Luận án tiến sĩ về thực hiện dân chủ ở nông thôn đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam hiện nay

Luận án tiến sĩ nghiên cứu thực hiện dân chủ ở nông thôn đồng bằng bắc bộ việt nam hiện nay 1, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng dụng trong lĩnh vực tại Việt Nam.

Trường đại học

Học viện Khoa học xã hội

Chuyên ngành

CNDVBC & DVLS

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

163
4
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1. Tình hình nghiên cứu về dân chủ và thực hiện dân chủ

1.2. Tình hình nghiên cứu về thực hiện dân chủ ở nông thôn Đồng Bằng Bắc Bộ

1.3. Đánh giá khái quát về kết quả nghiên cứu của các công trình liên quan đến đề tài và những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN DÂN CHỦ Ở NÔNG THÔN ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ

2.1. Khái niệm dân chủ

2.2. Ba hình thái lịch sử của dân chủ

2.3. Về chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và dân chủ ở nông thôn Đồng bằng Bắc bộ

2.4. Thực hiện dân chủ và thực hiện dân chủ ở nông thôn Đồng bằng Bắc Bộ

3. CHƯƠNG 3: THỰC HIỆN DÂN CHỦ Ở NÔNG THÔN ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ VIỆT NAM HIỆN NAY- THỰC TRẠNG VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT RA

3.1. Đảng và Nhà nước lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện dân chủ cơ sở (Giai đoạn từ 1998 cho đến nay)

3.2. Hiện trạng thực hiện dân chủ ở nông thôn Đồng bằng Bắc bộ Việt Nam cho đến hiện nay

3.3. Đánh giá tổng quát thành tựu và hạn chế trong thực hiện dân chủ ở nông thôn Đồng bằng Bắc Bộ và nguyên nhân của các thành tựu và hạn chế

3.4. Một số vấn đề đặt ra đối với việc đẩy mạnh thực hiện dân chủ ở nông thôn Đồng bằng Bắc bộ Việt Nam hiện nay

4. CHƯƠNG 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH THỰC HIỆN DÂN CHỦ Ở NÔNG THÔN ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ

4.1. Phương hướng đẩy mạnh thực hiện dân chủ ở nông thôn Đồng bằng Bắc bộ

4.2. Một số giải pháp và kiến nghị nhằm đẩy mạnh và nâng cao chất lượng thực hiện dân chủ ở nông thôn đồng bằng Bắc Bộ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Thực trạng dân chủ ở nông thôn Đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam

Thực trạng dân chủ ở nông thôn Đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam hiện nay cho thấy nhiều vấn đề cần được giải quyết. Mặc dù đã có những tiến bộ trong việc thực hiện dân chủ, nhưng vẫn tồn tại nhiều hạn chế. Theo số liệu thống kê, tỷ lệ cử tri tham gia bầu cử Quốc hội ở khu vực này chỉ đạt 65%, cho thấy sự thiếu hụt trong tham gia của người dân vào các hoạt động chính trị. Hơn nữa, quyền lợi người dân chưa được đảm bảo đầy đủ, dẫn đến sự chênh lệch trong việc tiếp cận các dịch vụ công và chính sách phát triển. Đảng và Nhà nước đã có nhiều nỗ lực trong việc lãnh đạo và chỉ đạo thực hiện dân chủ cơ sở, nhưng thực tế cho thấy rằng quản lý cộng đồng vẫn còn nhiều bất cập. Những vấn đề này không chỉ ảnh hưởng đến phát triển nông thôn mà còn tác động đến sự ổn định xã hội và sự phát triển bền vững của khu vực.

1.1. Thành tựu trong thực hiện dân chủ

Trong những năm qua, dân chủ ở nông thôn Đồng bằng Bắc Bộ đã có những bước tiến đáng kể. Các chính sách cải cách hành chính đã được triển khai, giúp nâng cao bình đẳng xã hội và tạo điều kiện cho người dân tham gia vào các quyết định liên quan đến cuộc sống của họ. Các tổ chức hợp tác xã đã được thành lập, tạo ra môi trường thuận lợi cho kinh tế nông thôn phát triển. Tuy nhiên, những thành tựu này vẫn chưa đủ để đảm bảo quyền lợi người dân một cách toàn diện. Cần có những biện pháp cụ thể hơn để khuyến khích tham gia của người dân vào các hoạt động chính trị và xã hội.

