Đặt vấn đề Công nghiệp khai thác khoáng sản có sức ảnh hưởng to lớn đến đời sống kinh tế- xã hội. Ngân hàng Thế giới (WB) đã từng tuyên bố rằng: Công nghiệp khai thác khoáng sản là phương tiện đi đến xóa đói, giảm nghèo và phát triển bền vững góp phần làm tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm và cải thiện cơ sở hạ tầng. Trong những năm qua, ngành công nghiệp khai khoáng đã đóng vai trò quan trọng và tích cực trong sự nghiệp phát triển công nghiệp Việt Nam và nền kinh tế đất nước, cơ bản đáp ứng đủ và kịp thời nguyên liệu cho nền kinh tế quốc dân. Cụ thể là ngành than cung ứng đầy đủ và kịp thời nguyên liệu cho ngành điện, xi măng, hóa chất, giấy.
Còn khoáng sản thiếc, chì kẽm, sắt đã cung cấp đầy đủ cho ngành luyện kim, khoáng sản apatit cũng cung ứng đủ cho ngành hóa chất, phân bón. Đồng thời có một phần khoáng sản dành để xuất khẩu, trong đó có 2 loại khoáng sản có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất là dầu khí và than, riêng năm 2012 đạt khoảng 10 tỷ USD. Khai thác than một trong những ngành công nghiệp khai thác khoáng sản có sức nặng trong sự phát triển của nền kinh tế đất nước. Hàng năm, ngành than tạo ra nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước đồng thời tạo công ăn việc làm, mang lại thu nhập ổn định phục vụ đời sống sinh hoạt của người dân.
Tuy nhiên, cùng với lợi ích đó hoạt động khai thác than cũng là nguyên nhân chính gây nên các vấn đề búc xúc trong môi trường hiện nay ảnh hưởng xấu tới con người và hệ sinh thái xung quanh khu vực khai thác. Hoạt động khai thác than đã làm phá vỡ cân bằng điều kiện sinh thái dược hình từ hàng chục triệu năm, đe dọa tới môi trường và ngày càng trở thành vấn đề cấp bách mang tính chất xã hội - chính trị cộng đồng. 2 Vì vậy, để đảm bảo chất lượng môi trường phát triển bền vững trong tương lai đặc biệt là môi rường nước cần thiết phải đánh giá những tác động cũng như ảnh hưởng của hoạt động khai thác than tại các vùng khai thác mỏ trên phạm vi cả nước nói chung và của từng địa phương nói riêng để tìm ra những giải pháp khắc phục là vô cùng bức thiết. Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn đó em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động khai thác than đến chất lượng môi trường nước tại phân xưởng Giếng 9 thuộc công ty TNHH An Phát Thái”.
Mục đích của đề tài - Đánh giá được ảnh hưởng của hoạt động khai thác than đến chất lượng môi trường nước. - Đề xuất các biện pháp quản lý cho đơn vị khai thác cũng như sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên này nhằm giảm thiểu những ảnh hưởng xấu của khai thác than tới môi trường nước tại địa phương. - Đẩy mạnh công tác quản lý môi trường trong hoạt động khai thác than tại khu vực. Yêu cầu của đề tài - Phản ánh đầy đủ, đúng đắn thực trạng khai thác than và ảnh hưởng của nó tới môi trường.
- Các mẫu cần phân tích phải được lấy trong khu vực nghiên cứu - Số liệu phải trung thực, khách quan. - Những kiến nghị đưa ra phải mang tính khả thi và phù hợp với điều kiện thực tế tại cơ sở. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học - Vận dụng lí thuyết vào thực tiễn, rèn luyện khả năng tổng hợp phân tích số liệu.
3 - Nâng cao hiểu biết, học hỏi kiến thức thực tế. - Là điều kiện thuận lợi cho việc học hỏi và tích lũy những kinh nghiệm sau khi ra trường. Ý nghĩa thực tiễn - Phản ánh thực trạng, diễn biến chất lượng môi trường nước từ đó giúp cho đơn vị quản lý có biện pháp ngăn ngừa, giảm thiểu các tác động xấu. - Tạo cơ sở cho công tác hoạch định chính sách bảo vệ môi trường và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của cơ sở.
- Cảnh báo các vấn đề cấp bách và nguy cơ tiềm ẩn về ô nhiễm suy thoái chất lượng môi trường nước. - Nâng cao nhận thức, tuyên truyền, giáo dục về bảo vệ môi trường cho các thành viên tham gia hoạt động khoáng sản. 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2.
Các khái niệm môi trường - Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo có quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên. Đây là khái niệm tổng quát về môi trường [7]. - Môi trường là tập hợp các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh con người, có ảnh hưởng tới con người và tác động qua lại với các hoạt động sống của con người như: không khí, đất, nước, sinh vật, xã hội loài người, - Môi trường là tập hợp các điều kiện và hiện tượng bên ngoài có ảnh hưởng tới một vật thể hoặc sự kiện. - Môi trường sống là tổng thể các điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng tới sự sống và sự phát triển của cơ thể sống.
- Môi trường sống của con người là tổng hợp các điều kiện vật lý, hoá học, sinh học, xã hội bao quanh con người và có ảnh hưởng tới sự sống, sự phát triển của từng cá nhân và toàn bộ cộng đồng người. Theo Luật Môi trường Việt Nam năm 2014: “ Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật [8]. * Một số khái niệm liên quan đến môi trường - Suy thoái môi trường là sự suy giảm về chất lượng và số lượng của thành phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu đối với con người và sinh vật. 5 - Sự cố môi trường là tai biến hoặc rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt động của con người hoặc biến đổi thất thường của tự nhiên, gây ô nhiễm, suy thoái hoặc biến đổi môi trường nghiêm trọng.
