Tổng quan luận án
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có diện tích đất phèn tự nhiên khoảng 1,6 triệu hecta, chiếm gần một nửa diện tích đất của toàn vùng và phân bố tập trung ở 4 vùng sinh thái: Tứ Giác Long Xuyên (TGLX), Đồng Tháp Mười (ĐTM), Bán Đảo Cà Mau (BĐCM) và vùng trũng Tây Nam Sông Hậu (TSH). Trước những năm 1980, nhiều chương trình điều tra thổ nhưỡng quy mô cấp nhà nước (02-15, 02-11, 60-02) và hợp tác quốc tế (Việt - Hà Lan, Việt - Bỉ) đã thiết lập hồ sơ dữ liệu lý hóa học đất. Đặc biệt, bộ số liệu phẫu diện chuẩn được thu thập phục vụ Hội thảo Đất phèn Thế giới lần thứ 4 tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 1992 (4th - ISSASS). Tuy nhiên, sau hơn hai thập kỷ thâm canh nông nghiệp với hệ thống đê bao, rửa phèn và bón phân liên tục, hình thái phẫu diện và các đặc tính hóa học đất đã có những biến đổi thực tế nhưng chưa được đánh giá lại một cách hệ thống trên cùng các vị trí phẫu diện chuẩn. Đồng thời, đất phèn có đặc tính chua (pH thấp), tích tụ độc tố nhôm ($Al^{3+}$) và sắt ($Fe^{2+}$) tự do gây cố định lân nghiêm trọng, dẫn đến hiệu quả sử dụng phân bón thấp. Các nghiên cứu quản lý dưỡng chất theo vùng chuyên biệt (SSNM) trước đây chủ yếu tập trung trên đất phù sa ngọt, còn trên đất phèn chủ yếu dừng lại ở các chỉ tiêu sinh trưởng. Do đó, việc tái khảo sát phẫu diện sau hơn 20 năm kết hợp định lượng khả năng cung cấp dinh dưỡng N, P, K bản địa và thử nghiệm phụ gia polymer ức chế cố định lân (Avail) là khoảng trống khoa học cấp thiết.
Mục tiêu chung của luận án là đánh giá sự biến đổi về hình thái phẫu diện, tính chất hóa học đất phèn sau hơn 20 năm canh tác và xác định nhu cầu, khả năng cung cấp dưỡng chất NPK cho cây lúa trên đất phèn ở ĐBSCL.
Các mục tiêu cụ thể được đánh số theo văn bản:
- Đánh giá sự thay đổi hình thái phẫu diện và tính chất hóa học đất phèn ĐBSCL sau thời gian 20 năm canh tác.
- Xác định khả năng cung cấp dưỡng chất NPK cho lúa trên đất phèn điển hình ở ĐBSCL.
- Xác định hiệu quả sử dụng phân lân dạng DAP phối trộn Avail cho lúa trên đất phèn ĐBSCL.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hình thái phẫu diện và tính chất hóa học của 05 vị trí đất phèn điển hình; hiệu suất sử dụng phân bón NPK cho lúa; hiệu quả của phân lân Diammonium Phosphate (DAP) bọc hoạt chất Dicarboxylic Acid Polymer (Avail); giống lúa ngắn ngày chịu phèn OM5451 (thời gian sinh trưởng 88–95 ngày).
- Phạm vi không gian: 05 phẫu diện đất phèn khảo sát lại thuộc 03 vùng sinh thái gồm Hồng Dân (Bạc Liêu - BĐCM), Phụng Hiệp (Hậu Giang - TSH), Tân Thạnh, Thạnh Hóa (Long An - ĐTM) và Tân Phước (Tiền Giang - ĐTM). Thí nghiệm đồng ruộng về dưỡng chất và Avail được thực hiện trên 04 điểm đại diện cho 4 vùng sinh thái gồm BĐCM (Hồng Dân), TSH (Phụng Hiệp), TGLX (Hòn Đất) và ĐTM (Tân Thạnh/Thạnh Hóa/Tân Phước) thuộc đề tài cấp Nhà nước BĐKH 57.
