CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU 1.1 Biến đổi khí hậu Biến đổi khí hậu (BĐKH) theo định nghĩa là sự thay đổi có tính hệ thống (liên tục tăng hoặc liên tục giảm) các yếu tố khí hậu (nhiệt độ, lượng mưa, áp suất hay gió,…) so với trung bình của khí hậu đã duy trì trong vài thập niên hoặc dài hơn. Biểu hiện chính của BĐKH là sự nóng lên toàn cầu và gia tăng mực nước biển. Biến đổi khí hậu là một trong những thách thức toàn cầu lớn nhất hiện nay. Tại Hội nghị về ứng phó với biến đổi khí hậu năm 2016, Bộ Tài nguyên – Môi trường cũng đã đưa ra cảnh báo của Ngân hàng Thế giới (WB) tình trạng ô nhiễm môi trường không chỉ làm thiệt hại 5% GDP hằng năm cho nền kinh tế Việt Nam (chưa kể đến thiệt hại về sức khỏe do khói bụi, ô nhiễm chất thải rắn mang lại).
Nếu không có kịch bản tốt để ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng trong vòng 50 năm tới sẽ có 20% dân số Việt Nam bị ảnh hưởng, thiệt hại về kinh tế sẽ chiếm khoảng 10% GDP. Và cứ tăng 1% GDP thì thiệt hại do ô nhiễm môi trường sẽ làm mất đi 3% GDP. Trong bài phát biểu tại Đại hội đồng Liên Hợp Quốc ngày 25 tháng 09 năm 2018, Tổng thư ký Liên Hợp Quốc kêu gọi tất cả các quốc gia thành viên LHQ thực hiện các hành động và cam kết giảm nhẹ theo Thỏa thuận Paris với tham vọng lớn hơn và cấp bách hơn. Hành động khí hậu đã tạo ra cơ hội phát triển to lớn và nếu được quản lý một cách chủ động, hành động đó có thể tạo ra thêm 26 nghìn tỷ USD cho nền kinh tế thế giới và 24 triệu công ăn việc làm mới trên toàn thế giới vào năm 2030.
Hiện nay, Việt Nam chủ động triển khai các mục tiêu phát triển bền vững và cam kết giảm lượng phát thải hàng năm với nguồn lực trong nước ở mức 8% tới năm 2030 nếu so sánh với Kịch bản thông thường. [13] Theo tổ chức Unicef, các tác động ảnh hưởng do khí hậu ảnh hưởng đến hơn 74% dân số, đặc biệt là những nhóm người nghèo thiếu khả năng phục hồi trước những thiệt hại lớn sau thảm họa thiên tai, trong khi việc đô thị hóa đã làm tăng các khoảng cách của các gia đình di cư bị hạn chế tiếp cận với các dịch vụ xã hội. 6 Ngân hàng Thế giới đã phân tích rằng trong một vài thập kỷ gần đây mực nước biển đã tăng với tốc độ ngày càng cao, tăng 1,3 - 2,3 mm hàng năm trong giai đoạn 1961 - 2003 và tăng 2,4 - 3,8mm hàng năm kể từ đó đến nay. Dự báo đến năm 2040, mực nước biển sẽ dâng thệm khoảng 23 - 24 cm so với giai đoạn 1980 - 1999 dọc theo bờ biển Việt Nam; và đến giữa thế kỷ, mức tăng có thể đạt 28 - 33 cm.
Có thể thấy rằng, nước biển dâng sẽ làm trầm trọng thệm tình trạng xói lở bờ biển và xâm nhập mặn, mà trên thực tế đã và đang diễn ra. Vùng đồng bằng ven biển với nền đất thấp đã bị xâm nhập mặn trong mùa khô. Chẳng hạn, tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long, diện tích bị xâm nhập mặn (độ mặn trên 4g/lít) có thể tăng từ 1,3 triệu ha của năm 2010 lên 1,7 triệu ha vào năm 2050 nếu nước biển dâng thêm 30 cm.[14] Theo một dự báo của Bộ Tài nguyên và Môi trường, năng suất lúa có thể sẽ giảm 4,3% trong giai đoạn 2016 - 2045 do tác động của biến đổi khí hậu. Số liệu này cho thấy, nước biển dâng và xâm nhập mặn có thể sẽ làm thay đổi địa bàn trồng lúa trong tương lai.2 Nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu Báo cáo Hiện trạng khí hậu mới nhất do Hiệp hội Khí tượng Hoa Kỳ vừa công bố nêu rõ, kể từ năm 1980, mỗi thập kỷ sau lại nóng hơn thập kỷ trước, trong đó thập kỷ 2010-2019 đã nóng hơn thập kỷ 2000-2009 khoảng 0,2°C.
