mở đầu cho một giai đoạn thực hiện dân chủ ở một chất lượng mới. Đại hội VII nhấn mạnh dân chủ phải đi đôi với kỉ cương, phải gắn với công bằng xã hội trong thực tế cuộc sống. Thực hiện dân chủ là công việc của toàn bộ hệ thống chính trị, nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ XHCN, đảm bảo quyền lực thuộc về nhân dân. Dân chủ phải được thực hiện trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, đặc biệt là thực hiện pháp luật phải được thể chế hóa bằng pháp luật.
Theo tác giả, Đại hội IV và Đại hội V nhấn mạnh việc xây dựng chế độ làm chủ tập thể, nhưng lại chưa xác định rõ những điều kiện và thiết chế thực 11 luan an tiễn, nên việc thực hiện dân chủ kém hiệu quả. Nhân dân ủy quyền cho nhà nước, nhưng lại không có điều kiện và thiết chế để kiểm tra, giám sát quyền lực. Đảng lãnh đạo nhưng lại bao biện, làm thay công việc của nhà nước. Đến Đại hội VII quan điểm này được làm rõ: “Điều kiện quan trọng để phát huy dân chủ là xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng cường pháp chế XHCN, nâng cao trình độ dân trí, trình độ hiểu biết pháp luật, và ý thức tuân thủ pháp luật của nhân dân”[47,Tr.
Quan niệm về chủ thể của thực hiện dân chủ được hoàn thiện hơn với chủ trương “Nâng cao ý thức về quyền và nghĩa vụ của nhân dân, năng lực làm chủ, tham gia quản lý xã hội của nhân dân” [51, tr. 239] được nêu lên trong Đại hội XI. Hiến pháp 1992 ghi nhận: “Ở nước CHXHCNVN các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và Luật” (Điều 50, Hiến Pháp 1992). Nghiên cứu này của Nguyễn Viết Thông đã làm rõ quá trình phát triển nhận thức về thực hiện dân chủ của ĐCSVN.
Đó là cơ sở xuất hiện những chỉ đạo sáng suốt của Đảng trong những năm thực hiện quy chế dân chủ cơ sở và Pháp lệnh 34 vừa qua. - Công trình nghiên cứu “Thực hành dân chủ trong điều kiện một Đảng duy nhất cầm quyền” [59] do Phạm Văn Đức chủ biên đề cập tới một vấn đề quan trọng hàng đầu trong các đặc trưng của chế độ dân chủ XHCN ở Việt Nam, đó là ĐCSVN giữ vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Phần 3 của tác phẩm giành cho việc luận chứng ba nội dung cơ bản đối với việc thực hiện dân chủ, trước hết tác giả nhấn mạnh Đảng phải tiếp tục đổi mới toàn diện, từ công tác lý luận, tư tưởng đến công tác cán bộ, thu hút nhân tài vào hàng ngũ của Đảng, đến tăng cường mối quan hệ máu thịt với nhân dân, mở rộng dân chủ, thấm nhuần tư tưởng lấy dân làm gốc. Hai là, không ngừng hoàn thiện nền dân chủ XHCN, thực hiện “tất cả quyền lực thuộc về nhân dân” tiếp thu và phát triển các giá trị nhân loại về dân chủ.
Ba là, không ngừng hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN. 12 luan an Sau khi nêu lên những kinh nghiệm thực hành dân chủ ở một số nước như Đức, Thái Lan, Xin-ga-po, Đài Loan…ở chương IV, tác giả đưa ra những quan điểm, phương hướng và giải pháp thực hành dân chủ, đề cao hình thức quản lý xã hội dưới hình thức nhà nước, tiếp thu có chọn lọc và vận dụng các quan điểm của lý thuyết dân chủ hiện đại, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, gắn liền với quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân như một nội dung trọng tâm, có sức lan tỏa đến toàn bộ quá trình thực hiện dân chủ. Những luận điểm mà tác phẩm này nêu lên vừa khẳng định tính khả thi của việc thực hiện dân chủ trong hoàn cảnh một Đảng duy nhất cầm quyền ở nước ta, chống lại một cách có hiệu quả các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, vừa hoàn toàn phù hợp với những thành quả toàn diện của Việt Nam trong hơn 30 năm đổi mới, trong đó có những thành tựu quan trọng về thực hiện những quyền dân chủ cơ bản như dân chủ về chính trị, dân chủ về kinh tế, về văn hóa xã hội, thông qua các chương trình quốc gia về xây dựng nông thôn mới, xóa đói giảm nghèo, phát triển giáo dục, chăm sóc y tế… - Nguyễn Thế Phúc có bài nghiên cứu “Tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành dân chủ trong Đảng” [147]. Tác giả xuất phát từ những luận điểm về vai trò quyết định của Đảng đối với thắng lợi của cách mạng.
“Trước hết phải có Đảng cách mệnh” và “Đảng có vững cách mệnh mới thành công” [tập 2, Tr289- HCM toàn tập, 2011] để đi tới quan niệm có quan hệ trực tiếp tới vấn đề thực hiện dân chủ: Đảng muốn vững mạnh, đủ sức lãnh đạo cách mạng đi tới thành công thì một trong những vấn đề cốt yếu nhất là thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng. Phải thực sự mở rộng dân chủ trong Đảng để tất cả các đảng viên bày tỏ hết ý kiến của mình. Lãnh đạo (một cách) dân chủ nghĩa là phải sâu sát với quần chúng, không được áp đặt mệnh lệnh một cách độc đoán, mà phải biết lắng nghe ý kiến của quần chúng, nhưng không theo đuôi. 13 luan an Tác giả nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa Đảng và quần chúng.