1.2. Hạn chế trong thực hiện dân chủ

Mặc dù đã có những thành tựu, nhưng thực trạng dân chủ ở nông thôn Đồng bằng Bắc Bộ vẫn còn nhiều hạn chế. Nhiều người dân vẫn chưa nhận thức rõ về quyền lợinghĩa vụ của mình trong việc tham gia vào các hoạt động chính trị. Sự thiếu hụt thông tin và giáo dục cộng đồng về dân chủ cũng là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này. Hơn nữa, chính quyền địa phương đôi khi chưa thực sự lắng nghe ý kiến của người dân, dẫn đến sự thiếu tin tưởng trong quản lý cộng đồng. Những vấn đề này cần được giải quyết để nâng cao chất lượng dân chủ ở khu vực nông thôn.

II. Giải pháp nâng cao thực hiện dân chủ

Để nâng cao hiệu quả thực hiện dân chủ ở nông thôn Đồng bằng Bắc Bộ, cần có những giải pháp đồng bộ và cụ thể. Trước hết, cần tăng cường giáo dục cộng đồng về dân chủquyền lợi người dân. Việc tổ chức các buổi hội thảo, tọa đàm để người dân có thể trao đổi và thảo luận về các vấn đề liên quan đến dân chủ là rất cần thiết. Thứ hai, cần cải thiện quản lý cộng đồng thông qua việc tăng cường sự tham gia của người dân vào các quyết định chính trị. Các cơ chế tham gia cần được thiết lập để người dân có thể dễ dàng tiếp cận và đóng góp ý kiến. Cuối cùng, cần có sự hỗ trợ từ chính quyền địa phương trong việc thực hiện các chính sách phát triển nông thôn, đảm bảo rằng quyền lợi của người dân được bảo vệ và phát huy.

2.1. Tăng cường giáo dục cộng đồng

Giáo dục cộng đồng về dân chủ là một trong những giải pháp quan trọng nhất. Cần tổ chức các chương trình đào tạo, hội thảo để nâng cao nhận thức của người dân về quyền lợinghĩa vụ của họ. Việc này không chỉ giúp người dân hiểu rõ hơn về dân chủ mà còn khuyến khích họ tham gia tích cực vào các hoạt động chính trị. Các tổ chức xã hội cũng cần đóng vai trò tích cực trong việc tuyên truyền và giáo dục về dân chủ.

2.2. Cải thiện quản lý cộng đồng

Cải thiện quản lý cộng đồng là một yếu tố quan trọng để nâng cao thực hiện dân chủ. Cần thiết lập các cơ chế tham gia để người dân có thể dễ dàng tiếp cận và đóng góp ý kiến vào các quyết định chính trị. Chính quyền địa phương cần lắng nghe ý kiến của người dân và tạo điều kiện cho họ tham gia vào quá trình ra quyết định. Điều này không chỉ giúp nâng cao quyền lợi người dân mà còn tạo ra sự tin tưởng giữa chính quyền và cộng đồng.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho một giai đoạn thực hiện dân chủ ở một chất lượng mới. Đại hội VII nhấn mạnh dân chủ phải đi đôi với kỉ cương, phải gắn với công bằng xã hội trong thực tế cuộc sống. Thực hiện dân chủ là công việc của toàn bộ hệ thống chính trị, nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ XHCN, đảm bảo quyền lực thuộc về nhân dân. Dân chủ phải được thực hiện trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, đặc biệt là thực hiện pháp luật phải được thể chế hóa bằng pháp luật.

