CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU Công trình thủy điện Srêpôk 3 nằm trên địa phận huyện Buôn Đôn, tỉnh Đăk Lăk và huyện Cư Jút, tỉnh Đăk Nông. - Các hạng mục công trình đầu mối: Nằm trên địa phận các xã: Tân Hòa, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đăk Lăk và xã Ea Pô, huyện Cư Jút tỉnh Đăk Nông. - Nhà máy thuỷ điện nằm trên địa phận xã Tân Hòa, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đăk Lăk.
- Khu vực lòng hồ: thuộc xã Ea Pô, huyện Cư Jút, tỉnh Đăk Nông; xã Hòa Xuân, TP.Buôn Ma Thuột, xã Ea Nuôl và xã Tân Hòa huyện Buôn Đôn, tỉnh Đăk Lăk. Khu vực công trình nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa với đặc điểm cơ bản là: nền nhiệt độ, độ ẩm cao và ít biến động trong tiến trình năm. Sự biến động của lượng mưa năm lớn, bão ít ảnh hưởng đến khu vực. Khí hậu toàn khu vực có thể chia thành hai tiểu vùng.
Vùng phía Tây bắc có khí hậu nắng nóng, khô hanh về mùa khô, vùng phía Đông và phía Nam có khí hậu mát mẻ, ôn hoà. Thời tiết chia làm 2 mùa khá rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10 kèm theo gió Tây nam thịnh hành, các tháng có lượng mưa lớn nhất là tháng 7,8,9, lượng mưa chiếm 80-90% lượng mưa năm. Riêng vùng phía Đông do chịu ảnh hưởng của Đông Trường Sơn nên mùa mưa kéo dài hơn tới tháng 11.
Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, trong mùa này độ ẩm giảm, gió Đông bắc thổi mạnh, bốc hơi lớn, gây khô hạn nghiêm trọng. Dòng chảy năm trên hệ thống sông của khu vực tương đối phức tạp: phần diện tích phía Tây có mùa lũ từ tháng 7 đến tháng 11, phần diện tích phía Đông và Đông Bắc có mùa lũ từ tháng 9 đến tháng 12 trong năm. Lưu vực sông Srêpôk nằm trong khu vực khống chế bởi tọa độ 11o58’ - 14o05’ vĩ độ Bắc và 105o57’ - 108o46’ kinh độ Đông. Tổng diện tích của lưu vực sông Srêpôk là 29.450 km2 với chiều dài sông chính là 640 km và độ hạ thấp khoảng 800m (Hình 1-1).
Sông Srêpôk là một trong những sông nhánh chính của sông Mê Kông, bắt nguồn từ các vùng núi phía Nam, Đông Nam và phía Đông của tỉnh Đăk Lăk có độ cao từ 800m - 2.000m, hợp lưu với sông Mê Kông tại vị trí cách Stung Treng (Campuchia) 35km về 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phía thượng lưu. Phần lưu vực sông Srêpôk thuộc lãnh thổ Việt Nam có diện tích khoảng 18.000km2 bao gồm các phụ lưu của Srêpôk như Prek - Drang, Ya Hleo và Srêpôk thượng. Srêpôk thượng do hai nhánh sông chính hợp thành là Krông Ana và Krông Knô. Krông Ana có diện tích lưu vực khoảng 4.000km2 và Krông Knô có diện tích lưu vực khoảng 3.
Thượng nguồn của sông Krông Ana là Krông Búk thượng bắt nguồn từ vùng núi có độ cao 900m, Krông Păk bắt nguồn từ vùng núi có độ cao 1.200m và Krông Bông bắt nguồn từ vùng núi có độ cao 1. Tất cả các sông này đều chảy trong vùng đồi núi có lòng sông hẹp và dốc. Từ hợp lưu Krông Bông về đến hợp lưu với Krông Knô, sông Krông Ana chảy trong vùng tương đối bằng phẳng có lòng sông rộng với nhiều vùng bị ngập nước thường xuyên, đặc biệt là khu vực từ hồ Lăk đến hợp lưu với sông Krông Knô, khu vực này giống như một hồ điều tiết lớn trong mùa mưa lũ. Sông Krông Knô bắt nguồn từ vùng núi phía Đông Nam Buôn Ma Thuột, nơi giáp với lưu vực sông Đa Nhim và sông Cái, có độ cao từ 1.