- Khủng hoảng môi trường: Là các suy thoái chất lượng MT sống ở quy mô toàn cầu, đe doạ cuộc sống loài người trên Trái Đất như sa mạc hoá, nguồn nước và biển bị ô nhiễm nghiêm trọng… thủng tầng ozon. - An ninh môi trường: Là trạng thái mà một hệ thống MT có khả năng đảm bảo điều kiện sống an toàn cho con người và sinh vật cư trú trong hệ thống đó. - Tị nạn môi trường: Con người và sinh vật buộc phải rời khỏi nơi cư trú truyền thống của mình tạm thời hay vĩnh viễn do sự huỷ hoại môi trường gây nguy hiểm cho cuộc sống của họ. - Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật.
Tài nguyên nước 2. Khái niệm và tầm quan trọng Nước là yếu tố chủ yếu của hệ sinh thái (HST), là nhu cầu cơ bản của mọi sự sống trên Trái Đất và cần thiết cho hoạt động kinh tế-xã hội của loài người. Cùng với các dạng tài nguyên thiên nhiên khác, tài nguyên nước là một trong bốn nguồn lực cơ bản để phát triển kinh tế-xã hội, là đối tượng lao động và là một yếu tố cấu thành lên lực lượng sản xuất [17]. Nước là một trong các nhân tố quyết định chất lượng môi trường sống của con người.
Ở đâu có nước ở đó có sự sống. Nước có những đặc trưng vật lý độc đáo mà chất lỏng khác không có. Các tính chất đặc trưng đó là tỷ trọng, nhiệt dộ nóng chảy, nhiệt độ sôi, tỷ nhiệt của nước, nhiệt bốc hơi và tính năng dung môi. Nhờ có những tính chất đó mà nước có sự sống và tồn tại như ngày nay.
Khái niệm Ô nhiễm nước là sự thay đổi theo chiều xấu đi các tính chất vật lí, hoá học, sinh học của nước, với sự xuất hiện của các chất lạ ở thể rắn, lỏng làm cho nguồn nước trở nên độc hại với con người và sinh vật. Làm giảm độ đa dạng sinh vật trong nước [5]. Các nguồn gây ô nhiễm nước * Nguồn gốc tự nhiên Sự ô nhiễm nước có nguồn gốc tự nhiên là do sự nhiễm mặn, nhiễm phèn, gió bão, lũ lụt… Nước mưa rơi xuống mặt đất, mái nhà, đường phố, đô thị, khu công nghiệp kéo theo các chất bẩn xuống sông, hồ hoặc các sản phẩm của hoạt động sống của sinh vật, vi sinh vật kể cả xác chết của chúng. Sự ô nhiễm này còn gọi là sự ô nhiễm điện.
* Nguồn gốc nhân tạo Sự ô nhiễm nhân tạo chủ yếu là do xả nước thải từ các vùng dân cư, khu công nghiệp, hoạt động giao thông vận tải, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, các phương tiện giao thông vận tải, đặc biệt là giao thông vận tải đường biển. - Nguồn ô nhiễm do sinh hoạt + Nước thải sinh hoạt: Là nước thải phát sinh từ các hộ gia đình, bệnh viện, khách sạn, cơ quan trường học chứa các chất thải trong quá trình vệ sinh, sinh hoạt của con người. Thành phần cơ bản của nước thải sinh hoạt là các chất hữu cơ dễ bị phân huỷ sinh học (cacbonhydrat, protein, dầu mỡ), chất dinh dưỡng (photpho, nitơ), chất rắn và vi trùng. Tuỳ theo mức sống và lối sống mà lượng thải cũng như tải lượng các chất có trong nước thải của mỗi người là khác nhau.
Nhìn chung mức sống càng cao thì lượng nước thải và tải lượng thải càng cao.1: Tải lƣợng ô nhiễm do con ngƣời đƣa vào môi trƣờng hàng ngày TT Tác nhân ô nhiễm Tải lƣợng(g/ngƣời/ngày) 1 BOD5 45-54 2 COD (1,6-1,9) BOD5 3 Tổng chất rắn hòa tan (TDS) 170-220 4 Tổng chất rắn lơ lửng (TSS) 70-145 5 Clo(Cl-) 4-8 6 Tổng Nitơ (tính theo N) 6-12 7 Tổng photpho (tính theo P) 0,8-4 (Nguồn: Nguyễn Thanh Hải, Nguyễn Duy Hải, 2013)[5] Nước thải sinh hoạt sau khi thải ra thường dần trở nên tính axit vì thối rữa. Đặc điểm cơ bản của nước thải sinh hoạt là hàm lượng chất hữu cơ không bền vững (dễ bị phân hủy sinh học cao). Các chất hữu cơ ở đây có thể xuất xứ từ động hoặc thực vật. Các chất hữu cơ trong nước thải có thể chia thành các chất chứa nitơ và không chứa nitơ (chất hữu cơ chứa cacbon).
Các chất hữu cơ chứa nitơ chủ yếu như urê, protein, amin và amin axit. Các chất không chứa nitơ như mỡ, xà phòng, hydratcacbon, xenlulo.