Theo tác giả, Đại hội IV và Đại hội V nhấn mạnh việc xây dựng chế độ làm chủ tập thể, nhưng lại chưa xác định rõ những điều kiện và thiết chế thực 11 luan an tiễn, nên việc thực hiện dân chủ kém hiệu quả. Nhân dân ủy quyền cho nhà nước, nhưng lại không có điều kiện và thiết chế để kiểm tra, giám sát quyền lực. Đảng lãnh đạo nhưng lại bao biện, làm thay công việc của nhà nước. Đến Đại hội VII quan điểm này được làm rõ: “Điều kiện quan trọng để phát huy dân chủ là xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng cường pháp chế XHCN, nâng cao trình độ dân trí, trình độ hiểu biết pháp luật, và ý thức tuân thủ pháp luật của nhân dân”[47,Tr.

Quan niệm về chủ thể của thực hiện dân chủ được hoàn thiện hơn với chủ trương “Nâng cao ý thức về quyền và nghĩa vụ của nhân dân, năng lực làm chủ, tham gia quản lý xã hội của nhân dân” [51, tr. 239] được nêu lên trong Đại hội XI. Hiến pháp 1992 ghi nhận: “Ở nước CHXHCNVN các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và Luật” (Điều 50, Hiến Pháp 1992). Nghiên cứu này của Nguyễn Viết Thông đã làm rõ quá trình phát triển nhận thức về thực hiện dân chủ của ĐCSVN.

Đó là cơ sở xuất hiện những chỉ đạo sáng suốt của Đảng trong những năm thực hiện quy chế dân chủ cơ sở và Pháp lệnh 34 vừa qua. - Công trình nghiên cứu “Thực hành dân chủ trong điều kiện một Đảng duy nhất cầm quyền” [59] do Phạm Văn Đức chủ biên đề cập tới một vấn đề quan trọng hàng đầu trong các đặc trưng của chế độ dân chủ XHCN ở Việt Nam, đó là ĐCSVN giữ vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Phần 3 của tác phẩm giành cho việc luận chứng ba nội dung cơ bản đối với việc thực hiện dân chủ, trước hết tác giả nhấn mạnh Đảng phải tiếp tục đổi mới toàn diện, từ công tác lý luận, tư tưởng đến công tác cán bộ, thu hút nhân tài vào hàng ngũ của Đảng, đến tăng cường mối quan hệ máu thịt với nhân dân, mở rộng dân chủ, thấm nhuần tư tưởng lấy dân làm gốc. Hai là, không ngừng hoàn thiện nền dân chủ XHCN, thực hiện “tất cả quyền lực thuộc về nhân dân” tiếp thu và phát triển các giá trị nhân loại về dân chủ.

Ba là, không ngừng hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN. 12 luan an Sau khi nêu lên những kinh nghiệm thực hành dân chủ ở một số nước như Đức, Thái Lan, Xin-ga-po, Đài Loan…ở chương IV, tác giả đưa ra những quan điểm, phương hướng và giải pháp thực hành dân chủ, đề cao hình thức quản lý xã hội dưới hình thức nhà nước, tiếp thu có chọn lọc và vận dụng các quan điểm của lý thuyết dân chủ hiện đại, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, gắn liền với quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân như một nội dung trọng tâm, có sức lan tỏa đến toàn bộ quá trình thực hiện dân chủ. Những luận điểm mà tác phẩm này nêu lên vừa khẳng định tính khả thi của việc thực hiện dân chủ trong hoàn cảnh một Đảng duy nhất cầm quyền ở nước ta, chống lại một cách có hiệu quả các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, vừa hoàn toàn phù hợp với những thành quả toàn diện của Việt Nam trong hơn 30 năm đổi mới, trong đó có những thành tựu quan trọng về thực hiện những quyền dân chủ cơ bản như dân chủ về chính trị, dân chủ về kinh tế, về văn hóa xã hội, thông qua các chương trình quốc gia về xây dựng nông thôn mới, xóa đói giảm nghèo, phát triển giáo dục, chăm sóc y tế… - Nguyễn Thế Phúc có bài nghiên cứu “Tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành dân chủ trong Đảng” [147]. Tác giả xuất phát từ những luận điểm về vai trò quyết định của Đảng đối với thắng lợi của cách mạng.

