Đặt vấn đề Rừng là một hệ sinh thái mà quần xã cây rừng giữ vai trò chủ đạo trong mối quan hệ tương tác giữa sinh vật với môi trường. Rừng là hơi thở của sự sống, là một nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, nó giữ một vai trò rất quan trọng trong quá trình sinh trưởng phát triển của lòai người. Rừng điều hòa khí hậu (tạo ra oxi, điều hòa nước, ngăn chặn gió bão, chống xói mòn đất…). Bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường sống.
Rừng còn giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc phát triển kinh tế như: Cung cấp nguồn gỗ, tre, nứa, đặc sản rừng, các loài động thực vật có giá trị trong nước và xuất khẩu… ngoài ra nó còn mang ý nghĩa quan trọng về cảnh quan thiên nhiên và an ninh quốc phòng. Hiện nay nhu cầu sử dụng gỗ của con người ngày càng tăng, nhưng sản lượng gỗ lấy ra từ rừng tự nhiên còn ít không thể đáp ứng đủ nhu cầu. Gỗ vẫn là nguồn nguyên liệu không thể thiếu được trong cuộc sống hàng ngày. Từ gỗ, người ta có thể tạo ra nhiều vật dụng và các loại sản phẩm khác nhau phục vụ cho sinh hoạt của con người.
Chính vì những lý do, khó khăn đó những nhà nghiên cứu lâm nghiệp đang từng ngày, từng giờ luôn luôn tiến hành các nghiên cứu nhằm tạo ra những giống cây mới có năng sất và chất lượng cao đáp ứng nhu cầu trên. Sau những nghiên cứu Keo tai tượng (Acacia mangium) là một trong những loài cây đang được các nhà nghiên cứu quan tâm và hướng tới. Đây là loài cây đã được xác định là thích hợp với điều kiện đất đai, khí hậu ở Việt Nam và có diện tích gây trồng tương đối lớn. Keo tai tượng (Acacia mangium), còn có tên gọi khác là Keo lá to, Keo đại, Keo mỡ, Keo hạt là một cây thuộc phân họ Trinh nữ (Mimosoideae).
Keo tai tượng là dạng cây gỗ lớn, chiều cao có thể đạt tới 30 m. Đường kính có thể 2 đạt được đến 120 - 150 cm. Keo tai tương thích hợp nơi có nhiệt độ bình quân năm 23 - 24oC, lượng mưa từ 1. Keo tai tượng là loài cây ưa đất ẩm, thành phần cơ giới trung bình và thoát nước.
Vì vậy nên tiến hành trồng rừng sau khi trời mưa hoặc trồng đón mưa trước 1 - 3 ngày. Có thể trồng tập trung hoặc phân tán đều được. Loài cây này có chu kỳ kinh doanh ngắn, gỗ có thể phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau như làm giấy, ván dăm, ván sợi. Ngoài việc cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp sản xuất giấy, ván nhân tạo, gỗ của loài cây này còn được sử dụng cho các mục đích khác như xây dựng, đồ gỗ, trang trí nội thất, gỗ củi… Định Hóa là một huyện miền núi nằm về phía Tây - Bắc của tỉnh Thái Nguyên, với dân số năm 2009 là 86.200 người, tổng diện tích đất tự nhiên là 51,109 ha, trong đó diện tích đất có rừng là 27.438 ha chiếm 53,68%, diện tích đất nông nghiệp chiếm một phần nhỏ trong tổng diện tích đất tự nhiên của huyện (21%).
Hiện nay, trên địa bàn huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên, Keo tai tượng là loài cây trồng chính, được trồng với diện tích lớn và tập trung đã tạo điều kiện cho nấm bệnh phát triển, đặc biệt là bệnh chết héo… Nguyên nhân được xác định là do nấm Ceratocystis sp. Từ những nguyên nhân thực tiễn trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá tình hình bệnh hại Keo tai tượng theo tuổi do nấm Ceratocystis sp. gây ra tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên. Mục đích nghiên cứu Đánh giá tình hình bệnh hại Keo tai tượng theo độ tuổi do nấm Ceratocystis sp.
gây ra ở huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên. Mục tiêu nghiên cứu - Xác định được tỷ lệ và bệnh và mức độ bệnh hại do nấm Ceratocystis sp. - Đề xuất được một số giải pháp hạn chế mức độ phát triển của bệnh. Ý nghĩa việc thực hiện đề tài - Giúp cho sinh viên củng cố lại những kiến thức lý thuyết đã được học, đồng thời làm quen với thực tế, tích lũy học hỏi kinh nghiệm.