- Phạm vi thời gian: Khảo sát đối chứng hình thái và tính chất đất giữa hai mốc năm 1992 và năm 2015. Các thí nghiệm đồng ruộng được triển khai trong vụ Hè Thu (HT) 2014 và Đông Xuân (ĐX) 2014–2015.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tổng quan hệ thống các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế về nguồn gốc phát sinh, phân loại và động thái dưỡng chất trên đất phèn:
- Về nguồn gốc, tiến trình sinh hóa và phân bố đất phèn: Khái niệm đất phèn gắn liền với vật liệu sinh phèn pyrite ($FeS_2$) được hình thành từ trầm tích biển trong điều kiện yếm khí chứa chất hữu cơ và nguồn sulfate ($SO_4^{2-}$) theo nghiên cứu của Pons (1973), Buringh (1970), Pons và Breemen (1982). Dent và Pons (1995), Woodroffe và ctv. (1993) chỉ ra sự tích tụ pyrite dày đặc trong thời kỳ biển tiến Holocene. Xuan và Matsui (1998), Chiểu và ctv. (1991, 1996) xác định sự phân bố gần 1,6 triệu ha đất phèn ĐBSCL tập trung tại 4 bồn trũng chính. Tác hại giải phóng độc tố chua, nhôm, sắt hòa tan gây ô nhiễm môi trường nước và suy giảm thảm thực vật được ghi nhận bởi Sammut và ctv. (1995, 1996), Callinan và ctv. (1996), Nedeco (1993, 1994), Mensvoort (1993), Tin và Ghassemi (1999), Nystrand và ctv. (2012).
- Về phân loại đất phèn: Các hệ thống phân loại chính bao gồm USDA Soil Taxonomy (USDA, 2006) với các nhóm Sulfaquents, Fluvaquents, Sulfaquepts, Tropaquepts; hệ thống FAO/UNESCO (1988) và FAO-WRB dựa trên tầng sulfuric và vật liệu sulfidic kết hợp tiền tố độ sâu Epi, Endo, Bathi; hệ thống phân loại đất Việt Nam theo TCVN 9487:2012 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn quy định các ký hiệu đất phèn tiềm tàng (Sp) và phèn hoạt động (Sj) nông/sâu.
- Về đặc tính hóa học và dinh dưỡng NPK trên đất lúa: pH đất phèn thấp thường dưới 4,0 làm tăng độ linh động của Fe, Al, Mn và làm giảm hữu dụng N, P, Ca, Mg (Dent, 1986; Brinkman và ctv., 1993; Gương, 2010; Sahrawat, 2015). Đạm trong đất phèn tuy có hàm lượng tổng số từ trung bình đến giàu (0,1–0,4% N) nhưng tốc độ khoáng hóa thấp do pH chua và ngập nước (Kawaguchi và Kyuma, 1977; Bá, 2003; Dũng và Khôi, 2016). Phân đạm dễ mất do khử nitrate (28–33%) và bốc hơi $NH_3$ (5–47%) theo Datta (1987), Savant và Datta (1982). Lân trong đất phèn bị cố định mạnh bởi oxit nhôm và sắt tạo kết tủa Al-P, Fe-P không tan (Patrick và Khalid, 1974; Krairapanond và ctv., 1993; Gương và ctv., 1998; Lin, 2002). Kali trao đổi biến động từ 0,21–0,36 cmol/kg và có nguy cơ cạn kiệt nếu thâm canh 3 vụ không hoàn trả rơm rạ (Hoa, 2005; Giang và Hoa, 2012).
