quan khác. Nƣớc bị ô nhiễm do vi sinh vật. Sinh vật có mặt trong môi trƣờng nƣớc ở nhiều dạng khác nhau. Bên cạnh các sinh vật có ích, có nhiều nhóm sinh vật gây 2 bệnh hoặc truyền bệnh cho ngƣời và sinh vật.

Nguyên nhân ô nhiễm sinh học cho môi trƣờng nƣớc chủ yếu là phân rác, nƣớc thải sinh hoạt, xác chết sinh vật, nƣớc thải các bệnh viện,…. Nƣớc bị ô nhiễm bởi thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học. Trong quá trình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học tại các vùng nông nghiệp thâm canh, một lƣợng đáng kể thuốc và phân không đƣợc cây trồng tiếp nhận. Chúng sẽ lan truyền và tích lũy trong đất, nƣớc và các sản phẩm nông nghiệp dƣới dạng dƣ lƣợng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật.

Nước cấp sinh hoạt Nƣớc cấp là nƣớc sau khi đƣợc xử lý tại cơ sở xử lý nƣớc đi qua các trạm cung cấp nƣớc và từ các trạm nƣớc này sẽ đƣợc cung cấp cho ngƣời tiêu dùng [13]. Ngày nay với sự phát triển công nghiệp, đô thị và sự bùng nổ dân số đã làm cho nguồn nƣớc tự nhiên bị hao kiệt và ô nhiễm dần. Vì thế, con ngƣời phải có công nghệ xử lý nƣớc cấp sinh hoạt (các nguồn nƣớc) để có đủ số lƣợng và đảm bảo đạt chất lƣợng cho mọi nhu cầu sinh hoạt và sản xuất công nghiệp. Ngày nay có rất nhiều công nghệ xử lý nƣớc cấp từ hai nguồn nƣớc chính là nƣớc ngầm và nƣớc mặt.

Đối với nƣớc mặt hiện nay có rất nhiều công nghệ tiên tiến và phổ biến nhất là công nghệ MET, ƣu điểm của công nghệ này là chi phí thấp, đảm bảo đƣợc sự dễ dàng vận hành và duy trì hệ thống. Đối với nƣớc ngầm thì có nhiều công nghệ đơn giản hơn nhƣ hệ thống các bể lọc, giàn phun để loại bỏ trực tiếp một số chất có hại cho sức khỏe. Thực trạng chất lƣợng nƣớc sinh hoạt trên Thế giới và Việt Nam 1. Thực trạng chất lượng nước trên thế giới Nƣớc chiếm khoảng 60 - 70% thể trọng cơ thể và nƣớc tham gia vào việc hình thành các dịch tiêu hóa, giúp con ngƣời hấp thu chất dinh dƣỡng, cũng nhƣ tạo thành các chất lỏng trong cơ thể, thúc đẩy quá trình trao đổi chất.

Nƣớc giúp cho các phế nang luôn ẩm ƣớt, có lợi cho việc hô hấp, là dầu bôi trơn của toàn bộ khớp xƣơng trong cơ thể và là một chất hoãn xung của hệ thống thần kinh. Nhiều nghiên cứu cho thấy, nguồn nƣớc tại nhiều địa phƣơng bị ô nhiễm trầm 3 trọng và nhận thức của ngƣời dân về bảo vệ nguồn nƣớc còn hạn chế. Đây là những nguyên nhân chính làm gia tăng nhiều loại bệnh liên quan đến nƣớc và vệ sinh môi trƣờng (Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) 2011). Trong số 5 nhóm bệnh có liên quan đến nƣớc (bệnh lây lan qua nƣớc ăn uống, nhóm bệnh do thiếu nƣớc trong tắm giặt, nhóm bệnh do muỗi truyền, nhóm bệnh do vi yếu tố, hóa chất độc hại trong nƣớc và nhóm bệnh do tiếp xúc với nƣớc) thì ô nhiễm nƣớc đóng vai trò quan trọng trong việc lây lan các bệnh truyền nhiễm và không truyền nhiễm.

Ngoài các bệnh do vi sinh vật tồn tại trong nƣớc thì thực trạng sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật và phân bón hóa học trong nông nghiệp, rác thải và nƣớc thải công nghiệp không đƣợc thu gom và xử lý hợp vệ sinh trƣớc khi thải ra môi trƣờng, hóa chất sử dụng trong y tế, trong sản xuất các sản phẩm gia dụng… dẫn đến nguồn nƣớc ngày càng bị ô nhiễm trầm trọng, gây ra nhiều loại bệnh nguy hiểm nhƣ ung thƣ (ung thƣ gan, dạ dày, bàng quang…), bệnh Minimata (tƣơng tự bệnh Tê tê say say) do phơi nhiễm thủy ngân, Itai Itai do phơi nhiễm với cadmium, ảnh hƣởng tới hệ sinh sản và các bệnh về thần kinh do phơi nhiễm thuốc bảo vệ thực vật. Theo WHO, khoảng 80% bệnh tật là có liên quan tới chất lƣợng nƣớc và tình trạng vệ sinh môi trƣờng. Mỗi năm, trên thế giới, có khoảng 4 tỷ trƣờng hợp bị tiêu chảy, 88% các bệnh về đƣờng tiêu hóa, chiếm 4,1% gánh nặng bệnh tật toàn cầu và khoảng 2,5 triệu ngƣời tử vong, chủ yếu là tr em dƣới 5 tuổi. Ở Việt Nam, bệnh tiêu chảy là một trong 10 bệnh có số ca mắc và tử vong cao nhất với khoảng từ 725.000 ca mắc mỗi năm [13] Nhìn chung, thiệt hại của ô nhiễm nƣớc có thể tính đến gánh nặng bệnh tật (bao gồm chi phí điều trị, nghỉ làm, chăm sóc…), thiệt hại về mùa màng, nuôi trồng thủy sản, thiệt hại do phá hủy công trình, thiết bị, chi phí mua nƣớc đóng chai, chi phí xử lý nƣớc ăn uống, thiệt hại về du lịch… Tuy nhiên, tác động sức khỏe do ô nhiễm nƣớc thƣờng khó đánh giá một cách toàn diện do hiện nay, trên thế giới cũng nhƣ tại Việt Nam có rất ít nghiên cứu về mối quan hệ giữa phơi nhiễm với ô nhiễm nƣớc và hậu quả sức khỏe, thiếu hệ thống quan trắc dữ liệu 4 về các yếu tố nguy cơ ô nhiễm nƣớc và bệnh tật liên quan đến ô nhiễm nƣớc.

Ngoài ra, đánh giá phơi nhiễm với các chất ô nhiễm trong nƣớc cũng rất phức tạp, do các hộ gia đình thƣờng áp dụng nhiều cách xử lý nƣớc khác nhau trƣớc khi sử dụng cho mục đích ăn uống, sinh hoạt nên ngay khi sử dụng chung một nguồn nƣớc với cùng mức ô nhiễm thì mức phơi nhiễm của các cá nhân trong cộng đồng là khác nhau. Thực trạng chất lượng nước tại Việt Nam Nƣớc cần thiết cho mọi hoạt động sống của con ngƣời là vậy, nhƣng loài ngƣời hiện nay đang đứng trƣớc nguy cơ thiếu nƣớc trầm trọng, chất lƣợng nƣớc ngày càng suy giảm, do đó đã và đang gây ra những ảnh hƣởng xấu đối với sức khỏe con ngƣời.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