CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Kết quả điều tra, khảo sát về nguồn nước mặt và các thông tin liên quan tại địa bàn huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An Để có cái nhìn tổng thể về tình hình khai thác, sử dụng và chất lượng nước mặt tại địa bàn nghiên cứu, nhóm đã tiến hành điều tra phiếu tại 200 hộ dân trên 12 tuyến điều tra. Một số kết quả khảo sát ban đầu được thể hiện như sau: 3.1 Nguồn nước khai thác Hiện nay, riêng việc cấp nước cho sinh hoạt trên địa bàn huyện Mộc Hóa được đơn vị trạm cấp nước TX. Kiến Tường thực hiện, chủ yếu tập trung tại các khu vực đông dân cư. Việc cấp nước cho các hoạt động sản xuất và sinh hoạt tại một số khu vực biên giới không đảm bảo về mặt lưu lượng và chất lượng.1 Sơ đồ tương quan vị trí khai thác và vị trí gần khu vực khai thác nước mặt Các điểm khai thác nguồn nước của người dân chủ yếu theo thứ tự ưu tiên từ các sông, Kênh, hầm đất, nước mặt đồng ruộng và gần các khu vực trồng trọt (canh tác lúa, cây ăn trái), chăn nuôi, cơ sở sản xuất.2 Mục đích khai thác Kết quả điều tra về tình hình khai thác nguồn nước mặt theo 12 tuyến điều tra cho thấy, có 195 hộ đang khai thác (chiếm 97.5%), có 5 hộ dân ngừng khai thác nước mặt (chiếm 2.5%) tập trung ở Kênh 12, do hiện tại đã có nước sạch từ trạm cấp nước thị xã Kiến Tường chuyển về dùng cho sinh hoạt hằng ngày.
Mặc dù, được cấp nước sạch nhưng dọc tuyến Kênh 12 việc cấp nước sạch không đồng đều.2 Sơ đồ tương quan tình trạng khai thác và mục đích sử dụng nước mặt Mục đích khai thác nước mặt sử dụng chính của người dân là: Canh tác lúa, chăn nuôi, tưới cây và sinh hoạt, có nhiều hộ khai thác nước mặt phục vụ cho nhiều mục tiêu nhằm nâng cao sản xuất và nhu cầu cá nhân. Trong đó, việc bơm để cung cấp nguồn nước cho việc sản xuất, canh tác lúa nước 2 vụ trên khu vực huyện tổng diện tích gieo trồng lúa trong vụ lúa Đông xuân 2018 - 2019 trên địa bàn huyện gieo sạ được 21.977 ha, đạt 99,6% so với kế hoạch của huyện đề ra (22.070 ha) nguyên nhân là do người dân chuyển đổi từ trồng lúa sang nuôi thủy sản hoặc trồng các loại cây khác như sen, dưa hấu, cây ăn quả,…; có 40 hộ (chiếm 20%) khai thác nước mặt phục vụ cho việc rửa chuồng trại; có 68 hộ (chiếm 34%) sử dụng cho mục đích sinh hoạt nằm ở các vị trí xã Tân Lập thuộc Kênh 12 và Kênh Cây Khô Lớn.3 Đánh giá sơ bộ về khả năng ô nhiễm nước mặt trên địa bàn huyện Mộc Hóa Do tốc độ phát triển công nghiệp ở Mộc Hóa chưa cao, phần lớn cơ sở sản xuất ở quy mô cá thể cộng với thiết bị máy móc và công nghệ lạc hậu nên chất lượng môi trường nước mặt ở huyện bị ảnh hưởng bởi các yếu tố nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, chất thải rắn nguy hại và công tác phân loại rác thải sinh hoạt với chất thải nguy hại của người dân nơi đây còn rất hạn chế.3 Sơ đồ tương quan khả năng ô nhiễm nguồn nước mặt ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng Dựa vào kết quả điều tra về mặt cảm quan của người dân về chất lượng nước mặt trên địa bàn huyện, có 159/200 (79.5%) hộ sử dụng nguồn nước mặt cho rằng nguồn nước mặt bị ô nhiễm ảnh hưởng đến sức khỏe, có 72 trường hợp về bệnh ngoài da (36%) khi sử dụng nước cho các mục đích sinh hoạt, ăn, uống. Nguồn gây ô nhiễm nước mặt trên địa bàn huyện Mộc Hóa chủ yếu là rác và nước thải sinh hoạt. Trong đó, chất thải rắn nông nghiệp như bao bì, vỏ, chai thuốc bảo vệ 41 thực vật.