- Về ứng dụng quản lý dinh dưỡng chuyên biệt (SSNM) và phụ gia polymer: Khung phương pháp SSNM dựa trên nguyên lý bón khuyết dưỡng chất để đánh giá dinh dưỡng bản địa do Dobermann và ctv. (1996), Witt và ctv. (1999) phát triển và được Tân (2005), Khương và ctv. (2007), Thúc và ctv. (2008), Hưng và ctv. (2016) thử nghiệm tại ĐBSCL. Kỹ thuật bọc phân lân bằng copolymer dicarboxylic acid (Avail/DCAP) nhằm tạo mật độ điện tích cao thu hút các cation $Fe^{2+}, Al^{3+}, Ca^{2+}, Mg^{2+}$, giảm sự cố định phosphate được phát triển bởi Sanders và ctv. (2012), Gordon (2007), Hopkins và ctv. (2008), Dunn và Stevens (2008), Cruz (2008). Tuy nhiên, một số nghiên cứu của Cahill và ctv. (2013), Karamanos và Puurveen (2011), Khương và ctv. (2017), Dang và ctv. (2017) cho thấy hiệu lực của Avail không đồng nhất trên mọi loại cây trồng và chân đất.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết là: Thiếu dữ liệu thực nghiệm định lượng về sự biến đổi hình thái và hóa tính đất sau hơn 20 năm tại các phẫu diện đất phèn cố định; thiếu số liệu bón khuyết NPK để xác định khả năng cung cấp dinh dưỡng nội tại của đất phèn phục vụ khuyến cáo SSNM cho cây lúa; và chưa có kết luận đầy đủ về hiệu quả thực tế của phân lân bọc Avail polymer trên các tiểu vùng phèn khác nhau ở ĐBSCL.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên cơ sở lý thuyết phát sinh học thổ nhưỡng, lý thuyết chuyển hóa dinh dưỡng khoáng trong đất ngập nước, nguyên lý quản lý dinh dưỡng theo vùng chuyên biệt (Site-Specific Nutrient Management - SSNM) và cơ chế cản trở phản ứng cố định ion phosphate của polymer mật độ điện tích cao (DCAP).
Phương pháp nghiên cứu bao gồm:
- Phương pháp điều tra, khảo sát và phân loại đất:
- Thu thập số liệu thứ cấp năm 1992 từ phòng thí nghiệm Bộ môn Khoa học Đất, Trường Đại học Cần Thơ (tài liệu 4th - ISSASS).
- Đào phẫu diện, mô tả hình thái và lấy mẫu đất theo tầng phát sinh vào năm 2015 theo hướng dẫn chuẩn FAO (2006) tại đúng 05 vị trí tọa độ địa lý tương ứng năm 1992.
- Phân loại tên đất theo hệ thống FAO/UNESCO (1988) và Cơ sở Tham chiếu Tài nguyên Đất Thế giới FAO-WRB.
- Phương pháp phân tích phòng thí nghiệm:
- $pH_{H_2O}$ và $pH_{KCl}$ đo bằng điện cực thủy tinh (tỷ lệ đất:dung dịch 1:2,5).
- Độ dẫn điện ($EC$) đo ở tỷ lệ đất:nước 1:2,5.
- Acid tổng số và nhôm trao đổi ($Al^{3+}$) trích bằng $KCl$ 1M và chuẩn độ bằng $NaOH$ 0,1M.
- Sắt tự do ($Fe_2O_3$) trích bằng dung dịch Citrate - Bicarbonate - Dithionite (CBD).
- Chất hữu cơ ($CHC$) xác định theo phương pháp Walkley - Black.
- Đạm tổng số ($N_{ts}$) xác định theo phương pháp Micro-Kjeldahl.
- Lân tổng số ($P_{ts}$) vô cơ hóa bằng $H_2SO_4 + HClO_4$; lân dễ tiêu ($P_{dt}$) trích theo phương pháp Bray 2.
- Các cation trao đổi ($Ca^{2+}, Mg^{2+}, K^+, Na^+$) trích bằng dung dịch Ammonium Acetate ($NH_4OAc$) 1N pH 7,0; đo $K^+, Na^+$ bằng quang kế ngọn lửa (Flame photometer), $Ca^{2+}, Mg^{2+}$ bằng máy hấp thu nguyên tử (AAS).
- Thành phần cơ giới xác định theo phương pháp ống hút Robinson.
- Phương pháp bố trí thí nghiệm đồng ruộng:
- Thí nghiệm xác định nhu cầu NPK: Bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên (RCBD) với 5 nghiệm thức gồm: Bón đầy đủ NPK theo khuyến cáo (NPK), khuyết đạm (-N: 0N-PK), khuyết lân (-P: N-0P-K), khuyết kali (-K: NP-0K), và nghiệm thức tập quán nông dân (FFP), lặp lại 4 lần.