Đây là ngọn nguồn sức mạnh cho Đảng, thông qua cơ chế thực hiện dân chủ. - Bài nghiên cứu của Phạm Văn Bính “ Dân chủ và thực hành dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh” [20] nêu lên một vài khía cạnh rất cụ thể, rất thực tế, gần gũi với đời sống trong quan niệm của chủ tịch Hồ Chí Minh về thực hiện dân chủ. Theo tác giả, nguyên tắc và cơ chế vận hành của hoạt động dân chủ là từ trong quần chúng ra và trở lại với quần chúng, “Cách lãnh đạo cực kỳ tốt là gom góp mọi ý kiến rời rạc, lẻ tẻ của quần chúng, rồi phân tích nó, nghiên cứu nó, sắp đặt nó thành những ý kiến có hệ thống. Rồi đem nó tuyên truyền giải thích cho quần chúng và làm cho nó thành ý kiến của quần chúng, làm cho quần chúng giữ vững và thực hành ý kiến đó” [116,Tr 290].
Theo Hồ Chí Minh các nguyên tắc cơ bản nhất của thực hiện dân chủ đều là dựa vào dân: “1. Việc gì cũng phải học hỏi và bàn bạc với dân chúng. Tin vào dân chúng. Đưa mọi vấn đề cho dân chúng thảo luận và tìm cách giải quyết.
Chúng ta có khuyết điểm thì thật thà thừa nhận trước mặt dân chúng. Nghị quyết gì mà dân chúng cho là không phù hợp thì để họ đề nghị sửa chữa. Dựa vào dân chúng mà sửa chữa cán bộ và tổ chức của ta. Chớ khư khư theo “sáo cũ”.
Luôn luôn phải theo tình hình thiết thực của dân chúng nơi đó và lúc đó, theo trình độ giác ngộ của dân chúng, theo sự tình nguyện của dân chúng mà tổ chức họ, tùy hoàn cảnh thiết thực trong nơi đó và lúc đó đưa ra đấu tranh. Tuyệt đối không theo đuôi quần chúng. Nhưng phải khéo tập trung ý kiến của quần chúng, hóa nó thành cái đường lối để lãnh đạo quần chúng, phải xem cách nhân dân so sánh, xem xét, giải quyết các vấn đề, mà hóa nó thành cách chỉ đạo nhân dân. “Phải đưa chính trị vào giữa dân gian”.
Trước kia việc gì cũng từ “trên lộn xuống”. Từ nay việc gì cũng phải từ “dưới nhoi lên” [116,Tr. 14 luan an Theo Hồ Chí Minh, chỉ có ở chế độ dân chủ, tư tưởng con người mới được tự do. Khi tự do tư tưởng không được tôn trọng thì trên dưới không hiểu nhau, cách biệt nhau, rồi quần chúng với Đảng xa rời nhau.
Phương pháp khắc phục tình trạng này là “trong lúc khai hội, cấp trên để cho mọi người có gì nói hết, cái đúng thì nghe, cái không đúng thì giải thích sửa chữa” [116,Tr. Nghiên cứu đề cập đến một vấn đề rất quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hiện dân chủ, đó là mối quan hệ giữa Đảng và quần chúng, cách thức tốt nhất để Đảng thực hiện được vai trò lãnh đạo là thực hiện dân chủ thiết thực, dựa vào quần chúng nhân dân. - Nghiên cứu của Nguyễn Đình Bắc với tiêu đề “Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong kinh tế và sự vận dụng của Đảng ta trong sự nghiệp đổi mới” [17]. Tác giả nhấn mạnh rằng trong quan niệm về dân chủ kinh tế của Hồ Chí Minh, vấn đề quyền sở hữu của nhân dân, của người lao động là vấn đề quan trọng hàng đầu.
Cần phải làm cho người xã viên nhận thức rõ “Mình là người làm chủ tập thể của hợp tác xã, có quyền bàn bạc và quyết định những công việc của hợp tác xã” [121, tr. Cần phải có sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế và sự đa dạng hóa các hình thức sở hữu: “Trong nước ta hiện nay có những hình thức sở hữu chính về tư liệu sản xuất như sau: Sở hữu của nhà nước, tức là của toàn dân; sở hữu của hợp tác xã, tức là sở hữu tập thể của nhân dân lao động; sở hữu của người lao động riêng lẻ; một ít tư liệu sản xuất thuộc về sở hữu của nhà tư bản” [120, tr. Người còn nhấn mạnh từ làm chủ tư liệu sản xuất, họ phải được làm chủ quản lý lao động, làm chủ việc phân phối sản phẩm lao động. - Hai tác giả Nguyễn Năng Nam và Trịnh Vương Cường, trong bài viết “Tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành dân chủ trong xã hội” [135] tập trung khai thác quan điểm Hồ Chí Minh về mối liên hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ trong thực hiện dân chủ.
Người nhấn mạnh “Nhà nước bảo đảm quyền tự do dân chủ cho công dân, nhưng nghiêm cấm lợi dụng các quyền tự do, dân chủ 15 luan an để xâm phạm đến lợi ích của nhà nước, của nhân dân” [120, tr. Mọi công dân có quyền làm chủ thì phải làm tròn nghĩa vụ của người làm chủ, đó là: Tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, kỷ luật lao động, trật tự công cộng và các quy tắc nghĩa vụ quân sự bảo vệ Tổ quốc, “phải có nghĩa vụ làm tròn bổn phận công dân, giữ đúng đạo đức công dân” [118, tr. Sự gắn kết song hành giữa quyền lợi với nghĩa vụ là quan hệ biện chứng căn bản của chế độ dân. Làm rõ điều này là một nội dung thường xuyên của công việc giáo dục ý thức pháp luật trong thực hiện dân chủ.