đều được bỏ trực tiếp ngay tại nơi sử dụng, làm ô nhiễm đồng ruộng, nguồn đất và nước nghiêm trọng. Ngoài ra, các đoạn sông trên địa bàn bị ô nhiễm do lục bình dày đặc, ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nước và hoạt động giao thông đường thủy.4 Đánh giá sơ bộ chất lượng nước và các nguồn thải 3.1 Kênh Cây Khô Lớn Đánh giá về chất lượng nước: Nguồn nước bị ảnh hưởng do các chất bảo vệ thực vật từ đồng ruộng và lục bình trên sông nên nước ở khu vực này bị mùi tanh và bùn, đặc biệt là sau khi phun diệt lục bình theo định kỳ, nước bị vàng và có vị chua thường xảy ra lớp váng trên mặt nước nên chất lượng nước khu vực này không sử dụng tốt cho mục đích sinh hoạt. Về nguồn thải: Do chưa có hệ thống thu gom nước thải nên toàn bộ lượng nước thải sau khi sử dụng đều được thải trực tiếp vào sông, kênh, nhưng chủ yếu ô nhiễm do nguồn thải từ các hoạt động chăn nuôi bò, heo. Còn về rác thải thì có 17/21 hộ thu gom để đốt, riêng 4 hộ còn lại sử dụng dịch vụ thu gom rác thải.2 Gần khu xả thải Trung tâm Y tế huyện Đánh giá về chất lượng nước: Sông Vàm Cỏ Tây là nơi tiếp nhận nguồn nước thải trực tiếp từ Trung tâm y tế (TTYT) Huyện.
Nhìn chung, đây là nơi giao thoa giữa sông Vàm Cỏ Tây và Kênh Ba Hồng Minh nên khả năng khuếch tán ô nhiễm ra môi trường nhanh chóng. Khu vực này chất lượng nước bị vàng và có vị chua thường xảy ra lớp váng trên mặt nước, nên muốn sử dụng cho mục đích sinh hoạt nhưng cần phải qua xử lý. Về nguồn thải: Nguồn thải chủ yếu từ các chất bảo vệ thực vật từ đồng ruộng, cống thải gần chợ Bình Phong Thạnh nên bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố. Do chưa có hệ thống thu gom nước thải nên toàn bộ lượng nước thải sau khi sử dụng đều được thải trực tiếp vào sông Vàm Cỏ Tây và Kênh Ba Hồng Minh.
Còn về rác thải thì có 5/7 hộ thu gom để đốt, riêng 2 hộ còn lại vứt rác thải trực tiếp ra Kênh.3 Sông Vàm Cỏ Tây Đánh giá về chất lượng nước: Nước bị ảnh hưởng do các chất bảo vệ thực vật từ đồng ruộng và lục bình trên sông nên nước ở khu vực này bị mùi tanh và bùn, nước bị vàng và có vị chua thường xảy ra lớp váng trên mặt nước nên chất lượng nước khu vực này không sử dụng tốt cho mục đích sinh hoạt. Về nguồn thải: Do chưa có hệ thống thu gom nước thải nên toàn bộ lượng nước thải sau khi sử dụng đều được thải trực tiếp vào sông, kênh, ô nhiễm do nước thải sinh hoạt từ TX Kiến Tường đổ về, ngoài ra còn có nước thải từ các chợ đổ xuống như chợ Ba Hồng Minh. Còn về rác thải thì có 10/15 hộ thu gom để đốt, riêng 5 hộ còn lại có đăng kí dịch vụ thu gom rác thải sinh hoạt tại nhà.4 Khu nước mặt đồng ruộng Đánh giá về chất lượng nước: Nước bị ảnh hưởng do các chất bảo vệ thực vật từ đồng ruộng, nước ở khu vực này bị mùi bùn, nước có màu trắng đục và có vị chua thường xảy ra lớp váng trên mặt nước nên chất lượng nước khu vực này không sử dụng tốt cho mục đích sinh hoạt. Về nguồn thải: Ô nhiễm chủ yếu do hóa chất từ hoạt động nông nghiệm, bên cạnh đó nước mặt còn bị các hộ dân mặn hóa đề phục vụ cho hoạt động nuôi tôm.