- Thí nghiệm đánh giá phân lân bọc Avail: Bố trí RCBD gồm các mức lân đơn và lân phối trộn Avail: đối chứng không lân (0P), 30 kg $P_2O_5$/ha, 30 kg $P_2O_5$ + Avail, 60 kg $P_2O_5$/ha, 60 kg $P_2O_5$ + Avail, bón trên nền phân đạm và kali đồng nhất.
- Phân tích mẫu cây: Xác định hàm lượng N (Kjeldahl), P (so màu vàng phospho-vanado-molybdate), K (quang kế ngọn lửa) trong rơm rạ và hạt lúa khi thu hoạch để tính toán tổng lượng hấp thu và khả năng đất cung cấp.
| Chỉ tiêu nghiên cứu |
Phương pháp phân tích / Đánh giá |
Tiêu chuẩn / Dụng cụ |
| Khảo sát phẫu diện |
Mô tả hình thái tầng phát sinh |
Hướng dẫn FAO (2006) |
| pH đất |
Tỷ lệ đất:dung dịch 1:2,5 ($H_2O$ và $KCl$) |
Máy đo pH điện cực thủy tinh |
| Nhôm trao đổi ($Al^{3+}$) |
Trích $KCl$ 1M |
Chuẩn độ $NaOH$ 0,1M |
| Lân dễ tiêu ($P_{dt}$) |
Trích dung dịch Bray 2 |
So màu quang phổ |
| Cation trao đổi ($Ca, Mg, K, Na$) |
Trích $NH_4OAc$ 1N pH 7,0 |
AAS và Flame photometer |
| Nhu cầu NPK bản địa |
Thí nghiệm lô khuyết dưỡng chất (SSNM) |
Khối hoàn toàn ngẫu nhiên (RCBD) |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Giới thiệu
Chương này trình bày bối cảnh kinh tế - kỹ thuật của vùng đất phèn ĐBSCL, tính cấp thiết của việc đánh giá lại độ phì nhiêu đất sau hơn 20 năm canh tác nông nghiệp. Chương xác định 1 mục tiêu chung, 3 mục tiêu cụ thể, 3 nội dung nghiên cứu tương ứng, ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn, đối tượng, phạm vi không gian (5 phẫu diện, 4 điểm thí nghiệm), phạm vi thời gian (1992 so với 2015, vụ HT 2014 và ĐX 2014–2015) cùng 4 điểm mới của luận án.
Chương 2: Lược khảo tài liệu
Chương 2 tổng hợp toàn diện các cơ sở lý luận và tài liệu nghiên cứu gồm:
- Định nghĩa, các giai đoạn phát sinh khoáng pyrite ($FeS_2$), phản ứng hình thành phèn hoạt động qua quá trình oxy hóa tạo jarosite và acid sulfuric:
$$FeS_2 + \frac{15}{4}O_2 + \frac{7}{2}H_2O \rightarrow Fe(OH)_3 + 2SO_4^{2-} + 4H^+$$
- Sự phân bố của 1,6 triệu ha đất phèn ĐBSCL theo 4 tiểu vùng địa mạo và các phân loại theo USDA Soil Taxonomy, FAO/UNESCO (1988) và TCVN 9487:2012.
- Đặc tính hóa học của đất phèn: độ biến động pH, động thái chất hữu cơ, các quá trình khoáng hóa - bất động - thất thoát đạm, cơ chế cố định ion phosphate bởi nhôm và sắt trong điều kiện chua, dung tích hấp thu và cân bằng các cation trao đổi ($Ca^{2+}, Mg^{2+}, K^+, Na^+$).
- Khả năng cung cấp NPK cho lúa, kỹ thuật quản lý dinh dưỡng theo vùng chuyên biệt (SSNM) kết hợp bảng so màu lá (LCC), cùng công nghệ bọc hạt lân DAP bằng polymer DCAP (Avail) để cải thiện độ hữu dụng của lân.
- Đặc điểm tự nhiên, thủy văn và tập quán canh tác của 4 vùng sinh thái: Tứ Giác Long Xuyên, Đồng Tháp Mười, Bán Đảo Cà Mau và trũng Tây Nam Sông Hậu.
