mở đầu cho một thời kỳ mới trong lịch sử phát triển của nền dân chủ thời cận đại. Nền tảng lý luận cho tư tưởng chính trị của hai cuộc cách mạng này là lý thuyết về khế ước xã hội của John Locke và Jean-Jacques Rousseau vào thế kỷ XVII-XVIII. Lý thuyết này cho rằng tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng và quyền tự do tự nhiên, nhà nước là do mọi người cùng nhau thỏa ước và lập ra để bảo vệ các quyền lợi đó. Đặt trong bối cảnh xã hội thời kỳ này thì đây là một lý thuyết vô cùng mới mẻ khi cho rằng, một nền dân chủ thực sự là chế độ chính trị được xây dựng và điều hành bởi mọi người chứ không phải nhà vua hay quý tộc [66, tr.
Rousseau cho rằng chính quyền là đại diện cho ý chí của người dân nên bổn phận của chính quyền 17 là phục vụ cho ý nguyện và quyền lợi của người dân: “Việc thành lập chính quyền không phải là một khế ước, nhưng là một điều luật; và những người được giao phó quyền hành pháp không phải là những chủ nhân ông của dân chúng mà chỉ là những kẻ thừa hành; dân chúng có thể đưa họ lên và cách chức họ tùy theo ý muốn” [39, tr. Như vậy, quan niệm về dân chủ đã đạt được bước phát triển mới, không chỉ là “của dân, do dân” mà còn phải “vì dân”, nghĩa là phải đảm bảo các quyền tự do và bình đẳng của mỗi cá nhân. Tổng thống Abraham Lincol cũng khẳng định rằng dân chủ là chính quyền của dân, do dân và vì dân [54, tr. Lenin quan niệm dân chủ là chế độ được tạo ra bởi nhân dân theo nguyên tắc bình đẳng: “chế độ dân chủ có nghĩa là chính thức thừa nhận quyền bình đẳng giữa những công dân, thừa nhận cho mọi người quyền ngang nhau trong việc xác định cơ cấu nhà nước và quản lý nhà nước” [26, tr.
Hồ Chí Minh quan niệm dân chủ tức là nhân dân lao động làm chủ, mọi quyền hạn của quốc gia đều là của dân: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân…Chính quyền từ xã đến trung ương do dân cử ra” [20, tr. Theo định nghĩa trong từ điển, dân chủ là“chủ quyền quốc gia thuộc về nhân dân” [64, tr.1593]1 ; dân chủ là một chế độ do toàn thể nhân dân cai trị thông qua những đại biểu do dân bầu ra (chế độ dân chủ); người dân có quyền tự do ngôn luận, tự do tư tưởng, tán thành pháp trị và tôn trọng quyền thiểu số (nước dân chủ); mọi công dân đều được đối xử bình đẳng mà không phân biệt giai cấp (xã hội dân chủ, bình đẳng); người dân có quyền tham gia các tổ chức và ra quyết định (quyền dân chủ) [52, tr.
Chế độ dân chủ ‘‘là chế độ chính trị, trong đó, toàn bộ quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, do nhân dân thực hiện trực tiếp hoặc thông qua 1 Nguyên văn: 「国家の主権が国民にあること。」 18 đại diện do nhân dân bầu ra’’ [8, tr. Dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện là hai hình thức thực hiện quyền dân chủ của nhân dân. Nhân dân thực thi quyền lực nhà nước thông qua việc trực tiếp quyết định các vấn đề trọng đại của đất nước (chế độ bầu cử, trưng cầu dân ý), hay ủy nhiệm và thông qua cơ quan đại diện do mình bầu chọn để thực thi quyền lực nhà nước. Từ điển tiếng Việt định nghĩa dân chủ là ‘‘chế độ dân chủ hoặc quyền dân chủ; toàn dân có quyền tham dự việc nước hoặc tự do phát biểu ý kiến về việc nước; tôn trọng quyền tự do dân chủ, không quan liêu độc đoán’’ [35, tr.
Điểm chung trong quan niệm về dân chủ của các học giả và các định nghĩa về dân chủ trong từ điển ngày nay đó là đều cho rằng: dân chủ là chế độ do toàn thể nhân dân cai trị. Một số từ điển phân tích ý nghĩa của dân chủ dưới hai góc độ là chế độ dân chủ và quyền dân chủ, theo đó, chế độ dân chủ là chế độ chính trị mà toàn bộ quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, do nhân dân trực tiếp hoặc gián tiếp thực hiện quyền cai trị; còn quyền dân chủ là các quyền tự do và quyền bình đẳng của công dân. Từ các quan điểm về ý nghĩa của dân chủ như trên, có thể khái quát rằng: dân chủ là chế độ trong đó toàn dân là chủ thể quyền lực của nhà nước, có quyền tham gia quản lý nhà nước và quyết định các vấn đề liên quan đến vận mệnh quốc gia, được công nhận và bảo vệ các quyền con người, quyền tự do, bình đẳng trong mọi lĩnh vực xã hội. 2) Dân chủ là tất yếu của tiến bộ xã hội James L.
Payne cho rằng có hai quan điểm về sự bắt đầu của một nền dân chủ. Quan điểm thứ nhất cho rằng dân chủ được xây dựng theo mô hình định sẵn từ nhu cầu kiến thiết xã hội. Quan điểm này cho rằng dân chủ là một bộ máy được xây dựng với nhiều phần: Hiến pháp, hệ thống bầu cử, tổ chức dân sự,. và cần có các chuyên gia để tiến hành lắp ráp chúng lại với nhau.