Từ đầu nguồn đến Đức Xuyên sông chảy theo hướng Đông - Tây trong vùng đồi núi có lòng sông hẹp và dốc. Từ Đức Xuyên đến hợp lưu với sông Krông Ana, sông chảy theo hướng Đông Nam - Tây Bắc trong vùng có lòng sông rộng với nhiều vùng bị ngập nước thường xuyên, trong khu vực này còn có nhiều hồ ao đầm lầy như Ea R’Bin, Ea Tut, Ea Roume, EaSno. (Bảng 1-1) Hình 1-1: Tổng thể lưu vực sông Srêpôk 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Từ hợp lưu Krông Ana và Krông Knô đến biên giới Việt Nam Campuchia, sông Srêpôk chảy theo hướng Đông Nam - Tây Bắc trong vùng đồi núi có lòng sông hẹp và dốc, chiều dài của đoạn sông này khoảng 110km với độ hạ thấp 200m, trong đoạn sông này có nhiều ghềnh thác như đoạn thác Buôn Kuốp với độ chênh cao khoảng 60m, thác Dray H’linh 15m, đoạn thác Srepok 3 chênh cao khoảng 35m. Địa hình lưu vực sông Srêpôk thượng có thể chia thành 3 dạng: vùng núi, các cao nguyên, vùng trũng và đồng bằng.
Vùng núi bao gồm các dãy núi phía Đông Bắc nơi bắt nguồn của sông Krông Búk thượng và Krông Păk có độ cao từ 800m - 1.000m, các dãy núi phía Đông là nơi bắt nguồn của sông Krông Bông và sông Krông Ana có độ cao từ 1.000m, dãy núi phía Nam và Tây Nam có độ cao từ 800m - 1. Các cao nguyên bao gồm cao nguyên Buôn Ma Thuột, cao nguyên M’Đrăk có độ cao từ 300m - 800m. Vùng trũng chạy dài từ Krông Pắk đến Lắk, vốn là một thung lũng bóc mòn có nhiều đầm lầy. Bảng 1-1: Đặc trưng hình thái sông ngòi lưu vực Srêpôk Độ cao Độ dốc Chiều Chiều Mật độ F bình quân Sông dài sông rộng lưu lòng sông lưới (km2) lưu vực L (km) vực (km) (‰) sông.
(m) Tính đến TĐ 9410 220 42,8 550 3,2 0,26 Srêpôk 3 Krông Ana 3.69 Krông Búk 478 13 58 590 5,5 0,56 Krông Bông 788 73 56 950 9,2 0,50 Krông Knô 3. Đặc điểm địa hình Địa hình vùng nghiên cứu trong báo cáo này tương đối đa dạng, đồi núi xen kẽ bình nguyên và thung lũng, khái quát có thể chia thành các dạng địa hình sau: Địa hình vùng núi cao: nằm ở phía Nam và Đông Nam của lưu vực, có độ cao trung bình 1.200m, có các đỉnh núi cao như Chu-Yang-Sin (2.405m) và Chư- Pan-Phan (2. Dải Trường Sơn chạy qua vùng thuộc địa phận huyện Krông Bông, huyện Lăk. Trong khu vực địa hình này diện tích rừng còn nhiều, độ dốc lớn và địa hình chia cắt mạnh.
Địa hình vùng cao nguyên: Vùng cao nguyên với những đồng bằng lượn sóng và 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com độ dốc thoải. Dạng địa hình này nằm ở 2 vùng: Vùng cao nguyên Buôn Ma Thuột và phụ cận (các huyện Krông Búk, Krông Păk, Cư M’gar.) với cao độ trung bình từ 400 - 500m. Vùng thứ hai là cao nguyên Đăk Nông nằm ở phía Tây Nam của lưu vực, có cao độ từ 700 - 800m. Vùng cao nguyên Buôn Ma Thuột địa hình bằng phẳng hơn vùng Đăk Nông.
Các cao nguyên này được tạo thành từ phun trào Bazan thuộc thời kỳ tiền đệ tứ. Đá bazan phong hóa tạo thành lớp đất đỏ màu mỡ, rất phù hợp cho phát triển các cây công nghiệp dài ngày. Địa hình vùng đất thấp: Bao gồm các dải đất phù sa bằng phẳng dọc các sông. Loại địa hình này tập trung ở các huyện Lăk, Krông Ana và Ea Suop.