Chương 3: Vật liệu và Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 mô tả chi tiết địa điểm tọa độ 5 phẫu diện khảo sát (Hồng Dân, Phụng Hiệp, Tân Thạnh, Thạnh Hóa, Tân Phước), đặc điểm khí tượng thủy văn (nhiệt độ, lượng mưa, bức xạ) và lịch thời vụ của 5 hệ thống canh tác giai đoạn 1992–2015. Trình bày chi tiết quy trình bố trí thí nghiệm ngoài đồng ruộng tại 4 địa điểm, liều lượng bón phân theo các giai đoạn 10, 20, 45 ngày sau sạ (NSS) và các quy trình phân tích hóa lý đất, mẫu cây trong phòng thí nghiệm.
Chương 4: Kết quả thảo luận
Chương 4 gồm ba nội dung kết quả chính:
1. Sự biến đổi hình thái và tính chất hóa học đất phèn sau 20 năm (2015 so với 1992)
- Về hình thái phẫu diện: Tầng đất canh tác ($A_p/A_h$) dày hơn, xuất hiện nhiều đốm rỉ màu nâu đỏ dọc theo vệt rễ lúa. Tầng tích tụ B có hiện tượng trực di hữu cơ dạng humic và trực di hạt sét xuống sâu. Các đốm jarosite chuyển sắc nét hơn từ màu vàng rơm nhạt (2.5Y 8/6) sang vàng đậm (2.5Y 8/8), đồng thời có sự khuếch tán các đốm oxit sắt màu vàng đỏ (7.5YR 6/8) xen kẽ vào nền jarosite. Về phân loại học FAO-WRB, tên đất của cả 5 phẫu diện không thay đổi sau 20 năm do tầng chẩn đoán sulfuric và vật liệu sulfidic vẫn hiện diện ở độ sâu phân loại gốc, gồm 2 nhóm chính: phèn hoạt động nông/nặng (Epi-Orthi Thionic) và phèn hoạt động sâu/nhẹ (Endo-Orthi Thionic).
- Về đặc tính hóa học tầng đất mặt: Giá trị $pH_{H_2O}$ ít biến động, duy trì ở mức chua đến rất chua ($pH < 5,0$). Độc tố acid tổng, $Al^{3+}$ trao đổi và $Fe_2O_3$ tự do vẫn ở mức trung bình đến cao. Hàm lượng $Ca^{2+}$ trao đổi tăng từ 4 đến 7 lần tại tất cả các điểm khảo sát nhờ tập quán bón phân và bón vôi cải tạo. Đạm tổng số đạt mức trung bình (0,26–0,49% N), trong khi lân dễ tiêu (2,28–18,4 mg $P_2O_5$/kg) và kali trao đổi (0,11–0,36 cmol/kg) luôn ở mức nghèo đến thấp.
| Phẫu diện khảo sát |
Tên đất (FAO-WRB) |
$pH_{H_2O}$ (1992) |
$pH_{H_2O}$ (2015) |
$Ca^{2+}$ trao đổi (1992) [cmol/kg] |
$Ca^{2+}$ trao đổi (2015) [cmol/kg] |
| Hồng Dân (Bạc Liêu) |
Epi-Orthi Thionic |
4,40 |
4,50 |
1,20 |
5,30 |
| Phụng Hiệp (Hậu Giang) |
Epi-Orthi Thionic |
4,20 |
4,35 |
1,50 |
6,80 |
| Tân Thạnh (Long An) |
Endo-Orthi Thionic |
4,50 |
4,60 |
1,10 |
7,10 |
| Thạnh Hóa (Long An) |
Epi-Orthi Thionic |
4,10 |
4,30 |
0,90 |
4,80 |
| Tân Phước (Tiền Giang) |
Epi-Orthi Thionic |
3,90 |
4,15 |
0,80 |
5,60 |
2. Khả năng cung cấp dưỡng chất NPK và đáp ứng năng suất lúa
- Dinh dưỡng đạm (N): Đất phèn cung cấp trung bình 54,6% nhu cầu N tổng hấp thu của lúa trong vụ HT và 61,6% trong vụ ĐX. Việc không bón đạm làm giảm năng suất lúa 29% trong vụ HT và 36% trong vụ ĐX. Khi bón 80 kg N/ha trong vụ HT, năng suất lúa đạt trung bình 4,8 tấn/ha; trong vụ ĐX bón 100 kg N/ha, năng suất đạt trung bình 8,0 tấn/ha.