Quan điểm thứ hai cho rằng dân 19 chủ là kết quả tự nhiên trong xã hội, xuất hiện khi xã hội tiến đến một giai đoạn cách mạng văn hóa. Dân chủ không thể bị áp đặt từ bên ngoài khi xã hội chưa sẵn sàng. Khi có điều kiện thuận lợi, dân chủ sẽ tự nhiên xuất hiện, không có chuyên gia hay kiến trúc sư xã hội nào tạo ra dân chủ. Điều kiện văn hóa làm cho một quốc gia “sẵn sàng” cho dân chủ đó là khi các nhà lãnh đạo chính trị quyết định không sử dụng bạo lực chống lại nhau, và họ chuyển sang các phương thức không bạo lực như là bầu cử để giải quyết tranh chấp.
Ví dụ như trường hợp Đức, Ý và Nhật sau thế chiến thứ hai. Quân Đồng minh không làm gì để tạo ra nền dân chủ tại các quốc gia này. Thay vào đó, các lãnh đạo lầm đường lạc lối, bạo lực của thời trước ra đi, để lại các lãnh đạo theo khuynh hướng không bạo lực chống lại nhau. Các nhà lãnh đạo không theo khuynh hướng bạo lực này chủ trương nền chính trị ôn hòa, và quyết định phương cách dùng để giải quyết tranh chấp là tổ chức bầu cử.
Với tiền đề này, dân chủ xuất hiện một cách tự nhiên [60, tr. Payne cho rằng dân chủ là kết quả tự nhiên của sự phát triển xã hội chứ không phải là kết quả của một sự áp đặt từ bên ngoài. Nhưng James L. Payne chỉ nhấn mạnh đến vai trò của các nhà lãnh đạo khi cho rằng dân chủ xuất hiện khi các lãnh đạo quyết định không dùng bạo lực để giải quyết tranh chấp.
Ông đã bỏ qua vai trò của nhân dân trong quá trình xuất hiện và phát triển của dân chủ. Suy cho cùng, dân chủ xuất phát từ nhu cầu của chính nhân dân, nhu cầu không bị đàn áp bằng bạo lực. Chính sự phản kháng của nhân dân cho thấy rằng phương thức cai trị bằng bạo lực không thể tồn tại lâu dài, và các nhà làm chính sách nếu muốn kết thúc sự phản kháng này thì không còn lựa chọn nào ngoài việc phải cai trị bằng chế độ dân chủ. Đồng tình với quan điểm dân chủ là kết quả tất yếu của sự phát triển xã hội, tác giả Nguyễn Minh Tuấn cho rằng “dân chủ không từ trên trời rơi xuống mà là kết quả đấu tranh lâu dài của nhân dân, là kết quả của quá trình nhận thức, là tất yếu 20 của tiến bộ xã hội” [48, tr.
Dân chủ là nhu cầu tự nhiên và tất yếu của tiến bộ xã hội, nhưng không có nghĩa chúng ta chỉ thụ động chờ đợi và “cầu nguyện” rằng Thượng đế sẽ ban cho chúng ta một xã hội tự do, công bằng và bác ái. Dân chủ chỉ phát triển khi con người nhận thức và quyết tâm đấu tranh để bảo vệ các quyền tự do và bình đẳng của mình khỏi sự thao túng của chính quyền. Các giá trị dân chủ đạt được trong quá trình phát triển của nền dân chủ trong lịch sử (dân chủ chủ nô, dân chủ tư sản, dân chủ vô sản) cho thấy rằng dân chủ là một nhu cầu tất yếu và thể hiện tính chất tiến bộ của xã hội. Nền dân chủ chủ nô thời cổ đại đã nhanh chóng bị thay thế bởi sự chuyên chế của chế độ phong kiến tập quyền.
Tuy nhiên, dù chính quyền phong kiến áp dụng những biện pháp cai trị hà khắc, nhưng cũng không thể dập tắt được tư tưởng đấu tranh của người dân, vì nhu cầu tự do và bình đẳng là nhu cầu tự nhiên của con người. Sự phát triển của xã hội đã tạo điều kiện hình thành các giai cấp tiến bộ với mong muốn tiến hành cuộc cách mạng đã đánh đổ nhà nước phong kiến, xây dựng một chế độ bình đẳng và tự do. Thông qua thành công của cách mạng tư sản Pháp năm 1789 và cách mạng tư sản Mỹ năm 1787, giai cấp tư sản với vai trò là lực lượng lãnh đạo đã đưa dân chủ phát triển lên một hình thức mới: dân chủ tư sản. Tuy nhiên, qua thời gian, giai cấp tư sản đã bộc lộ bản chất bóc lột đối với đại đa số nhân dân lao động và chủ yếu bảo vệ quyền lợi cho giai cấp mình.
Chính tính chất dân chủ hạn hẹp trong kiểu nhà nước tư sản đã thúc đẩy nhu cầu tất yếu của một cuộc cách mạng do giai cấp đại diện quần chúng nhân dân lãnh đạo. Sự thành công của Công xã Paris năm 1871 và Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 đã đem đến cho xã hội một chế độ dân chủ cao hơn: dân chủ xã hội chủ nghĩa. Sự đề cao nền dân chủ xã hội chủ nghĩa không đồng nghĩa với sự phủ định tính chất tiến bộ và những thành quả mà nền dân chủ tư sản đã đem lại cho xã hội. Bởi vì, trước khi xuất hiện nền dân chủ vô sản, nền dân chủ tư sản được cho là đỉnh cao trong sự tiến hóa 21 của dân chủ.
Vì là thành quả của cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động nên nền dân chủ tư sản kế thừa những mặt tích cực, đó là tự do, công bằng, bình đẳng. Tuy nhiên xét về bản chất, đây là nền dân chủ của giai cấp tư sản, nên giai cấp được bảo vệ quyền lợi ở đây thực ra là giai cấp tư sản [51, tr.