chương 1 luật bảo vệ môi trường Việt Nam 2014: Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật. Luan van 5 - Tài nguyên nước: Là một dạng tài nguyên thiên thiên vừa vô hạn vừa hữu hạn và chính bản thân nước có thể đáp ứng nhu cầu của cuộc sống như ăn uống, sinh hoạt, hoạt động công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, năng lượng, du lịch. (Dư Ngọc Thành, 2012) - Ô nhiễm nước: Là sự thay đổi thành phần, tính chất của nước và ảnh hưởng đến hoạt động sống của con người, vi sinh vật. Khi sự thay đổi thành phần và tính chất vượt quá một ngưỡng cho phép thì sự ô nhiễm nước đã ở mức nguy hiểm và gây ra một số bệnh ở người (Lưu Đức Hải, 2001) Theo hiến chương Châu Âu: Ô nhiễm môi trường nước là sự biến đổi chủ yếu do con người gây ra đối với chất lượng nước làm ô nhiễm nước và gây nguy hại cho việc sử dụng, cho nông nghiệp, cho công nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi, giải trí, cho động vật nuôi cũng như các loài hoang dại (Paper JAAPU).
*Các dạng ô nhiễm nước: Có nhiều cách phân loại ô nhiễm nước hoặc dựa vào nguồn gốc gây ô nhiễm như ô nhiễm do công nghiệp, nông nghiệp hay sinh hoạt hoặc dựa vào tính chất của ô nhiễm như: Ô nhiễm sinh học, hóa học hay vật lý. - Ô nhiễm sinh học của nước: Ô nhiễm sinh học của nước do các nguồn thải đô thị hay công nghệ có các chất thải sinh hoạt, phân, nước rửa của các nhà máy đường, giấy. Sự ô nhiễm về mặt sinh học chủ yếu là do sự thải các chất hữu cơ có thể lên men được, sự thải sinh hoạt có chứa chất cặn bã sinh hoạt, phân tiêu, nước rửa của các nhà máy đường, giấy, các lò giết mổ. Ô nhiễm hữu cơ được đánh giá bằng chỉ tiêu BOD5 trong nước (Gary W.) - Ô nhiễm hóa học: Ô nhiễm hóa học do chất vô cơ là do sự thải vào nước các chất như nitrat, photphat và các chất dùng trong nông nghiệp.
- Ô nhiễm vật lý: Các chất rắn không tan khi được thải vào nước làm tăng lượng chất lơ lửng, tức làm tăng độ đục của nước. Các chất này có thể là gốc vô cơ hay hữu cơ, có thể được vi khuẩn ăn. Sự phát triển của vi khuẩn và Luan van 6 các vi sinh vật khác lại càng làm tăng độ đục của nước và làm giảm độ xuyên thấu của ánh sáng. Nhiều chất thải công nghiệp có chứa các chất màu, hầu hết là màu hữu cơ làm giảm giá trị sử dụng của nước về mặt y tế cũng như thẩm mỹ.
Ngoài ra các chất thải công nghiệp có chứa nhiều hợp chất hóa học như muối, sắt, mangan, clo tự do, hydro sulfur, phenol. làm cho nước có vị không bình thường (Gary W. Khái niệm nước thải và nguồn thải - Khái niệm nước thải: Theo TCVN 5980 - 1995 và iso 6107/1-1980: Nước thải là nước đã thải ra sau khi đã sử dụng hoặc được tạo ra trong một quá trình công nghệ mà không còn giá trị trực tiếp đối với quá trình đó. - Khái niệm nguồn nước thải: Thông thường nước thải được phân loại theo nguồn gốc phát sinh ra chúng.
Đó cũng là cơ sở trong việc lựa chọn các biện pháp giải quyết hoặc công nghệ xử lý. * Nước thải sinh hoạt: là nước thải từ các khu dân cư, khu vực hoạt động thương mại, khu vực công sở, trường học và các cơ sở tương tự khác. * Nước thải công nghiệp (hay còn gọi là nước thải sản xuất): là nước thải từ các nhà máy đang hoạt động hoặc trong đó nước thải công nghiệp là chủ yếu. * Nước thấm qua: là lượng nước thấm vào hệ thống ống bằng nhiều cách khác nhau, qua các khớp nối, các ống có khuyết tật hoặc thành hố ga hay hố xí.
* Nước thải tự nhiên: nước mưa được xem như nước thải tự nhiên ở những thành phố hiện đại, chúng được thu gom theo hệ thống riêng. * Nước thải đô thị: nước thải đô thị là một thuật ngữ chung chỉ chất lỏng trong hệ thống cống thoát của một thành phố, thị xã; đó là hỗn hợp của các loại nước thải trên. Cơ sở pháp lý - Căn cứ Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 23/06/2014 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015. - Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13 đã được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa VIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 21/06/2013.
Luật có hiệu lực thi hành vào 01/01/2013. - Nghị Định số 201/2013/NĐ-CP của Chính Phủ quy định việc thi hành Luật Tài Nguyên Nước. - Nghị quyết số 41 - NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính Trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. - Nghị Định số 19/2015/NĐ-CP ban hành ngày 14/02/2015 của Chính Phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo Vệ Môi Trường.
- Nghị định số 179/2013/NĐ-CP ban hành ngày 14/11/2013 của Chính Phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. - Nghị định số 149/2004/NĐ-CP Quy định việc cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng, tài nguyên nước, xả thải vào nguồn nước. - Các quy chuẩn, tiêu chuẩn môi trường Việt Nam dùng để đánh giá, bao gồm: + QCVN 40:2011/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp. + TCVN 5945: 2005 Nước thải công nghiệp - Tiêu chuẩn xả thải.
