MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong các diễn đàn về nước sạch và môi trường gần đây trên thế giới cũng như ở Việt Nam thì chất lượng nước sạch đang trong giai đoạn báo động đỏ, thiếu nước sạch để sử dụng đang là áp lực chung của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó Việt Nam không phải là trường hợp ngoại lệ. Tại Việt Nam, hiện chỉ có khoảng 60% đô thị có hệ thống cấp nước tập trung.Tại các vùng nông thôn thì việc cung cấp nước sạch chỉ đạt ở mức hơn 30%, đây là con số quá nhỏ so với một đất nước mà người dân nông thôn chiếm gần 2/3 dân số cả nước. Tuy Việt Nam đã đạt tiến bộ nhanh chóng trong việc cải thiện tình hình cấp nước vào những thập kỷ qua, song nhiều nơi ở Việt Nam, đặc biệt là những vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống và những cộng đồng dân cư nông thôn vùng xa vùng sâu và thường là nghèo nhất đã bị tụt hậu.
Tình trạng thiếu nước sạch phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày là nguyên nhân chủ yếu gây ra những hậu quả nặng nề về sức khỏe đối với đời sống con người. Để làm rõ hơn về hiện trạng sử dụng nước sinh hoạt của người dân Xã Kim Phượng, từ đó tìm ra giải pháp và nâng cao hiệu quả chất lượng nước sinh hoạt, đạt tiêu chuẩn về vệ sinh môi trường và phù hợp với điều kiện kinh tế của người dân.Nhằm góp phần cải thiện đời sống, nâng cao sức khỏe và bảo vệ môi trường cho người dân địa phương. Đứng trước thực trạng về tình hình nước sạch đó, việc:“Đánh giá chất lượng nước sinh hoạt và đề xuất giải pháp xử lý nước cấp cho hộ gia đình tại xã Kim Phượng, huyện Định Hoá,tỉnh Thái Nguyên” là hêt sức cần thiết và cấp bách hiện nay. Mục đích, mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1.
Mục đích nghiên cứu Đánh giá chất lượng nước sinh hoạt và đề xuất giải pháp xử lý nước cấp cho hộ gia đình. Mục tiêu nghiên cứu - Tổng quan hiện trạng sử dụng nước và chất lượng nước sinh hoạt của các hộ gia đình; - Đánh giá được chất lượng của nguồn nước người dân trên địa bàn hiện đang sử dụng; - Đưa ra các giải pháp xử lý nguồn nước đạt tiêu chuẩn vệ sinh môi trường cho người dân Xã Kim Phượng, huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Yêu cầu nghiên cứu - Đánh giá được hiện trạng nước sinh hoạt và sử dụng nước sinh hoạt của người dân, đề xuất giải pháp cấp nước cho người dân. - Chấp hành đúng tiên chuẩn, quy chuẩn về nước sạch dùng cho sinh hoạt (QCVN 02: 2009/BYT); - Các số liệu thu thập được phản ánh trung thực và khách quan; - Mẫu nước nghiên cứu phải đại diện cho khu vực nghiên cứu.
- Những kiến nghị đưa ra phải phù hợp với thực trạng, tình hình của địa phương. Ý nghĩa của đề tài * Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học: - Là cơ hội giúp sinh viên biết cách nghiên cứu khoa học, áp dụng những kiến thức đã học của nhà trường vào thực tế; - Nâng cao kiến thức thực tế; - Bổ sung tư liệu cho học tập; - Tích lũy kinh nghiệm cho công việc sau khi ra trường. * Ý nghĩa thực tiễn: - Đánh giá được chất lượng nước sinh hoạt và nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt của xã, phục vụ cho công tác quản lý,bảo vệ và đề xuất giải pháp xử lý nước cấpcho các hộ gia đình trên địa bàn xã. - Chỉ ra được những khó khăn, tồn tại trong quá trình cấp nước sinh hoạt để đề xuất những giả pháp thực hiện tôt chương trình cấp nước sinh hoạt của xã.
n 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học 2. Tầm quan trọng của nước Nước là tài nguyên vô cùng quý giá, là yếu tố không thể thiếu cho mọi hoạt động sống trên trái đất. Nước tham gia vào thành phần cấu trúc sinh quyển, điều hòa các yếu tố khí hậu, đất đai và sinh vật.
Nước còn đáp ứng những nhu cầu đa dạng của con người trong sinh hoạt hàng ngày, tưới tiêu cho nông nghiệp, sản xuất công nghiệp, sản xuất điện năng, giao thông đường thủy và tạo ra nhiều cảnh quan đẹp [14]. Tuy nguồn tài nguyên nước là vô cùng quý giá nhưng không phải là một loại tài nguyên vô tận. Mặc dù lượng nước chiếm 97% bề mặt Trái đất nhưng lượng nước có thể dùng cho sinh hoạt và sản xuất là rất ít, chỉ chiếm 3% tổng trữ lượng. Nhưng hiện nay nguồn nước này đang bị ô nhiễm trầm trọng, gây ảnh hưởng cho người sử dụng.