“Trước hết phải có Đảng cách mệnh” và “Đảng có vững cách mệnh mới thành công” [tập 2, Tr289- HCM toàn tập, 2011] để đi tới quan niệm có quan hệ trực tiếp tới vấn đề thực hiện dân chủ: Đảng muốn vững mạnh, đủ sức lãnh đạo cách mạng đi tới thành công thì một trong những vấn đề cốt yếu nhất là thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng. Phải thực sự mở rộng dân chủ trong Đảng để tất cả các đảng viên bày tỏ hết ý kiến của mình. Lãnh đạo (một cách) dân chủ nghĩa là phải sâu sát với quần chúng, không được áp đặt mệnh lệnh một cách độc đoán, mà phải biết lắng nghe ý kiến của quần chúng, nhưng không theo đuôi. 13 luan an Tác giả nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa Đảng và quần chúng.

Đây là ngọn nguồn sức mạnh cho Đảng, thông qua cơ chế thực hiện dân chủ. - Bài nghiên cứu của Phạm Văn Bính “ Dân chủ và thực hành dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh” [20] nêu lên một vài khía cạnh rất cụ thể, rất thực tế, gần gũi với đời sống trong quan niệm của chủ tịch Hồ Chí Minh về thực hiện dân chủ. Theo tác giả, nguyên tắc và cơ chế vận hành của hoạt động dân chủ là từ trong quần chúng ra và trở lại với quần chúng, “Cách lãnh đạo cực kỳ tốt là gom góp mọi ý kiến rời rạc, lẻ tẻ của quần chúng, rồi phân tích nó, nghiên cứu nó, sắp đặt nó thành những ý kiến có hệ thống. Rồi đem nó tuyên truyền giải thích cho quần chúng và làm cho nó thành ý kiến của quần chúng, làm cho quần chúng giữ vững và thực hành ý kiến đó” [116,Tr 290].

Theo Hồ Chí Minh các nguyên tắc cơ bản nhất của thực hiện dân chủ đều là dựa vào dân: “1. Việc gì cũng phải học hỏi và bàn bạc với dân chúng. Tin vào dân chúng. Đưa mọi vấn đề cho dân chúng thảo luận và tìm cách giải quyết.

Chúng ta có khuyết điểm thì thật thà thừa nhận trước mặt dân chúng. Nghị quyết gì mà dân chúng cho là không phù hợp thì để họ đề nghị sửa chữa. Dựa vào dân chúng mà sửa chữa cán bộ và tổ chức của ta. Chớ khư khư theo “sáo cũ”.

Luôn luôn phải theo tình hình thiết thực của dân chúng nơi đó và lúc đó, theo trình độ giác ngộ của dân chúng, theo sự tình nguyện của dân chúng mà tổ chức họ, tùy hoàn cảnh thiết thực trong nơi đó và lúc đó đưa ra đấu tranh. Tuyệt đối không theo đuôi quần chúng. Nhưng phải khéo tập trung ý kiến của quần chúng, hóa nó thành cái đường lối để lãnh đạo quần chúng, phải xem cách nhân dân so sánh, xem xét, giải quyết các vấn đề, mà hóa nó thành cách chỉ đạo nhân dân. “Phải đưa chính trị vào giữa dân gian”.

Trước kia việc gì cũng từ “trên lộn xuống”. Từ nay việc gì cũng phải từ “dưới nhoi lên” [116,Tr. 14 luan an Theo Hồ Chí Minh, chỉ có ở chế độ dân chủ, tư tưởng con người mới được tự do. Khi tự do tư tưởng không được tôn trọng thì trên dưới không hiểu nhau, cách biệt nhau, rồi quần chúng với Đảng xa rời nhau.