Thực hành thành thạo được các phương pháp trong điều tra, nghiên cứu các loại bệnh cây rừng khác nhau. - Làm cơ sở và tài liệu cho những đề tài và nghiên cứu có liên quan. - Sau khi thực hiện đề tài sinh viên có khả năng lên kế hoạch nghiên cứu hợp lý, biết tổng hợp, phân tích và đánh giá kết quả cũng như viết một báo cáo nghiên cứu. 4 PHẦN 2 TỒNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.
Cơ sở khoa học Khoa học bệnh cây được hình thành và phát triển do đòi hỏi của nhu cầu sản xuất cây nông nghiệp và do quá trình đấu tranh giữa thiên nhiên và con người, giữa ý thức duy vật và duy tâm. Ngay từ đầu của lịch sử trồng trọt, nhân dân lao động thông qua thực tế sản xuất và những kinh nghiệm của mình đã phát hiện và phòng trừ một số bệnh hại nguy hiểm (Đào Hồng Thuận, 2008) [17]. Bệnh cây là tình trạng sinh trưởng và phát triển không bình thường của cây dưới tác động của một hay nhiều yếu tố ngoại cảnh hoặc là vật ký sinh nào đó gây nên những thay đổi trong quá trình sinh lý. Từ đó dẫn đến những thay đổi trong chức năng cấu trúc, giải phẫu hình thái của một bộ phận nào đó trên cây hoặc toàn bộ cây làm cho cây sinh trưởng và phát triển kém, thậm chí có thể chết gây nên những thiệt hại về kinh tế (Đặng Kim Tuyến, 2005) [18].
Theo thống kê kết quả điều tra các nguyên nhân gây bệnh ở rừng nhiệt đới của Brown năm 1968 thì trong tổng số 772 loài cây rừng nhiệt đới khi điều tra tỷ lệ mắc bệnh cho thấy: Bệnh do nấm gây ra chiếm tới 83%, bệnh do cây kí sinh 12%, bệnh do Vi khuẩn chiếm 3,4%, bệnh do Virus chiếm 1% và còn lại là các nguyên nhân khác. Đối với rừng ôn đới có khí hậu lạnh tỷ lệ mắc bệnh do nấm chiếm từ 95% - 97%, còn lại là các nguyên nhân khác. Như vậy bệnh cây rừng nói chung chủ yếu do nấm gây nên (Đặng Kim Tuyến, 2005) [18]. Keo là loại cây trồng chính trong công tác trồng rừng hiện nay.
Sản phẩm rừng trồng keo là nguồn cung cấp gỗ nguyên liệu chủ lực cho các nhà máy chế biến gỗ dăm, bột giấy, đồ gia dụng, đồ thủ công mỹ nghệ, bao bì. Phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu có giá trị cao. Trong quá trình sinh trưởng, 5 phát triển của rừng còn góp phần quan trọng trong việc cải tạo đất, nâng cao độ phì, giữ ẩm, tạo độ xốp, phòng hộ bảo vệ đất, bảo vệ môi trường sinh thái, cảnh quan. Tuy nhiên, cây keo cũng như các loài cây trồng khác trong suốt quá trình sinh trưởng, phát triển rất dễ bị sâu bệnh gây hại, trong đó bệnh chết héo keo do nấm Ceratocsystis sp.