Cơ sở thực tiễn 2. Tổng quan về bia a) Nguồn gốc và sự ra đời của bia Bia là một loại nước giải khát và rất thông dụng trong đời sống hàng ngày,được mọi người ưa chuộng. Bia mang hương vị đặc trưng riêng và là loại Luan van 8 nước uống mát, bổ có bọt mịn xốp, độ cồn thấp, có vị đắng nhẹ dễ chịu. Khi được sử dụng đúng mức, bia tạo nên sự thoải mái cho cơ thể.
Về phương diện thực phẩm, bia là đồ uống có độ cồn thấp dinh dưỡng cao được sản xuất từ malt đại mạch, thế liệu, hoa houblon, nước,… Ngay từ những năm 7000 TCN, bia đã ra đời như một thứ thuốc chữa bệnh,nước giải khát. Ngày nay khi xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu về bia ngày càng tăng,ngành bia ngày càng phát triển, bia luôn có mặt trong các ngày lễ,tết,cưới hỏi,…như một thú giải trí thực sự. Từ 7000 năm TCN, người dân Babilon đã biết sản xuất bia từ các hạt đại mạch và các hạt ngũ cốc. Cách đây khoảng hơn 5000 năm,người Ai Cập cổ đại đã sử dụng lúa mạch để sản xuất bia.
Bia đã trở thành một thực phẩm quan trọng trong các bữa ăn kiêng hằng ngày của người Ai Cập lúc đó,người Hy Lạp đã học cách sản xuất bia từ người Ai Cập. Công nghệ sử dụng các nguyên liệu này để nấu bia được truyền dần đến Ai Cập, Ba Tư và một số lân cận. Các bộ tộc của Đức đã biết sản xuất bia từ lâu trước khi có sự xâm chiếm của đế chế La Mã. Ban đầu người ta sử dụng các loại thảo mộc và gia vị khác vào việc sản xuất bia.
Tuy hiên vào khoảng hơn 1000 năm trước công nguyên bia mới thâm nhập vào các tu viện và các tu sĩ đã sử dụng hoa Houblon thay cho các thảo mộc vào quá trình sản xuất bia. Bia thực sự trở nên phổ biến nhờ các tu viện. Các tu sỹ là những người đầu tiên đã xây dựng nên nhà máy bia. Trải qua hàng ngàn năm sản xuất và uống bia, ông cha ta đã không biết nhân tố nào làm nên điều kì diệu.
Đó là sự chuyển hóa nguyên liệu thành sản phẩm. Mãi đến năm 1857, nhà bác học người Pháp Lusi Pasteur đã khám phá ra điều bí mật này. Và sau một thời gian dài nghiên cứu, ông đã tìm ra được chính nấm men là vi sinh vật duy nhất mà hoạt động sống của nó đã làm nên quá trình lên men bia,nhưng Pasteur vẫn chưa làm sáng tỏ được cơ chế của hiện tượng này. Cho mãi đến thế kỉ XIX, một số nhà khoa học người Nga và Đức mới Luan van 9 chứng minh được cơ chế hoạt động của nấm men.
Đó là nấm men đã tạo ra các enzym và chính các enzym này chuyển hóa đường thành rượu và CO2. b) Nguyên liệu sản xuất bia *Nguyên liệu cho sản xuất bia Bia là một loại đồ uống có độ rượu nhẹ (có ga hàm lượng rượu khoảng 3–6%, hàm lượng CO 2 khoảng 3 – 4 g/lit, có bọt mịn xốp, hương thơm đặc trưng) được sản xuất bằng quá trình lên men của đường lơ lửng trong môi trường lỏng. Ngoài ra trong bia còn có chất tan, các axit hữu cơ, chất khoáng và một số vitamin. * Nguyên liệu chính Nguyên liệu chính cho sản xuất bia bao gồm: Malt đại mạch, gạo tẻ, hoa houbon, nấm men và nước.
Hiện ngoài gạo tẻ thì các nguyện liệu này đều phải nhập ngoại. - Nước: + Là thành phần chính của bia( chiếm từ 80 – 90%) nên nguồn nước và các đặc trưng của nó ảnh hưởng rất lớn tới các đặc trưng của bia. Nước dùng cho sản xuất bia phải là nước đã được xử lý tiêu chuẩn. Sản xuất bia là ngành sử dụng nhiều nước với những mục đích khác nhau: Nước là nguyên liệu, nước rửa thiết bị, bao bì, vệ sinh nhà xưởng, nước để sản xuất bia.
+ Thành phần hóa học chất lượng của nước ảnh hưởng trực tiếp đến các quá trình công nghệ và chất lượng bia của thành phẩm. Với một lượng nước được sử dụng rộng rãi như vậy thì việc xử lý nước để có thành phần và tính chất thích hợp với từng mục đích trong sử dụng sản xuất bia đều hết sức cần thiết. - Lúa mạch (malt đại mạch): + Là nguyên liệu chính không thể thay thế trong sản xuất bia. + Là hạt đại mạch được nảy mầm trong điều kiện nhân tạo, trong quá trình nảy mầm, một lượng lớn các enzym hình thành và tích tụ trong đại Luan van 10 mạch.
Các enzym này là tác nhân phân giải các hợp chất gluxit, protein trong malt thành nguyên liệu cho nấm mem sử dụng phát triển sinh khối làm tăng nồng độ cồn và lượng nhỏ đường sót lại tạo hương vị trong bia, tạo độ sánh trong bia. - Hoa houblon: + Houblon là thực vật dạng dây leo (Humulus lupulus),sống lâu năm (30- 40 năm),có chiều cao trung bình từ 10-15m. Hoa Houblon có hoa đực và hoa cái riêng cho từng cây.