Chương 1: Tổng quan Chương 2: Đánh giá mức độ ảnh hưởng của yếu tố đến TNGT Chương 3: Giải pháp quản lý tốc độ Chương 4: Đề xuất giải pháp quản lý tốc độ - cụ thể cho một số tuyến ở quận 1 Phụ lục CHƢƠNG 1. Tổng quan về tai nạn giao thông (TNGT) Tai nạn giao thông (TNGT) gây thiệt hại lớn về con người, tài sản và kinh tế xã hội. WHO, 2015 cũng đã ước tính TNGT gây thiệt hại hàng năm cho toàn thế giới khoảng 3 GDP, đặc biệt là các nước có thu nhập vừa và thấp thì thiệt hại do TNGT còn cao hơn, ước tính 5 GDP [1]. Việt Nam được xếp vào nhóm có mức thu nhập GVHD: TRẦN QUANG VƢỢNG THÁNG 4/2019 ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TRANG 16 MÃ ĐỀ TÀI: 554 trung bình (2.240 USD/capital), với tỷ lệ người chết do TNGT trên 100.000 dân là 24,5 và TNGT gây thiệt hại hằng năm chiếm 2,9 GDP [1].
Như vậy, TNGT rõ ràng không ch ảnh hưởng đến cá nhân mà còn ảnh hưởng đến toàn xã hội. WHO, 2018, ch ra rằng có đến gần 54 số người chết vì TNGT lại có liên quan đến người đi bộ (23 ), xe đạp (3 ) và xe hai bánh gắn máy (28 ) [2]. Theo số liệu của Ủy ban An toàn giao thông quốc gia, năm 2018 cả nước xảy ra 18.736 vụ tai nạn giao thông, làm chết 8.248 người, bị thương 14. So với cùng kỳ năm 2017, tai nạn giao thông giảm 1.348 vụ (giảm 6,71 ), giảm 33 người chết (giảm 0,4 ), số người bị thương giảm 2.
Trong đó, đường bộ xảy ra 8.939 vụ, làm chết 4.102 người, bị thương 7.072 người, đường sắt xảy ra 64 vụ, làm chết 54 người, bị thương 13 người và đường thủy xảy ra 40 vụ, làm chết 21 người (Cục CSGT Bộ Công an). Số liệu thống kê năm 2018 tại TP.HCM xảy ra 3.596 vụ TNGT đường bộ, làm chết 691 người, bị thương 2. Có nhiều nguyên nhân d n đến TNGT đường bộ như người điều khiển phương tiện có ý thức kém, không tôn tr ng luật giao thông, sử dụng bia rượu khi điều khiển xe, chạy quá tốc độ cho phép, phóng nhanh vượt ẩu và nhiều nguyên nhân chủ quan khác… tuy nhiên, yếu tố cũng tác động mạnh mẽ đến TNGT là ý thức chấp hành luật giao thông. Ý thức chấp hành giao thông là sự hiểu biết và tự giác chấp hành các quy định và luật lệ giao thông của người tham gia giao thông.
Việc tuân thủ tốc độ khi tham gia giao thông cũng thể hiện ý thức chấp hành luật giao thông. Thế nhưng, chạy quá tốc độ quy định dường như đã trở thành thói quen của nhiều người khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông, nhất là khi đã uống rượu, bia. Đây là một trong những nguyên nhân chính d n đến tai nạn giao thông, gây thiệt hại lớn về người và tài sản. Vì vậy, việc đánh giá mức độ ảnh hưởng của tốc độ đến TNGT nói chung, đặc biệt là mức độ ảnh hưởng của yếu tố tốc độ trong dòng xe hỗn hợp đến TNGT nói riêng đang là nhiệm vụ cần thiết.
