Chương 1 TỔNG QUAN 1. Thực trạng quản lý an toàn vệ sinh lao động ở Việt Nam Trong những năm gần đây công tác quản lý ATVSLĐ tại các doanh nghiệp được cải thiện đáng kể và có những chuyển biến tích cực. Hầu hết các doanh nghiệp đã xây dựng được hệ thống quản lý ATVSLĐ dựa trên Luật ATVSLĐ. Theo đó kế hoạch ATVSLĐ được xây dựng dựa trên các văn bản hướng dẫn của nhà nước và đầu tư kinh phí nhiều hơn nằm trong chi phí sản xuất kinh doanh để thực hiện kế hoạch.
Một trong các nội dung trong công tác quản lý phải kể đến công tác tuyên truyền, huấn luyện ATVSLĐ, các doanh nghiệp đã đầu tư đáng kể nguồn lực và công tác huấn luyện ATVSLĐ là một trong những nội dung trong kế hoạch sả.n xuất kinh doanh và chi nhiều kinh phí hơn cho công tác này. Huấn luyện ATVSLĐ là một nội dung quan trọng của công tác quản lý ATVSLĐ, NLĐ được huấn luyện ATVSLĐ trước khi tuyển dụng, huấn luyện theo công việc và huấn luyện ATVSLĐ định kỳ theo quy định. Thực hiện tốt công tác ATVSLĐ sẽ giúp nâng cao nhận thức, kiến thức, kỹ năng cho NSDLĐ, NLĐ nhằm bảo đảm ATVSLĐ, phòng chống BNN, phòng ngừa nguy cơ rủi ro cho doanh nghiệp và NLĐ, đảm bảo mục tiêu phát triển kinh tế ổn định, bền vững của doanh nghiệp. Song song với công tác huấn luyện ATVSLĐ, công tác kiểm tra sức khỏe trước khi tuyển dụng và khám sức khỏe định kỳ cho NLĐ được các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh ngày càng quan tâm và chấp hành nghiêm chỉnh chính sách và pháp luật lao động.
Bởi vì họ hiểu được rằng nhân lực của mỗi doanh nghiệp là tài sản vô giá, người lao động có tác động tích cực hay tiêu cực đến kết quả sản xuất kinh doanh, sự tồn tại của doanh nghiệp là dựa trên sức khỏe của NLĐ. Sức khoẻ NLĐ được doanh nghiệp quan tâm, chăm sóc sẽ tạo nên hiệu ứng tâm lý tốt, từ đó NLĐ sẽ hăng say, Luan van 6 tích cực lao động đóng góp vào xây dựng doanh nghiệp và doanh nghiệp phát triển có lợi nhuận cao sẽ có chế độ, chính sách phúc lợi tốt cho NLĐ. Về việc trang bị các phương tiện bảo hộ lao động, các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay cũng đã quan tâm hơn đến người lao động. Điều này giúp cho họ phòng tránh hoặc hạn chế được rủi ro, ngăn ngừa những yếu tố độc hại, nguy hiểm hoặc giảm thiểu TNLĐ, BNN.
Ngoài những trách nhiệm nêu trên của người sử dụng lao động thì việc chấp hành các nội quy, quy định về công tác ATVSLĐ của người lao đông trong các doanh nghiệp hiện nay cóý thức tự giác hơn bởi họ nhận thức được rằng việc chấp hành luật pháp và thực hiện tốt công tác ATVSLĐ trong lao động và sản xuất là bảo vệ sức khỏe và tính mạng của chính bản mình. Và hơn nữa thực hiện tốt những điều này trước hết sẽ giúp họ đảm bảo được sức khỏe và khả năng lao động của mình bớt đi gánh nặng trước hết cho gia đình và sau đó cho xã hội. Trên đây là những thuận lợi trong công tác quản lý ATVSLĐ tại các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, bên cạnh đó còn có những mặt khó khăn nhất định.
Cùng với sự phát triển của đất nước, quy mô ngày càng lớn của nền kinh tế cho nên các doanh nghiệp cũng gia tăng về số lượng. Để cạnh tranh trên thị trường các doanh nghiệp đòi hỏi phải áp dụng kỹ thuật, công nghệ mới vào sản xuất kinh doanh dẫn đến việc đảm bảo ATVSLĐ cũng đặt ra nhiều thách thức mới do một số quy định về ATVSLĐ chưa đáp ứng đầy đủ và kịp thời nên cần thiết phải bổ sung, hoàn thiện. Trong quá trình thực hiện bộc lộ những hạn chế bất cập như: Chưa có đầy đủ các tiêu chuẩn, quy chuẩn, quy trình kiểm định của các máy móc thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về ATVSLĐ mà chỉ dựa vào khuyến cáo của nhà sản xuất. Bên cạnh đó Việt Nam trong thời gian qua đã tham gia ký kết hàng loạt các công ước, hiệp định quốc tế trong đó có các điều khoản về việc bắt buộc thực hiện trong công tác ATVSLĐ.
Đó là: Hiệp định thương mại quốc tế WHO,Công ước số 187 về Khung chính sách thúc đẩy ATVSLĐ của Tổ chức Luan van 7 Lao động quốc tế (ILO), tuy nhiên, nhiều văn bản Quy phạm pháp luật còn chậm thay thế bổ sung, do vậy việc đổi mới, hoàn thiệnlà yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh hiện nay. Chủ trương, đường lối của Đảng, Chính sách pháp luật của Nhà nước về công tác an toàn vệ sinh lao động Đảng ta từ khi thành lập đến nay việc đảm bảo công tác ATVSLĐ cho NLĐ là một chủ trương nhất quán và là chính sách lớn được thể hiện tại các Văn kiện của Đảng qua các kỳ Đại hội và trong các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng. Chính vì vậy, trong thời gian qua, công tác quản lý ATVSLĐ ở nước ta đã nâng lên một tầm cao mới và có sự chuyển biến rõ rệt. Trước hết phải kể đến Luật ATVSLĐ được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 25 tháng 6 năm 2015 gồm có 7 chương và 93 điều.