Nguyên nhân chính làm cho khí hậu thay đổi là lượng phát thải khí nhà kính vẫn không ngừng tăng, đã lên mức cao kỷ lục là 409,8 phần triệu thể tích. Hệ quả là 6 năm liên tiếp, kể từ 2014 đến nay, trở thành những năm nóng nhất. Theo Tổ chức Khí tượng Thế giới, năm 2020 là năm nóng nhất trong lịch sử được nhân loại ghi nhận một cách có hệ thống kể từ khi nhân loại bắt đầu ghi lại nhiệt độ từ giữa những năm 1800. Mực nước biển dâng cao kỷ lục trong vòng 8 năm liên tiếp.
Các dòng sông băng tiếp tục tan chảy ở mức độ rất báo động trong năm thứ 32 liên tiếp. Mới đây, nhóm nghiên cứu của Đại học Ohio Hoa Kỳ đã công bố báo cáo, dữ liệu vệ tinh 40 năm qua cho thấy, băng ở Greenland đã tan chảy, vượt qua ngưỡng có thể đảo ngược.1 Biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến sản xuất lúa Do tác động tiêu cực của BĐKH mà tần suất xuất hiện các hiện tượng thời tiết cực đoan nhiều hơn. Hạn mặn tại đồng bằng sông Cửu Long và miền Trung trong năm 2019-2020 lại tái diễn với quy mô lớn hơn và khốc liệt hơn so với đợt hạn hán xâm nhập mặn năm 2016. Trong năm 2020, nguồn nước trên các sông suối khu vực Trung Bộ và Tây Nguyên tiếp tục suy giảm và thiếu hụt so với trung bình nhiều năm cùng kỳ từ 35% đến 70%, một số sông thiếu hụt trên 80%.
Bão lớn cấp 4 và 5 diễn ra thường xuyên hơn nhiều trong vòng 35 năm trở lại đây đã dịch chuyển dần xuống phía Nam trong vòng 5 thập kỷ qua. [15] Theo Bộ Nông nghiệp, Nước và Môi trường Úc thì hiệu ứng nhà kính là một quá trình tự nhiên làm ấm bề mặt Trái đất. Khi năng lượng của Mặt trời đến bầu khí quyển của Trái đất, một phần trong số đó bị phản xạ trở lại không gian và phần còn lại bị hấp thụ và bức xạ lại bởi khí nhà kính. Khí nhà kính gồm hơi nước (H2O), carbon dioxide (CO2), methane (CH4), nitrous oxide (N2O), ozone và một số hóa chất nhân tạo như chlorofluorocarbons (CFCs).
Vấn đề mà chúng ta phải đối mặt hiện nay là các hoạt động của con người - đặc biệt là đốt nhiên liệu hóa thạch (than, dầu và khí đốt tự nhiên), nông nghiệp và khai khẩn 8 đất đai - đang làm tăng nồng độ khí nhà kính. Đây là hiệu ứng nhà kính tăng cường, góp phần làm Trái đất nóng lên.3 Khí metan (CH4) trong nông nghiệp Khí metan (CH4) là thành phần chính của khí tự nhiên hay dầu mỏ, phần lớn được tạo ra trong quá trình chế biến dầu mỏ hay quá trình chưng cất sản xuất khí dầu mỏ. Khí metan là khí nhẹ hơn không khí không màu, không mùi và không vị và là khí độc hại, dễ cháy.2 Khí metan (CH4) Khí metan không hoà tan trong những dung môi phân cực như nước mà chỉ tan trong các dung môi không phân cực do metan không tạo ra những liên kết hydro. Trong nông nghiệp, sản xuất lúa gạo và chăn nuôi gia súc là hai nguồn phát thải khí metan lớn nhất.