Tổng quan về tai nạn giao thông liên quan đến yếu tố tốc độ Tai nạn giao thông là luôn vấn đề nhức nhối và đáng lo nhất không ch với con người mà còn ảnh hưởng tới sự phát triển của xã hội. Các nguyên nhân xảy ra TNGT GVHD: TRẦN QUANG VƢỢNG THÁNG 4/2019 ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TRANG 17 MÃ ĐỀ TÀI: 554 và đối tượng gây ra TNGT từ ít nghiêm tr ng trở lên như đi không đúng phần đường theo quy định, tự gây tai nạn, không chú ý quan sát, chuyển hướng không đúng quy định, xử lý tay lái kém, không giữ khoảng cách an toàn với xe chạy liền trước, qua đường không đúng quy định, vượt xe không đúng quy định, không chấp hành quy định nhường đường tại nơi giao nhau, sử dụng rượu bia quá nồng độ cồn quy định, không chấp hành quy định về đội mũ bảo hiểm, dừng đỗ xe trên đường không đúng quy định, hay việc không chấp hành quy định về tốc độ là một trong những nguyên nhân d n đến TNGT đối với xe cơ giới. Vi phạm tốc độ xảy ra 47 vụ tai nạn, chiếm 6,3 trong tổng các nguyên nhân d n đến TNGT [UBATGTQG, 2018], là con số đáng quan tâm đối với giao thông Việt Nam ở thời điểm hiện tại cũng như ở địa bàn TP. Một nghiên cứu khác cũng cho rằng, tốc độ là nguyên nhân trực tiếp ảnh hưởng đến mức độ nghiêm tr ng của các vụ tai nạn, mức độ chấn thương và số người chết của các vụ TNGT [3].
Nhiều nghiên cứu trên thế giới cũng ch ra rằng, cùng với việc nâng cao chất lượng phương tiện và cơ sở hạ tầng đường bộ thì việc giảm tốc độ sẽ nâng cao hiệu quả đáng kể trong công tác đảm bảo và nâng cao ATGT gồm cả số vụ và mức độ nghiêm tr ng [4, 5]. Cụ thể, cứ mỗi 1 tốc độ tăng lên thì sẽ d n đến tăng thêm 4 số người chết và 3 số người bị thương khi xảy ra vụ tai nạn [6] và khi tốc độ trung bình giảm 5 thì sẽ giảm được 30 số người chết trong các vụ TNGT [5]. Một số nghiên cứu trên thế giới liên quan tới yếu tố tốc độ như năm 2018 Cục quản lý Giao thông Thụy Điển đã thực hiện đánh giá các giới hạn tốc độ trên mạng lưới giao thông nông thôn quốc gia; trong năm 2008 và 2009, giới hạn tốc độ đã thay đổi trên khoảng 20.500km đường, trong đó khoảng 2700km được ch định tăng và 17.800 được ch định giảm giới hạn tốc độ; mục đích của việc nghiên cứu chủ yếu là để mô tả và phân tích hiệu quản an toàn giao thông dài hạn của việc tăng, cũng như giảm giới hạn tốc độ, mà còn để phân tích những thay đổi về tốc độ lái xe thực tế do giới hạn tốc độ thay đổi; qua kết quả cho thấy giảm tỷ lệ tử vong trên đường giao thông nông thôn với tốc độ giảm từ 90 xuống 80km/h. Nghiên cứu khác vào năm 2013 của Bộ Giao thông và Cơ sở hạ tầng British Columbia đã bắt đầu đánh giá giới hạn tốc độ; đánh giá bằng kỹ thuật Bayesian cho thấy tốc độ phần trăm thứ 85 trên nhiều đoạn đường cao tốc cao hơn 10km/h so với giới hạn tốc độ được đăng tương ứng và 1300km đoạn đường t nh lộ nông thôn được khuyến nghị cho giới hạn tốc độ cao hơn.
GVHD: TRẦN QUANG VƢỢNG THÁNG 4/2019 ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TRANG 18 MÃ ĐỀ TÀI: 554 Hầu hết các đoạn đường cao tốc có tốc độ tăng giới hạn 10km/h với một phần nhỏ có tốc độ tăng giới hạn 20km/h, những thay đổi này tác động đáng kể đến an toàn và ảnh hưởng của việc giới hạn tốc độ. Một nghiên cứu giữa các quốc gia OECD cho thấy, thông thường, 40 - 50 và tới 80 , các tài xế đã lái xe vượt quá giới hạn tốc độ được đăng, trong khi một tỷ lệ tương tự phương tiện đi lại với tốc độ quá cao đã được tìm thấy ở các nước thu nhập thấp và trung bình [16]. Qua các nghiên cứu cho thấy mức độ ảnh hưởng của yếu tốc độ được quan tâm rất nhiều không ch ở Việt Nam mà cả trên thế giới. Các tác động của tốc độ, cả tích cực và tiêu cực, làm cho tốc độ trở thành mục tiêu chính cho hành động chính sách.