Trong đó vùng Lăk-Buôn Trấp chạy dọc sông Krông Ana từ hồ Lăk qua Buôn Triết, Buôn Trấp tới hạ lưu, có cao độ trung bình từ 410m - 450m. Vị trí địa lý và đặc điểm địa hình ảnh hưởng trực tiếp tới thời tiết khí hậu trong vùng, nó không những mang tính chất nhiệt đới nóng ẩm mà còn có tính chất của vùng cao nguyên mát dịu. Lớp phủ thổ nhưỡng Theo kết quả đánh giá về thổ nhưỡng của Viện Qui hoạch và thiết kế Nông nghiệp đã được chuyển đổi sang hệ thống phân loại FAO - UNESCO toàn lưu vực có các loại đất sau: Nhóm đất phù sa, nhóm đất Glay, nhóm đất than bùn, nhóm đất đen, nhóm đất xám, nhóm đất đỏ, nhóm đất mùn Alit trên núi cao, nhóm đất trơ sỏi đá. Trong đó 2 nhóm đất: Đen xám, nhóm đất đỏ chiếm diện tích lớn nhất.
Nhóm đất xám phân bố ở các vùng: Ea Suop, Cư Jút, M'Đrăk, Krông Bông. Đa số đất này tầng mỏng, độ dốc lớn, có lẫn đá hoặc đá lộ thiên, thảm phủ thực vật tự nhiên là rừng thứ sinh. Nhóm đất đỏ: Phân bố tập trung tại các khối Bazan Buôn Ma Thuột, Đăk Nông, Đăk Mil. So với nhóm đất xám thì nhóm đất đỏ Bazan ít dốc và tầng đất dày hơn rõ rệt.
Thổ nhưỡng trên lưu vực sông Srêpôk thượng chủ yếu là đất đỏ Bazan (50%) tập trung chính ở cao nguyên Buôn Ma Thuột và vùng Gia Nghĩa, đất đen Bazan ở phía Tây, đất vàng xám phát triển trên đá granit ở Khánh Dương và Bắc Buôn Hồ, đất đỏ vàng trên sa thạch và sa phiến thạch phân bố rải rác và xen kẽ giữa các loại đất khác, đất dốc tụ thường ở các hợp thủy và chân núi, đất phù sa do sự bồi đắp của sông suối ở vùng trũng, đất đầm hồ ở những vùng tự nhiên như hồ Lăk. Lớp phủ thực vật Tầng phủ thực vật của lưu vực khá phong phú, mức độ che phủ của rừng khoảng 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 70%, trong đó bao gồm nhiều loại như rừng lá rộng, rừng lá kim, rừng hỗn giao, rừng tre nứa, rừng trồng. ngoài ra còn có một số lượng đáng kể cây cà phê, trà. Hình 1-2: Bản đồ mật độ che phủ rừng lưu vực Sông Srêpôk 1.
ĐẶC TRƯNG KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH ĐẮK LẮK Tỉnh Đắk Lắk với diện tích 13.125,4 km2 nằm trên địa bàn Tây Nguyên, trong khoảng tọa độ địa lý từ 107°28'57"- 108°59'37" độ kinh Đông và từ 12°9'45" - 13°25'06" độ vĩ Bắc, phía Bắc giáp tỉnh Gia Lai, phía Nam giáp tỉnh Lâm Đồng, phía Đông giáp tỉnh Phú Yên và tỉnh Khánh Hòa, phía Tây giáp Vương quốc CamPuChia và tỉnh Đắk Nông. Đắk Lắk là tỉnh có đường biên giới dài 70 km chung với nước Campuchia, trên đó có quốc lộ 14C chạy dọc theo biên giới hai nước rất thuận lợi cho việc phát triển kinh tế vùng biên kết hợp với bảo vệ an ninh quốc phòng. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hình 1-3: Bản đồ hành chính tỉnh Đắk Lắk 1. Kinh tế Kinh tế chủ đạo của Đăk Lăk chủ yếu dựa vào sản xuất và xuất khẩu nông sản, lâm sản.
Tỉnh có tiềm năng về du lịch sinh thái. Trong bảng xếp hạng về Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm 2017, tỉnh Đắk Lắk xếp ở vị trí thứ 31/63 tỉnh thành. Đắk Lắk là tỉnh có diện tích và sản phẩm cà phê xuất khẩu lớn nhất cả nước, với diện tích 182.343ha và sản lượng thu hoạch hàng năm đạt trên 400.000 tấn, chiếm 40% sản lượng cả nước.