Khí metan được sinh ra từ các hoạt động phân hủy kị khí ở các vùng ngập nước như đồng ruộng, đầm lầy, ao hồ, trầm tích dưới đáy biển (54,9%); chất thải chăn nuôi và trong dạ dày của các loài nhai lại (25,4%); hoạt động khai thác dầu mỏ, đốt nhiên liệu hoá thạch, chưng cất than đá (17,5%). Khí metan trong hoạt động nông 9 nghiệp chiếm 12,5% lượng khí nhà kính (KNK) và 40% lượng metan trong tổng lượng khí thải. [16, 17] Việt Nam là nước có nền văn minh lúa nước lâu đời. Rơm rạ sau vụ mùa thường được người nông dân đem về đun nấu hoặc làm thức ăn cho gia súc.
Do nguồn phụ phẩm rơm rạ quá lớn nên một phần lớn rơm rạ không được sử dụng sẽ được đốt trực tiếp ngoài đồng ruộng nên gây lãng phí rất lớn. Bên cạnh đó, hành động đốt rơm rạ trên đồng ruộng này rất nguy hiểm, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người và gây ra các vấn nạn về môi trường. Đặc biệt là nguy cơ phát tán nhiều khí độc hại vào bầu khí quyển như CO2, CO, CH4, NOx, SOx, bụi mịn PM2. Các loại khí này không những là khí độc hại cho sức khỏe con người mà còn là nguyên nhân tạo nên hiện tượng nóng lên toàn cầu và BĐKH.
Việc tận dụng nguồn phụ phẩm này làm thành TSH vừa cải tạo dinh dưỡng đồng ruộng, vừa tạo thêm nguồn thu nhập cho người nông dân đồng thời góp phần bảo vệ môi trường. Việc cải tiến quản lý nước, đặc biệt là giữ cho đất luôn khô ráo và tránh ngập úng có thể giúp giảm lượng phát thải khí CH4. Sử dụng các biện pháp tưới tiêu hiệu quả có thể tăng cường trữ lượng carbon trong đất thông qua việc tăng cường năng suất và hoàn trả lại phụ phẩm. [18] Mặc dù ý thức con người ngày càng nâng cao nhưng việc quản lý các phụ phẩm nông nghiệp này vẫn còn là thách thức rất lớn.
Chính vì vậy mà ngành nông nghiệp trồng lúa cần quan tâm nghiên cứu quá trình canh tác lúa, góp phần giảm BĐKH bằng cách giảm phát thải KNK.4 Than sinh học Biochar hay còn gọi là than sinh học (TSH), được nhận định là sản phẩm có tiềm năng rất lớn cho xã hội, tạo ra giá trị cho nền kinh tế mà vẫn an toàn với môi trường, đặc biệt là khi sử dụng cho nông nghiệp và góp phần giảm các vấn đề gây biến đổi khí hậu. 10 Theo tổ chức IBI (International Biochar Initative – Sáng kiến Than sinh học quốc tế) thì TSH là một chất rắn thu được từ quá trình carbon hóa sinh khối.3 Tro và than sống từ lò đốt Cách đây 7000 ngàn năm ở khu vực sông Amazon, người dân bản địa đã tạo ra được một lớp đất đen giúp nâng cao năng suất và lưu giữ độ màu mỡ của đất. Sau này những người định cư Châu Âu gọi lớp đất này là Terra Preta. Lớp Terra Preta này được tạo ra từ việc người bản địa Amazon thải ra môi trường đất các chất thải sinh hoạt như: thức ăn, xương động vật, chất thải, đồ gốm vỡ,.
trải qua quá trình phân hủy lâu dài chúng đã tạo ra một lớp đất đen đem lại sự màu mỡ cho cây trồng của người bản địa [19]. Các nhà khoa học hiện đại đã nghiên cứu thành phần của lớp đất này vì nhìn thấy những tác dụng vô cùng quý báu của nó đối với nông nghiệp.