- Dinh dưỡng lân ($P_2O_5$) và kali ($K_2O$): Khả năng đất phèn cung cấp $P_2O_5$ đạt trung bình 84% (vụ HT) và 83% (vụ ĐX); khả năng cung cấp $K_2O$ đạt 83% (vụ HT) và 85% (vụ ĐX) so với tổng lượng hấp thu của cây lúa.
| Vụ canh tác |
Đất cung cấp N (%) |
Đất cung cấp $P_2O_5$ (%) |
Đất cung cấp $K_2O$ (%) |
Mức giảm năng suất khi không bón N (%) |
Năng suất lúa tối ưu (tấn/ha) |
| Hè Thu (HT) |
54,6 |
84,0 |
83,0 |
29,0 |
4,8 (mức bón 80 kg N/ha) |
| Đông Xuân (ĐX) |
61,6 |
83,0 |
85,0 |
36,0 |
8,0 (mức bón 100 kg N/ha) |
3. Hiệu quả sử dụng phân lân DAP phối trộn hoạt chất Avail polymer
- Kết quả khảo nghiệm cho thấy phân lân DAP phối trộn Avail ($30P_2O_5$ + Avail) chỉ thể hiện hiệu quả rõ rệt làm gia tăng thành phần năng suất, năng suất lúa và lượng P hấp thu duy nhất tại điểm đất phèn nặng Phụng Hiệp trong vụ HT so với nghiệm thức chỉ bón $30P_2O_5$ đơn thuần.
- Ở một số điểm thí nghiệm, nghiệm thức bón $30P_2O_5$ + Avail cho năng suất tương đương với nghiệm thức bón $60P_2O_5$ không bọc polymer, giúp giảm 50% lượng phân lân thương phẩm cần bón theo khuyến cáo thông thường. Tuy nhiên, tại các điểm phèn nhẹ hoặc vụ ĐX khi điều kiện ngập nước giải phóng nhiều lân bản địa, hiệu lực của Avail không có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê.
Chương 5: Kết luận và Đề nghị
Tổng hợp toàn bộ các kết luận khoa học rút ra từ 3 nội dung nghiên cứu và đưa ra các kiến nghị về việc áp dụng quy trình bón phân SSNM trên đất phèn, lưu ý điều kiện áp dụng chế phẩm Avail polymer trên các loại đất phèn nặng.
Kết quả và những đóng góp mới
Những đóng góp mới về mặt khoa học và thực tiễn của luận án:
- Đóng góp khoa học:
- Cung cấp dẫn liệu khoa học về sự ổn định trong phân loại đất của 05 phẫu diện đất phèn ĐBSCL theo FAO-WRB sau 20 năm canh tác: tên đất không thay đổi (giữ nguyên 2 nhóm Epi-Orthi Thionic và Endo-Orthi Thionic) do các tầng chẩn đoán sulfuric và vật liệu sulfidic sâu bên dưới không bị mất đi, dù hình thái tầng mặt và tầng B có sự biến đổi rõ về màu sắc đốm jarosite (chuyển từ 2.5Y 8/6 sang 8/8) và sự tích tụ hữu cơ, oxit sắt.
- Xác định được định lượng tỷ lệ cung cấp dinh dưỡng tự nhiên của đất phèn cho cây lúa: đất cung cấp 54,6–61,6% N; 83,0–84,0% $P_2O_5$ và 83,0–85,0% $K_2O$ trên tổng nhu cầu hấp thu của cây.
- Chứng minh cơ chế phản ứng của hoạt chất polymer DCAP (Avail) bọc phân DAP trên đất phèn: chỉ phát huy hiệu quả tăng năng suất và hấp thu lân rõ rệt trên chân đất phèn nặng (như Phụng Hiệp) trong điều kiện vụ Hè Thu khi các độc tố $Fe^{2+}, Al^{3+}$ hoạt động mạnh.
- Đóng góp thực tiễn và kiến nghị giải pháp:
- Đề xuất khung bón phân cân đối theo SSNM cho giống lúa ngắn ngày trên đất phèn ĐBSCL: vụ Hè Thu bón 80 kg N/ha (năng suất đạt 4,8 tấn/ha), vụ Đông Xuân bón 100 kg N/ha (năng suất đạt 8,0 tấn/ha).