Do vậy, việc điều tra đánh giá về các hệ thống cung cấp nước sinh hoạt hiện có để xác định chất lượng nước và những thuận lợi, khó khăn của từng hệ thống cung cấp sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng, quản lý cũng như chất lượng cuộc sống của người dân được đảm bảo hơn [12]. Khái niệm ô nhiễm nguồn nước Ô nhiễm nước là sự thay đổi theo chiều hướng xấu đi các tính chất vật lý – hóa học – sinh học của nước, với sự xuất hiện các các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở nên độc hại với con người và sinh vật. Làm giảm đa dạng sinh vật thủy sinh. Hiến chương châu Âu về nước đa định nghĩa: “Ô nhiễm nước là sự biến đổi nói chung do con người đối với chất lượng nước, làm nhiễm bẩn nước và n 4 gây nguy hiểm cho con người, cho công nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi, giải trí, cho động vật nuôi và các loài hoang dã”.
Hiện tượng ô nhiễm nước xảy ra khi các loại hoái chất độc hại, các lại vi khuẩn gây bệnh, virut, kí sinh trùng phát sinh từ các nguồn thải khác nhau như chất thải công nghiệp từ các nhà máy sản xuất, các loại rác thải từ của các bệnh viện, các loại rác thải sinh hoạt bình thường của con người hay hóa chất, thuốc trừ sâu, phân bón hữu cơ. sử dụng trong sản xuất nông nghiệp được đẩy ra ao, hồ, sông, suối hoặc ngấm xuống dưới đất mà không qua xử lý hoặc với khối lượng quá lớn vượt quá khả năng tự điều chỉnh hoặc tự làm sạch của các loại ao, hồ, sông, suối [14]. “Ô nhiễm nguồn nước” là sự thay đổi tính chất vật lý, tính chất hóa học, thành phần sinh học của nước không phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật cho phép, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật [10]. Khái niệm nước hợp vệ sinh Nước hợp vệ sinh: là nước được sử dụng trực tiếp hoặc sau lọc thỏa mãn các yêu cầu chất lượng: không màu, không mùi, không vị lạ, không chứa các thành phần có thể gây ảnh hưởng tới sức khỏe con người, có thể dùng để ăn uống sau khi đun sôi.
Định nghĩa này còn định tính, cần kết hợp với những quan sát theo hướng sau đây: Giếng đào hợp vệ sinh: - Giếng đào phải nằm cách nhà tiêu, chuồng gia súc hoặc nguồn gây ô nhiễm khác ít nhất 10 m. - Thành giếng cao tối thiểu 0,6 m được xây bằng gạch, đá, hoặc thả ống buy sâu ít nhất 3 m kể từ mặt đất. • Sân giếng phải làm bằng bê tông hoặc lát gạch, đá, không bị nứt nẻ. n 5 Giếng khoan hợp vệ sinh: - Giếng khoan phải nằm cách nhà tiêu, chuồng gia súc hoặc nguồn gây ô nhiễm khác ít nhất 10 m.
- Nền giếng phải lát gạch, đá hoặc làm bằng bê tông, không bị nứt nẻ. Các nguồn nước hợp vệ sinh khác: - Nước suối hoặc nước mặt không bị ô nhiễm bởi các chất thải của người hoặc động vật, hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật hoặc các chất thải công nghiệp, làng nghề. - Nước mưa được thu hứng từ mái ngói, mái tôn, trần nhà bằng bê tông (sau khi đã xả nước bụi bẩn trước khi thu hứng) trong bể chứa, lu chứa được rửa sạch trước khi thu hứng. - Nước mạch lộ là nguồn nước ngầm xuất lộ từ khe núi đá và núi đất không bị ô nhiễm bởi chất thải của người hoặc động vật, hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật hoặc các chất thải công nghiệp, làng nghề [2].
Các khái niệm về nước sạch Khái niệm về nước sạch Có rất nhiều khái niệm về nước sạch, dưới đây là một số khái niệm khác nhau về nước sạch: Nước sạch là nước đảm bảo các yêu cầu sau: là nước không có màu, mùi vị khác thường gây khó chịu cho người uống, không có các chất tan và không tan độc hại cho con người, không có các vi khuẩn gây bệnh và không gây tác động xấu cho sức khỏe người sử dụng. Các nguồn nước đạt tiêu chuẩn nước sạch cho sinh hoạt, ăn uống được chia như sau: - Nước sạch cơ bản: là nguồn nước có điều kiện đảm bảo chất lượng nước sạch và được kiểm tra theo dõi chất lượng thường xuyên gồm: • Nước cấp qua đường ống từ nhà máy nước hoặc trạm cấp nước. n 6 - Nước giếng khoan tầng nông hoặc sâu có chất lượng tốt, ổn định và được sử dụng thường xuyên. - Nước sạch quy ước: gồm các nguồn nước sau (theo hướng dẫn của Ban chỉ đạo Quốc gia về cấp nước sạch và VSMTNT): • Nước máy hoặc nước cấp từ các trạm bơm nước.
• Nước giếng khoan có chất lượng tốt và ổn định. • Nước mưa hứng và trữ sạch. Khái niệm nước sạch đáp ứng quy chuẩn Việt Nam Nước sạch là nước có chất lượng đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật về nước sạch của Việt Nam (QCVN 01:2009/BYT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ăn uống hay QCVN 02:2009/BYT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt, ban hành theo thông tư số 04/2009/TT – BYT và 05/2009/TT – BYT ngày 17/06/2009). - Nước sạch này có thể lấy từ các nguồn sau: Nguồn nước máy cấp từ các cơ sở cấp nước tập trung.
Nguồn nước do cá nhân và hộ gia đình tự khai thác nước để dùng cho sinh hoạt.