gây ra rất nguy hiểm mới được các nhà khoa học - Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam mới phát hiện trong những năm gần đây. Ở rừng trồng đối với bệnh hại thân cành không phổ biến như bệnh hại lá do cỏ cây dày và tế bào gỗ cứng nhưng bệnh này rất nguy hiểm vì nó làm cho các cây còn non, cây trưởng thành sau khi bị bệnh sẽ có thể chết khô bệnh không biểu hiện rõ như bệnh hại lá và một mặt chúng có thời gian ủ bệnh lâu (từ 1 - 2 tháng đến 1 - 2 năm) mặt khác do tính chất phức tạp của vật gây bệnh dẫn đến. Bệnh hại thân cành do nhiều vật gây bệnh tạo nên và phương thức lây lan của bệnh hại thân cành cũng khác nhau: Bệnh do nấm, vi khuẩn thường lây lan nhờ gió, mưa, côn trùng, bệnh do virus, mycoplasma lại nhờ côn trùng chích hút, cây kí sinh nhờ chim ăn vặt…(Trần văn Mão, 1997) [6]. Bệnh hại thân cành thường ít phát thành dịch và thường gây nên bệnh mãn tính do vật gây bệnh qua đông qua hạ trên vết bệnh (Đặng Kim Tuyến, 2005) [18].
Phòng trừ bệnh cây bao gồm nhiều biện pháp khác nhau. Có những biện pháp có tác dụng phòng, bảo vệ cây, có biện pháp có tác dụng trừ một loại bệnh cụ thể. Chúng bao gồm 6 biện pháp chủ yếu: Kỹ thuật lâm nghiệp (gồm các biện pháp canh tác, tổ chức và quản lý kinh doanh rừng), chọn giống cây chống chịu bệnh, kiểm dịch thực vật, sinh vật học, vật lý cơ giới và hoá học (Đào Hồng Thuận, 2008) [17]. Mục đích cuối cùng của khoa học bệnh cây là tìm ra những biện pháp có hiệu quả, có lợi về mặt kinh tế nhằm hạn chế tác hại của bệnh, bảo vệ cây, 6 làm cho cây sinh trưởng, phát triển cho năng suất và phẩm chất tốt.
Trên ý nghĩa đó, công tác phòng trừ bệnh cây không thể chỉ nhằm tiêu diệt nguồn bệnh mà việc tiêu diệt nguồn bệnh chỉ có ý nghĩa khi làm cho năng suất cây trồng không bị ảnh hưởng, giải phóng được nguồn bệnh và giữ được mức ổn định trong mọi trường hợp (Weber, 1973) [22]. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 2. Nghiên cứu về gây trồng Keo tai tượng Keo tai tượng có nguồn gốc từ Australia, Papua Guinea và Inđonexia, có sức sinh trưởng nhanh trên nhiều điều kiện lập địa khác nhau. Do Keo tai tượng đóng một vai trò quan trọng trong trồng rừng nên đã có nhiều nghiên cứu về loài cây này, bao gồm các nghiên cứu về đặc điểm sinh học đến kỹ thuật gây trồng cũng như khả năng sử dụng.
Từ những kết quả nghiên cứu có thể tóm tắt như sau: Keo tai tượng là loài cây mọc nhanh có biên độ sinh thái khá rộng. Keo tai tượng rất kén đất đòi hỏi đất phải tốt và sâu ẩm. Là cây họ đậu nên Keo tai tượng không chỉ là cây kinh tế mà còn là cây che phủ cải tạo đất và cải thiện điều kiện môi trường, ngày nay loài cây này đang được mở rộng ở nhiều nước, điển hình như Inđônêxia, Malaixia, Philippin,Thái Lan, Ấn Độ, Nigiêria, Tanzania, Băng-la-đét, Trung Quốc, Mỹ. Ngay cả Papua Niu Ghine, nơi có Keo tai tượng phân bố tự nhiên ở phía Đông và phía Nam cũng đã tiến hành dẫn giống lên phía Bắc để phủ xanh đất trống đồi trọc, cải tạo đất thoái hóa sau nương rẫy [20].
Tình hình sinh trưởng của Keo tai tượng trên các địa điểm của mỗi nước cũng rất khác nhau, tùy thuộc vào điều kiện đất đai và khí hậu cụ thể nơi gây trồng. Nhưng nhìn chung ở những nơi có lượng mưa trên 2000 mm, đất giầu dinh dưỡng thì khả năng sinh trưởng khá nhanh, trung bình chiều cao có thể đạt trên 2,5 m/năm.