- Khuyến nghị sử dụng phân lân bọc polymer Avail tại các vùng đất phèn hoạt động nặng nhằm tiết giảm 50% lượng phân lân nguyên chất ($P_2O_5$) bón vào đất mà vẫn duy trì năng suất lúa tương đương mức bón 60 kg $P_2O_5$/ha.
- Tiếp tục duy trì việc bổ sung phân canxi/vôi và quản lý nước hợp lý để giữ vững sự gia tăng hàm lượng $Ca^{2+}$ trao đổi và giảm thiểu nguy cơ bộc phát độc tố phèn trong mùa khô.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Văn bản luận án nêu rõ một số giới hạn phạm vi nghiên cứu:
- Về phạm vi không gian: Đối với nội dung đánh giá sự biến đổi hình thái và tính chất hóa học phẫu diện sau 20 năm, nghiên cứu chỉ thực hiện được trên 03 vùng sinh thái (BĐCM, TSH, ĐTM), không thực hiện được trên vùng Tứ Giác Long Xuyên (TGLX) do tư liệu hội thảo quốc tế năm 1992 không có hồ sơ phẫu diện và số liệu phân tích đất tại vùng này.
- Về hiệu lực của chế phẩm polymer: Hoạt chất Avail bọc phân lân chỉ thể hiện hiệu quả tăng năng suất rõ rệt ở 01 địa điểm đất phèn nặng vụ Hè Thu, chưa cho thấy hiệu quả phổ quát trên tất cả các loại đất phèn và các mùa vụ khác.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Cần mở rộng khảo sát phẫu diện đất phèn tại vùng TGLX để hoàn thiện bức tranh thổ nhưỡng toàn diện cho 4 vùng sinh thái; đồng thời nghiên cứu sâu hơn về cơ chế sinh hóa và hiệu quả kinh tế dài hạn của phân lân bọc polymer trên nhiều đối tượng cây trồng cạn và cây ăn trái canh tác trên đất phèn.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo cho:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Khoa học Đất, Nông học, Quản lý Đất đai và Môi trường: Tham khảo phương pháp mô tả phẫu diện chuẩn FAO (2006), phân loại đất FAO-WRB, kỹ thuật bố trí thí nghiệm ô khuyết dinh dưỡng (SSNM) và các phương pháp phân tích hóa lý đất phèn chuyên sâu.
- Các nhà quản lý nông nghiệp và khuyến nông tại các tỉnh vùng ĐBSCL: Áp dụng định mức phân bón khuyến cáo NPK theo mùa vụ (HT và ĐX) cho lúa chịu phèn; cân nhắc ứng dụng phân lân bọc polymer DCAP để tiết kiệm chi phí phân bón tại các vùng phèn nặng.
- Các nhà hoạch định chính sách sử dụng đất: Sử dụng dữ liệu biến động độ phì sau 20 năm để xây dựng chiến lược quản lý đất phèn thích ứng với biến đổi khí hậu.
Câu hỏi thường gặp
-
Tại sao sau hơn 20 năm canh tác nông nghiệp liên tục, tên phân loại của 05 phẫu diện đất phèn theo hệ thống FAO-WRB vẫn không thay đổi?
Theo nguyên tắc phân loại của hệ thống FAO/UNESCO và FAO-WRB, việc đặt tên đất phèn dựa chủ yếu vào sự hiện diện của tầng chẩn đoán sulfuric (sulfuric horizon) và vật liệu chẩn đoán sinh phèn sulfidic (sulfidic materials) cùng độ sâu xuất hiện của chúng (Epi, Endo). Sau 20 năm canh tác, mặc dù tầng đất mặt canh tác phát triển dày hơn và màu sắc đốm jarosite chuyển biến đậm hơn, các tầng chẩn đoán sulfuric và sulfidic ở các phẫu diện vẫn tồn tại ổn định trong phẫu diện, do đó 05 phẫu diện vẫn giữ nguyên tên phân loại gồm 2 nhóm: phèn hoạt động nông (Epi-Orthi Thionic) và phèn hoạt động sâu (Endo-Orthi Thionic).
