Tổng quan nghiên cứu

Hoạt động khai khoáng đóng góp khoảng 5,6% tổng sản phẩm quốc nội (GDP), giữ vị trí trụ cột trong cơ cấu công nghiệp của Việt Nam. Tại trung tâm bể than Quảng Ninh, Công ty Cổ phần Than Hà Tu - Vinacomin là một trong những đơn vị khai thác lộ thiên trọng điểm với công suất thiết kế đạt 3,3 triệu tấn than nguyên khai mỗi năm và tổng khối lượng đất đá bóc xúc lên đến 364 triệu m3 trong vòng đời dự án 10 năm từ năm 2016 đến năm 2025. Tuy nhiên, quá trình khai thác quy mô lớn tại khu vực Bắc Bàng Danh đã gây áp lực sinh thái nghiêm trọng, trực tiếp làm suy thoái lớp phủ thực vật tự nhiên và biến đổi cảnh quan địa hình ven bờ Vịnh Hạ Long.

Vấn đề cốt lõi của nghiên cứu bắt nguồn từ việc hình thành các bãi thải đất đá khổng lồ với khối lượng lên tới 336 triệu m3 tại bãi thải trong vỉa Trụ và 104,55 triệu m3 tại khu Bắc Bàng Danh. Các sườn tầng bãi thải có chiều cao từ 20 đến 30 m, góc nghiêng dốc từ 33° đến 37°, kết hợp với lượng mưa cực đoan đạt mức kỷ lục 899 mm trong 4 ngày tại khu vực Bãi Cháy, tạo ra nguy cơ xói mòn, sạt lở bờ tầng và cuốn trôi đất đá gây bồi lắng các lưu vực lân cận.

Mục tiêu của luận văn tập trung đánh giá toàn diện hiện trạng chất lượng môi trường không khí, đất đá thải, phân tích mức độ tác động của hoạt động khai mỏ đến thảm thực vật tại phường Hà Phong và phường Hà Khánh, thành phố Hạ Long. Từ đó, tác giả đề xuất định hướng lựa chọn các loài cây tiên phong có khả năng thích nghi cao nhằm phục hồi hệ sinh thái bền vững. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi xác lập cơ sở khoa học để tái tạo thảm phủ xanh đạt tỷ lệ trên 70% bề mặt bãi thải, giảm thiểu 80% bùn cát trôi lấp và ổn định địa kỹ thuật bờ dốc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết diễn thế sinh thái phục hồi và khung can thiệp sinh học cải tạo cảnh quan sau khai mỏ. Theo lý thuyết này, quá trình tái thiết thảm thực vật trên nền đất đá mỏ nghèo dinh dưỡng phải trải qua các giai đoạn diễn thế từ thực vật tiên phong cố định đạm đến quần xã cây thân gỗ tầng cao tự duy trì.

Nghiên cứu tích hợp 4 khái niệm chuyên ngành cốt lõi bao gồm: quần xã thực vật tiên phong với khả năng chịu hạn và thích ứng biên độ pH rộng; bãi thải mỏ lộ thiên có hệ số rỗng lớn và nghèo hữu cơ; hệ số bóc đất đá dao động từ 42,61 m3/tấn đến 75,0 m3/tấn than khai thác; và phức hệ chứa nước khe nứt trong trầm tích chứa than Hòn Gai có chiều dày từ 620 m đến 1.600 m chi phối chế độ thủy văn khu mỏ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp từ Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh, chuỗi số liệu khí tượng gần 100 năm tại Trạm Bãi Cháy với số liệu điều tra thực địa liên tục từ tháng 11/2016 đến tháng 8/2017.

Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu được thiết kế chuẩn mực: thiết lập 8 vị trí đo đạc quan trắc môi trường không khí (K1 đến K8) qua 2 đợt đo đạc theo mùa (tháng 10/2016 và tháng 4/2017); thu thập mẫu đất tại các tầng bãi thải ở độ sâu 10 - 20 cm theo tiêu chuẩn TCVN 4046:1985 và TCVN 5297:1995. Phương pháp lấy mẫu phân tầng theo địa hình được lựa chọn nhằm phản ánh chính xác sự biến thiên lý hóa đất tại các cao độ khác nhau từ mức +30 m đến đỉnh bãi thải.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích: sử dụng phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử (AAS) để định lượng chính xác hàm lượng kim loại nặng; phương pháp Tiurin xác định hàm lượng mùn; phương pháp Kjeldahl phân tích đạm tổng số; phương pháp Oniani xác định phốt pho dễ tiêu; và phương pháp ống hút Robinson phân tích thành phần cơ giới đất. Đây là các phương pháp tiêu chuẩn có độ tin cậy cao để đánh giá độ phì và độc tính thổ nhưỡng đất mỏ.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, môi trường không khí tại khu vực sản xuất mỏ bị ô nhiễm bụi cục bộ nghiêm trọng. Nồng độ bụi lơ lửng tổng số (TSP) tại khu vực sàng 3 (điểm K4) dao động từ 0,42 mg/m3 đến 0,52 mg/m3, vượt quy chuẩn QCVN 05:2013/BTNMT từ 40% đến 73% so với giới hạn cho phép 0,30 mg/m3; nồng độ bụi PM10 đạt 0,18 - 0,25 mg/m3. Mức độ ồn cực đại Lmax tại xưởng sửa chữa ô tô (điểm K2) chạm ngưỡng 88,4 dBA, vượt ngưỡng an toàn lao động theo TCVN 3985:1999.

Thứ hai, đặc tính đất đá bãi thải vô cùng bất lợi cho thảm thực vật. Thành phần thạch học gồm 30,40% cuội sạn kết và 26,80% cát kết, tạo nên cấu trúc hạt thô chiếm trên 57,2% tổng khối lượng địa tầng, khả năng giữ nước kém, độ chua cao với pH dao động từ 4,0 đến 5,0 và hàm lượng mùn hữu cơ dưới 1,2%.

Thứ ba, thảm thực vật nguyên sinh trong ranh giới khai trường bị xóa bỏ hoàn toàn, chỉ còn một số loài cỏ dại tiên phong chịu hạn như cỏ Lách (Saccharum spontaneum), Đơn buốt (Bidens pilosa), Cỏ chè vè (Miscanthus sinensis) và Dương xỉ (Nephrolepis cordifolia). Diện tích rừng keo trồng phục hồi trước đây mới chỉ che phủ dưới 35% diện tích bãi thải cũ.

Thứ tư, áp lực thủy văn mỏ tăng cao theo thời gian khi lưu lượng nước ngầm và nước mặt chảy vào moong khai thác ước tính tăng từ 131.184 m3/ngày đêm ở năm thứ 2 lên 493.799 m3/ngày đêm ở giai đoạn kết thúc kỹ thuật, gây xói lở dữ dội nếu sườn bãi thải không được phủ xanh.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến sự suy thoái thảm thực vật là công nghệ bốc xúc lộ thiên tầng sâu làm bóc đi toàn bộ lớp đất màu và phá hủy liên kết rễ cây. Khi so sánh với các mỏ than lân cận như Cọc Sáu hay Đèo Nai, nguy cơ xói mòn tại mỏ Hà Tu cao hơn khoảng 15% do cấu trúc địa chất nếp lõm Bắc Hà Lầm có góc dốc vỉa than lớn từ 40° đến 44°.