Tốc độ lái xe ảnh hưởng đến nguy cơ bị tai nạn và mức độ nghiêm tr ng của chấn thương cũng như tiếng ồn và khí thải [4]. Cần có các giải pháp phù hợp liên quan đến yếu tố tốc độ nhằm giảm thiểu TNGT cũng như đem lại cảm giác an toàn cho người đi bộ và các loại phương tiện khác lưu thông trên đường. Vậy việc tiếp tục nghiên cứu về yếu tố tốc độ là cần thiết, cấp bách ở hiện tại và tương lai. Tổng quan về yếu tố tốc độ trong dòng xe hỗn hợp An toàn giao thông là các tính chất tổng hợp nhằm giảm xác suất phát sinh tai nạn giao thông và giảm thiểu tổn thất về vật chất và con người khi xảy ra tai nạn giao thông.
An toàn giao thông có mối quan hệ mật thiết với tốc độ, trong đó tốc độ càng cao, xác suất xảy ra va chạm càng lớn và thiệt hại cũng càng lớn. WHO, đã có nhiều nghiên cứu về l nh vực an toàn giao thông. Một nghiên cứu gần đây cho thấy mối quan hệ giữa tốc độ và số tai nạn giao thông, nếu giảm tốc độ 5 thì giảm số tai nạn giao thông nghiêm tr ng tới 30. Tốc độ càng cao càng làm tăng khả năng xảy ra tai nạn, tốc độ cao còn làm giảm khả năng phản ứng kịp thời của người lái xe [UBATGT, 2017].
Hiện nay, trên thế giới đặc biệt là các nước phát triển, đã có những nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề TNGT. H đã ban hành những cuốn sách hướng d n chi tiết về những giải pháp để giảm TNGT. Nhiều nghiên cứu trước đây cũng đã gợi ý một số yếu tố gây ra tai nạn giao thông trong dòng xe hỗn hợp và các yếu tố này có thể là người lái xe trên đường d bị tổn thương, chẳng hạn như các yếu tố điều khiển (lái xe say rượu, lái xe ma túy, sử dụng điện thoại di động trong khi lái xe, mệt mỏi của lái xe, GVHD: TRẦN QUANG VƢỢNG THÁNG 4/2019 ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TRANG 19 MÃ ĐỀ TÀI: 554 .), yếu tố xe, thiết kế đường, đặc điểm giao lộ không rõ ràng. Chúng được phân thành ba nhóm: yếu tố con người, yếu tố môi trường đường xá và các yếu tố xe.
Nhân tố con người liên quan đến hành vi của người lái xe (vượt đèn đỏ, vượt quá giới hạn tốc độ, thay đổi làn đường không phù hợp và vi phạm luật giao thông) hoặc tình trạng (ảnh hưởng của rượu hoặc ma túy, sự thiếu hiểu biết, lỗi quyết định, và độ tuổi). Các yếu tố liên quan đến môi trường đường bao gồm các yếu tố tiếp xúc (lưu lượng giao thông, mật độ giao thông, mức độ dịch vụ, tốc độ), các yếu tố đặc trưng hình h c (số làn xe, làn đường quay đầu xe, thẳng đứng, nút giao, và cấu trúc mặt cắt ngang), điều kiện kiểm soát giao thông (số pha/giây, thời gian đèn xanh, giới hạn tốc độ, kênh d n giao lộ, tín hiệu giao thông, chiếu sáng, hệ thống cảnh báo khi kết thúc thời gian xanh) và điều kiện lái xe (mưa, đèn giao thông,. Các yếu tố xe bao gồm bất kỳ lỗi nào trong xe hoặc thiết kế của nó.