-
Sự thay đổi về hình thái phẫu diện đất phèn năm 2015 so với năm 1992 được biểu hiện cụ thể ở những đặc điểm nào?
Sau 20 năm, tầng đất mặt canh tác ($A_p/A_h$) phát triển sâu và tơi xốp hơn, xuất hiện nhiều đốm rỉ màu nâu đỏ dọc theo các ống rễ lúa. Ở tầng tích tụ B, có sự trực di của chất hữu cơ humic và các hạt sét xuống phía dưới; các đốm jarosite có sự chuyển màu rõ rệt từ vàng nhạt (2.5Y 8/6) sang vàng đậm (2.5Y 8/8) và có sự khuếch tán các đốm oxit sắt màu vàng đỏ (7.5YR 6/8) xen vào nền đốm jarosite.
-
Hàm lượng canxi ($Ca^{2+}$) trao đổi trong đất phèn biến động như thế nào sau 20 năm canh tác và nguyên nhân do đâu?
Hàm lượng canxi trao đổi ($Ca^{2+}$) tại tất cả 05 phẫu diện khảo sát năm 2015 đều tăng từ 4 đến 7 lần so với số liệu năm 1992 (ví dụ tại Tân Thạnh tăng từ 1,10 lên 7,10 cmol/kg; Phụng Hiệp tăng từ 1,50 lên 6,80 cmol/kg). Sự gia tăng này là kết quả của quá trình canh tác lâu dài, nông dân thường xuyên bón vôi cải tạo phèn kết hợp với việc bón các loại phân bón có chứa gốc canxi và nguồn nước tưới mang phù sa.
-
Khả năng đất tự cung cấp đạm (N), lân ($P_2O_5$) và kali ($K_2O$) cho cây lúa trên đất phèn ĐBSCL đạt tỷ lệ bao nhiêu phần trăm?
Kết quả thí nghiệm ô khuyết dinh dưỡng xác định: Đất phèn tự cung cấp N cho cây lúa đạt 54,6% (vụ Hè Thu) và 61,6% (vụ Đông Xuân) so với tổng nhu cầu hấp thu; cung cấp $P_2O_5$ đạt trung bình 84% (vụ Hè Thu) và 83% (vụ Đông Xuân); cung cấp $K_2O$ đạt trung bình 83% (vụ Hè Thu) và 85% (vụ Đông Xuân).
-
Phân lân DAP bọc hoạt chất Avail polymer thể hiện hiệu quả như thế nào trên đất phèn trồng lúa?
Phân lân DAP phối trộn Avail polymer ($30P_2O_5$ + Avail) chỉ thể hiện hiệu quả làm tăng năng suất lúa và lượng hấp thu lân rõ rệt so với đối chứng bón $30P_2O_5$ không bọc duy nhất tại điểm đất phèn nặng Phụng Hiệp trong vụ Hè Thu. Ngoài ra, việc sử dụng $30P_2O_5$ + Avail tại một số điểm giúp đạt năng suất tương đương với mức bón $60P_2O_5$ thông thường, giúp tiết kiệm 50% lượng phân lân cần bón.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Văn Hùng đã làm rõ bức tranh biến đổi hình thái phẫu diện và đặc tính hóa lý của đất phèn ĐBSCL sau hơn 20 năm canh tác nông nghiệp, xác nhận tính ổn định của tên phân loại đất theo hệ thống FAO-WRB cùng sự gia tăng rõ rệt của hàm lượng canxi trao đổi. Nghiên cứu đã định lượng chính xác khả năng cung cấp dinh dưỡng NPK bản địa của đất phèn trong hai mùa vụ Hè Thu và Đông Xuân, làm cơ sở khoa học để đề xuất mức bón phân đạm tối ưu (80–100 kg N/ha) theo phương pháp SSNM. Đồng thời, luận án đã xác định phạm vi hiệu lực thực tế của công nghệ phân lân bọc polymer Avail, chứng minh hoạt chất chỉ phát huy tác dụng rõ rệt trên vùng đất phèn hoạt động nặng trong vụ Hè Thu, mang lại luận cứ quan trọng cho việc sử dụng phân bón hiệu quả và quản lý bền vững tài nguyên đất phèn ĐBSCL.