Các dữ liệu quan trắc vi khí hậu, nồng độ bụi TSP và tỷ lệ che phủ sinh thái có thể được biểu diễn trực quan qua biểu đồ cột so sánh theo 2 đợt đo đạc và bảng ma trận tương quan giữa độ dốc sườn tầng với tỷ lệ sống của cây trồng. Kết quả thảo luận khẳng định rằng nếu không xử lý bổ sung tầng đất mặt và bón vi sinh cải tạo độ chua, các loài cây thân gỗ bản địa sẽ không thể sống sót trên nền đá thải cuội cát kết.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Thiết lập mô hình phủ xanh đa tầng kết hợp cỏ Vetiver và cây họ Đậu: Trồng cỏ Vetiver (Vetiveria zizanioides) với bộ rễ cắm sâu 3 - 4 m trên các sườn bãi thải dốc 33° - 37° nhằm chống sạt trượt, kết hợp trồng Keo lá tràm và Keo tai tượng với mật độ 1.600 - 2.000 cây/ha để đạt tỷ lệ che phủ thảm xanh ≥ 70% trong vòng 36 tháng, do Công ty Cổ phần Than Hà Tu chủ trì thực hiện.

  2. Cải tạo lý hóa thổ nhưỡng nền đất đá thải: Tiến hành phủ lớp đất màu dày 15 - 20 cm kết hợp bón lót phân vi sinh và tro rơm nhằm nâng độ pH từ 4,0 - 4,5 lên mức 5,8 - 6,5, triển khai trên toàn bộ mặt tầng bãi thải trong vòng 12 tháng đầu tiên của dự án cải tạo.

  3. Xây dựng hệ thống công trình tiêu thoát nước và đảo phủ xanh: Thiết kế các rãnh thoát nước bậc thang dọc chân tầng bãi thải, kết hợp xây dựng đập tràn suối Lại và bố trí các cụm đảo cây xanh tập trung trên mặt bằng bãi thải rộng 40 - 100 m, giúp giảm 80% lượng bùn cát bồi lắng ra vùng phụ cận trong giai đoạn 2018 - 2022.

  4. Duy trì mạng lưới quan trắc sinh thái định kỳ: Đo đạc 6 tháng/lần các chỉ tiêu vi khí hậu, bụi TSP và chất lượng đất tại 8 điểm quan trắc K1 - K8, phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh để kiểm soát nồng độ bụi dưới 0,30 mg/m3 theo QCVN 05:2013/BTNMT đến năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cán bộ quản lý kỹ thuật và môi trường tại Công ty Cổ phần Than Hà Tu cùng Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin): Ứng dụng quy chuẩn thông số bãi thải an toàn (chiều cao tầng 20 - 30 m, đê an toàn ≥ 1,35 m) và quy trình phủ xanh sinh học cho 336 triệu m3 đất đá bãi thải.

  2. Cơ quan quản lý nhà nước như Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh: Sử dụng chuỗi số liệu định lượng về bụi phát thải và lưu lượng nước moong 493.799 m3/ngày đêm để phục vụ công tác thanh tra, thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) và phê duyệt đề án đóng cửa mỏ.

  3. Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Khoa học Môi trường, Lâm nghiệp, Sinh thái học ứng dụng: Kế thừa phương pháp phân tích đất đá mỏ qua máy quang phổ AAS và mô hình lựa chọn loài thực vật tiên phong thích ứng khô hạn.

  4. Các doanh nghiệp tư vấn môi trường và nhà thầu phục hồi cảnh quan công nghiệp: Tham khảo quy trình thiết kế mô hình đảo phủ xanh và giải pháp gia cố mái dốc bằng cỏ rễ sâu cho các mỏ lộ thiên trên toàn quốc.

Câu hỏi thường gặp

  1. Hoạt động khai thác mỏ than Hà Tu ảnh hưởng tiêu cực nhất đến yếu tố sinh thái nào? Hoạt động bốc xúc hơn 364 triệu m3 đất đá đã triệt tiêu hoàn toàn thảm thực vật nguyên sinh tại khai trường, tạo ra các bãi thải khổng lồ dốc 33° - 37°. Cấu trúc đất đá chứa hơn 57,2% cuội cát kết nghèo dinh dưỡng làm mất khả năng tự tái sinh của thực vật, đồng thời gây ô nhiễm bụi TSP tại khu vực sàng đạt 0,52 mg/m3.