Còn về rác thải thì có 7/10 hộ được điều tra tiến hành thu gom để đốt, riêng 3 hộ còn lại có đăng kí dịch vụ thu gom rác thải sinh hoạt tại nhà.5 Kênh Cả Dứa Đánh giá về chất lượng nước: Nước bị ảnh hưởng do các chất bảo vệ thực vật từ đồng ruộng, nước ở khu vực này bị mùi bùn và tanh, nước có màu trắng đục và có vị chua, thường xảy ra lớp váng trên mặt nước nên chất lượng nước khu vực này không sử dụng tốt cho mục đích sinh hoạt. Về nguồn thải: Toàn bộ lượng nước thải sau khi sử dụng đều được thải trực tiếp vào sông hoặc Kênh, ô nhiễm do hóa chất dùng trong nông nhiệp, nước bị nhiễm mặn do hoạt động nuôi tôm; còn về rác thải thì tất cả đều hộ thu gom để đốt.6 Kênh 79 Đánh giá về chất lượng nước: Chất lượng nước khu vực này đang bị ô nhiễm nặng, màu nước đục, có mùi bùn không sử dụng được cho các mục đích sinh hoạt. Về nguồn thải: Toàn bộ lượng nước thải sau khi sử dụng đều được thải trực tiếp vào sông, Kênh hoặc thải vào hố thu gom nước thải tại nhà, ô nhiễm chủ yếu do nước thải từ hoạt động chăn nuôi bò, heo; còn về rác thải thì tất cả đều hộ thu gom để đốt và có dịch vụ thu gom rác thải sinh hoạt. Nguồn thải đáng quan tâm, đó là từ các hộ nuôi cá tra bột dọc theo hai bờ Kênh.7 Kênh Đường Bàng Đánh giá về chất lượng nước: Tình trạng nước ở khu vực này bị mùi bùn và tanh, nước có màu trắng đục và có vị chua thường xảy ra lớp váng trên mặt nước nên chất lượng nước khu vực này không sử dụng tốt cho mục đích sinh hoạt.
Về nguồn thải: Toàn bộ lượng nước thải sau khi sử dụng đều được thải trực tiếp vào sông hoặc Kênh, ô nhiễm chủ yếu do nước thải từ hoạt động chăn nuôi bò, heo; còn về rác thải thì tất cả hộ đều thu gom để đốt.8 Kênh Ba Hồng Minh Đánh giá về chất lượng nước: Khu vực Ba Hồng Minh nguồn nước mặt có dấu hiệu bị nhễm phèn, lục bình dày đặc nên nước ở khu vực này bị mùi bùn và tanh, nước có màu trắng đục và có vị chua thường xảy ra lớp váng trên mặt nước nên chất lượng nước khu vực này không sử dụng tốt cho mục đích sinh hoạt. Về nguồn thải: Toàn bộ lượng nước thải sau khi sử dụng đều được thải trực tiếp vào sông hoặc Kênh, ô nhiễm do nước thải từ hoạt động của chợ Ba Hồng Minh; còn về rác thải thì tất cả đều hộ thu gom để đốt.9 Các hầm đất Đánh giá về chất lượng nước: Nước khu vực này nước có màu trắng đục và có vị ngọt nên chất lượng nước khu vực này sử dụng tốt cho mục đích sinh hoạt nếu qua xử lý sẽ tốt hơn các khu vực khác. Về nguồn thải: Toàn bộ lượng nước thải sau khi sử dụng đều được thải trực tiếp vào sông, Kênh hoặc hố thu gom tại nhà, còn về rác thải thì tất cả đều hộ thu gom để đốt.