Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 1.1 Khái niệm sạt lở đất Sạt lở, còn được gọi là chuyển động dốc hoặc chuyển động khối, là quá trình địa mạo mà đất, cát, lớp đất mặt, và đá di chuyển xuống dốc thường là một khối rắn, liên tục hoặc không liên tục, chủ yếu dưới lực hấp dẫn, nhưng thường có đặc điểm của một dòng chảy như trong các mảnh vụn chảy và dòng chảy bùn. Các loại sạt lở bao gồm lở, trượt, chảy, vỡ, rơi, mỗi loại có các đặc điểm riêng và diễn ra trong khoảng thời gian từ vài giây đến hàng trăm năm. Sạt lở đất là một hiện tượng chậm và dài hạn, là sự kết hợp của các chuyển động nhỏ của đất hoặc đá theo các hướng khác nhau theo thời gian được định hướng bởi trọng lực giảm dần.
Độ dốc càng dốc, lở càng nhanh. Lở làm cho cây và cây bụi bị nghiêng để duy trì độ vuông góc của chúng, và chúng có thể kích hoạt lở đất nếu chúng bị mất gốc. Đất bề mặt có thể di chuyển dưới ảnh hưởng của các chu kỳ đóng băng và tan băng, hoặc nhiệt độ nóng và lạnh, nhích dần xuống phía dưới của dốc tạo thành các khối đất nung. Sạt lở thường xảy ra trước khi lở đất kèm theo tróc đất - đất lỏng lẻo rơi xuống và tích tụ ở đáy của các phần leo dốc nhất.
Khái niệm về rừng Qua nhiều giai đoạn khác nhau, có rất nhiều khái niệm về rừng được các nhà nghiên cứu đưa ra và sử dụng. Năm 1930, Morozov đưa ra khái niệm: Rừng là một tổng thể cây gỗ, có mối liên hệ lẫn nhau, nó chiếm một phạm vi không gian nhất định ở mặt đất và trong khi quyển. Rừng chiếm phần lớn bề mặt Trái Đất và là một bộ phận của cảnh quan địa lý.Tcachenco phát biểu: Rừng là một bộ phận của cảnh quan địa lý, trong đó bao gồm một tổng thể các cây gỗ, cây bụi, cây cỏ, động Luan van 4 vật và vi sinh vật. Trong quá trình phát triển của mình chúng có mối quan hệ sinh học và ảnh hưởng lẫn nhau và với hoàn cảnh bên ngoài.
(dẫn theo Đinh Minh Tâm, 2015) Luật bảo vệ phát triển rừng năm 2004 quy định: Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên. Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng. Thông tư số 34/2009/TT-PTNT chỉ ra một đối tượng được xác định là rừng nếu đạt được cả 3 tiêu chí sau: 1) Là một hệ sinh thái, trong đó thành phần chính là các loài cây lâu năm thân gỗ, cau dừa có chiều cao vút ngọn từ 5,0 mét trở lên (trừ rừng mới trồng và một số loài cây rừng ngập mặn ven biển), tre nứa,…có khả năng cung cấp gỗ, lâm sản ngoài gỗ và các giá trị trực tiếp và gián tiếp khác như bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường và cảnh quan. Rừng mới trồng các loài cây thân gỗ và rừng mới tái sinh sau khai thác rừng trồng có chiều cao trung bình trên 1,5 m đối với loài cây sinh trưởng chậm, trên 3,0 m đối với loài cây sinh trưởng nhanh và mật độ từ 1.000 cây/ha trở lên được coi là rừng.
Các hệ sinh thái nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản có rải rác một số cây lâu năm là cây thân gỗ, tre nứa, cau dừa,… không được coi là rừng.