  2. Vì sao cỏ Vetiver và Keo lá tràm được ưu tiên chọn để phục hồi bãi thải? Cỏ Vetiver có bộ rễ chùm ăn thẳng đứng sâu từ 3 đến 4 m, chịu được dải pH khắc nghiệt từ 3,3 đến 12,5 giúp neo giữ sườn dốc chống xói lở. Cây Keo lá tràm có rễ chứa vi khuẩn cố định đạm Rhizobium, sinh trưởng nhanh và chịu được đất nghèo xấu, giúp cải tạo độ phì cho đất đá mỏ.

  3. Môi trường không khí tại khu mỏ Hà Tu có đáp ứng quy chuẩn quốc gia không? Không đạt tại một số khu vực trọng điểm. Kết quả đo đạc cho thấy nồng độ bụi tổng số TSP tại khu vực sàng 3 đạt từ 0,42 đến 0,52 mg/m3, vượt quy chuẩn QCVN 05:2013/BTNMT tới 1,73 lần. Đồng thời, độ ồn cực đại tại xưởng sửa chữa K2 chạm 88,4 dBA, vượt giới hạn an toàn lao động.

  4. Tải lượng nước chảy vào moong khai trường biến động như thế nào qua các năm? Lưu lượng nước ngầm và nước mặt mùa mưa chảy vào khai trường tăng dần theo diện tích mở moong, từ mức 131.184 m3/ngày đêm ở năm thứ 2 lên 336.250 m3/ngày đêm ở năm thứ 6 và đạt đỉnh 493.799 m3/ngày đêm vào giai đoạn kết thúc kỹ thuật, đòi hỏi hệ thống thoát nước đồng bộ.

  5. Giải pháp "đảo phủ xanh" trên mặt bằng bãi thải hoạt động theo cơ chế nào? Mô hình đảo phủ xanh bố trí các cụm cây bụi và cây họ Đậu tập trung trên mặt bằng bãi thải rộng 40 - 100 m với lớp đất màu 15 - 20 cm. Các cụm cây này hoạt động như trung tâm phát tán hạt giống tự nhiên, giảm bức xạ nhiệt bề mặt và ngăn chặn bụi phát tán theo chiều gió.

Kết luận

  • Đánh giá toàn diện thực trạng suy thoái 100% thảm thực vật tự nhiên và mức độ ô nhiễm bụi TSP vượt chuẩn tới 73% (đạt 0,52 mg/m3) tại khu vực mỏ than Hà Tu.
  • Xác định đặc tính cơ lý hóa nghèo kiệt của 336 triệu m3 đất đá bãi thải với hơn 57,2% là cuội, sạn, cát kết có độ chua pH 4,0 - 5,0 và hàm lượng mùn dưới 1,2%.
  • Làm sáng tỏ khả năng thích ứng sinh thái của nhóm loài tiên phong bản địa gồm cỏ Lách, Đơn buốt, Cỏ chè vè và Dương xỉ trên nền đất đá mỏ cằn cỗi.
  • Thiết lập mô hình phục hồi sinh học kết hợp cỏ Vetiver (rễ sâu 3 - 4 m) và cây Keo họ Đậu cải tạo đất, hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ che phủ thảm xanh đạt trên 70%.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp kỹ thuật công trình đập tràn và rãnh thoát nước bậc thang giúp giảm 80% bùn cát trôi lấp trong suốt vòng đời dự án 2016 - 2025.

Lộ trình tiếp theo yêu cầu triển khai thí điểm mô hình phủ xanh trên 15 ha sườn bãi thải Nam Lộ Phong trong năm 2019 và mở rộng toàn diện trước năm 2025. Đây là công trình nghiên cứu giá trị cao, đóng vai trò cẩm nang kỹ thuật thiết yếu cho các đơn vị khai thác khoáng sản và cơ quan quản lý môi trường trong chiến lược phát triển kinh tế xanh bền vững.