Phương pháp khắc phục tình trạng này là “trong lúc khai hội, cấp trên để cho mọi người có gì nói hết, cái đúng thì nghe, cái không đúng thì giải thích sửa chữa” [116,Tr. Nghiên cứu đề cập đến một vấn đề rất quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hiện dân chủ, đó là mối quan hệ giữa Đảng và quần chúng, cách thức tốt nhất để Đảng thực hiện được vai trò lãnh đạo là thực hiện dân chủ thiết thực, dựa vào quần chúng nhân dân. - Nghiên cứu của Nguyễn Đình Bắc với tiêu đề “Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong kinh tế và sự vận dụng của Đảng ta trong sự nghiệp đổi mới” [17]. Tác giả nhấn mạnh rằng trong quan niệm về dân chủ kinh tế của Hồ Chí Minh, vấn đề quyền sở hữu của nhân dân, của người lao động là vấn đề quan trọng hàng đầu.

Cần phải làm cho người xã viên nhận thức rõ “Mình là người làm chủ tập thể của hợp tác xã, có quyền bàn bạc và quyết định những công việc của hợp tác xã” [121, tr. Cần phải có sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế và sự đa dạng hóa các hình thức sở hữu: “Trong nước ta hiện nay có những hình thức sở hữu chính về tư liệu sản xuất như sau: Sở hữu của nhà nước, tức là của toàn dân; sở hữu của hợp tác xã, tức là sở hữu tập thể của nhân dân lao động; sở hữu của người lao động riêng lẻ; một ít tư liệu sản xuất thuộc về sở hữu của nhà tư bản” [120, tr. Người còn nhấn mạnh từ làm chủ tư liệu sản xuất, họ phải được làm chủ quản lý lao động, làm chủ việc phân phối sản phẩm lao động. - Hai tác giả Nguyễn Năng Nam và Trịnh Vương Cường, trong bài viết “Tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành dân chủ trong xã hội” [135] tập trung khai thác quan điểm Hồ Chí Minh về mối liên hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ trong thực hiện dân chủ.

Người nhấn mạnh “Nhà nước bảo đảm quyền tự do dân chủ cho công dân, nhưng nghiêm cấm lợi dụng các quyền tự do, dân chủ 15 luan an để xâm phạm đến lợi ích của nhà nước, của nhân dân” [120, tr. Mọi công dân có quyền làm chủ thì phải làm tròn nghĩa vụ của người làm chủ, đó là: Tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, kỷ luật lao động, trật tự công cộng và các quy tắc nghĩa vụ quân sự bảo vệ Tổ quốc, “phải có nghĩa vụ làm tròn bổn phận công dân, giữ đúng đạo đức công dân” [118, tr. Sự gắn kết song hành giữa quyền lợi với nghĩa vụ là quan hệ biện chứng căn bản của chế độ dân. Làm rõ điều này là một nội dung thường xuyên của công việc giáo dục ý thức pháp luật trong thực hiện dân chủ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tên "Luận án tiến sĩ về thực hiện dân chủ ở nông thôn đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam hiện nay" của tác giả Hoàng Thị Thúy, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Hồ Việt Hạnh, tập trung vào việc phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao mức độ thực hiện dân chủ tại các vùng nông thôn ở đồng bằng Bắc Bộ. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình dân chủ hiện tại mà còn đưa ra những khuyến nghị thiết thực cho việc cải thiện quản lý và phát triển cộng đồng. Độc giả sẽ tìm thấy nhiều thông tin hữu ích về cách thức thực hiện dân chủ trong bối cảnh nông thôn, từ đó có thể áp dụng vào thực tiễn.

Nếu bạn quan tâm đến các vấn đề liên quan đến phát triển nông thôn và quản lý kinh tế, bạn có thể tham khảo thêm bài viết "Tính dễ tổn thương và chiến lược thích ứng với biến đổi khí hậu của người dân tộc Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long", nơi phân tích sự thích ứng của cộng đồng với biến đổi khí hậu, hay "Luận Án Tiến Sĩ Về Phân Tích Chuỗi Giá Trị Sản Phẩm Đồ Gỗ Gia Dụng Từ Gỗ Keo Acacia", nghiên cứu về chuỗi giá trị trong ngành gỗ, một lĩnh vực có liên quan mật thiết đến phát triển kinh tế nông thôn. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng hiểu biết về các khía cạnh khác nhau của phát triển nông thôn và quản lý tài nguyên.