Từ khi Luật ATVSLĐ được ban hành các doanh nghiệp có hành lang pháp lý để căn cứ triển khai thực hiện công tác ATVSLĐ có hệ thống và bài bản hơn. Các hoạt động về ATVSLĐ được cụ thể hóa vì có các quy định về tổ chức quản lý công tác ATVSLĐ trong cơ sở sản xuất, kinh doanh, chính sách, chế độ đối với người bị TNLĐ, bệnh nghề nghiệp…Luật cũng quy định cụ thể quyền, nghĩa vụ về ATVSLĐ của người sử dụng lao động, người lao động, người làm công tác ATVSLĐ; người làm công tác y tế, an toàn vệ sinh viên.Các văn kiện và văn bản liên quan - Trong nội dung báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng chỉ rõ "Chăm lo bảo hộ lao động; cải thiện điều kiện làm việc; hạn chế TNLĐ"; "Nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện các chính sách về bảo hộ lao động, bảo hiểm xã hội, thai sản và các chế độ, chính sách khác đối với lao động nữ". - Chỉ thị số 29-CT/TW ngày 18/9/2013 của Ban Bí thư về đẩy mạnh công tác AT,VSLĐ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế [2]. Luan van 8 - Chỉ thị số 47-CT/TW ngày 25/6/2015 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng cháy, chữa cháy đã nêu: “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ”; “Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong công tác tuyên truyền, giáo dục, phổ biến kiến thức, pháp luật về phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ”; “Công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ phải lấy phòng ngừa là chính; huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân vào việc thực hiện nhiệm vụ phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ; coi công tác phòng cháy, chữa cháy là công việc hằng ngày ở mọi nơi, mọi lúc”; “Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về phòng cháy, chữa cháy.
Xây dựng chiến lược phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, nhất là đối với các địa bàn, công trình trọng điểm quốc gia, khu đô thị, các khu công nghiệp, thương mại… có nguy cơ cháy, nổ cao”; “Triển khai đồng bộ các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn, hạn chế các vụ cháy, nổ lớn, nhất là ở các nơi có nguy cơ cháy, nổ cao; tăng cường phải thực hiện và giải quyết bằng lực lượng, phương tiện tại chỗ”; “Nâng cao hiệu quả công tác cứu nạn, cứu hộ của lực lượng phòng cháy, chữa cháy. Thường xuyên tổ chức tập huấn, diễn tập, thực tập các phương án, tình huống xử lý sự cố cháy, nổ và cứu nạn, cứu hộ có huy động nhiều lực lượng tham gia". Chương trình quốc gia về An toàn – Vệ sinh lao động Nhà nước đã đề ra Chương trình quốc gia về ATVSLĐ, mục tiêu tổng quát của chương trình là: Chăm lo cải thiện điều kiện làm việc, giảm ô nhiễm môi trường lao động; ngăn chặn tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, chăm sóc sức khỏe người lao động; nâng cao nhận thức và sự tuân thủ pháp luật về bảo hộ lao động, bảo đảm an toàn tính mạng cho người lao động, tài sản của Nhà nước, tài sản của doanh nghiệp, của tổ chức, góp phần vào sự phát triển bền vững của Quốc gia. Nội dung của chương trình bao gồm: Luan van 9 - Các hoạt động nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động.
- Các hoạt động nâng cao nghiệp vụ y tế lao động, chăm sóc sức khỏe người lao động tại nơi làm việc. - Các hoạt động tuyên truyền, giáo dục, huấn luyện, tư vấn về an toàn vệ sinh lao động. Công tác an toàn vệ sinh lao động trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội quốc gia giai đoạn 2011-2020 - Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011- 2020 đã nêu "Bảo đảm quan hệ lao động hài hòa; cải thiện môi trường và điều kiện lao động"; "Phát triển mạnh và đa dạng hệ thống bảo hiểm: bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm TNLĐ, BNN. - Tại quyết định số 1393/QĐ-TTg ngày 25/9/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh thời kỳ 2011- 2020 và tầm nhìn đến năm 2050” đưa ra những giải pháp cụ thể liên quan đến công tác bảo vệ môi trường.
- Tại Quyết định số 1635/QĐ-TTg ngày 22/9/2015 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Chỉ thị số 47-CT/TW ngày 25/6/2015 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng cháy, chữa cháy đã đề ra mục tiêu, yêu cầu , nhiệm vụ và giải pháp cụ thể. Các Công ước, khuyến nghị, tuyên bố quốc tế liên quan đến an toàn vệ sinh lao động đã được Quốc hội, Chính phủ phê chuẩn Đến thời điểm hiện tại, Việt Nam đã phê chuẩn 21 Công ước của Tổ chức Lao động Quốc tế, trong đó có 3 Công ước trong lĩnh vực ATVSLĐ: - Công ước số 155 về ATVSLĐ và môi trường làm việc; - Công ước số 120 về vệ sinh trong thương mại và văn phòng; - Công ước số 187 được Việt nam phê chuẩn năm 2014 về cơ chế thúc đẩy công tác ATVSLĐ. Luan van 10 - Công ước 161 đang xem xét phê chuẩn về Dịch vụ y tế lao động.