mở đầu phiên toà nhằm kiểm tra các điều kiện cần thiết cho việc mở phiên toà. Thủ tục xét hỏi nhằm kiểm tra và công khai toàn bộ các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ; xem xét các mâu thuẫn (nếu có) của các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ; công bố bổ sung và kiểm tra các tài liệu, chứng cứ mới do các bên cung cấp tại phiên toà. Tranh luận là trình tự tố tụng mà các bên trong TTHS (bên buộc tội và bên gỡ tội) dựa trên các chứng cứ, các quy định của pháp luật, đưa ra các luận điểm, luận cứ và luận chứng để làm rõ các vấn đề trong vụ án. Trong các trình tự tố tụng diễn ra tại phiên toà, chỉ có trình tự tranh luận là có sự diễn ra đối đáp hai chiều, có đi có lại giữa quan điểm của các bên buộc tội và gỡ tội.
Thông qua tranh luận, đối đáp, 15 n phản biện, bác bỏ quan điểm lẫn nhau để có cơ sở khẳng định quan điểm của mỗi bên. Nhìn chung, mỗi trình tự tố tụng đều có ý nghĩa pháp lý riêng trong việc nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án, tuy nhiên hoạt động tranh tụng của KSV là hoạt động trọng tâm tại phiên toà xét xử. Trong công tác cải cách tư pháp, Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính đã xác định rằng trước hết cần phải nâng cao chất lượng của người đóng vai trò công tố, việc tranh tụng cần bảo đảm được tính dân chủ với Luật sư, và với những người tham gia tố tụng. Trong quá trình xét xử, tòa án có vai trò bảo đảm sự bình đẳng của các bên tham gia tranh tụng.
Người giữ vai trò Thẩm phán, Hội thẩm độc lập và thực hiện nhiệm vụ của mình chỉ tuân theo các quy định pháp luật. Các phán quyết phải căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các bản án cần phải đúng với quy định, thuyết phục và trong thời gian quy định của pháp luật. Một trong những hoạt động đột phá của các cơ quan tư pháp theo yêu cầu của Đảng và Nhà nước là phải nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp, chất lượng tranh tụng tại tất cả các phiên tòa xét xử theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị và Nghị quyết số 37/NQ-QH13 ngày 23/11/2012. Qua đó cho thấy khái niệm tranh tụng xuất hiện chính thức qua các Nghị quyết của Đảng về cải cách tư pháp.
Khái niệm này cũng đã được đưa vào trong quy định của Hiến pháp từ năm 2013. Ở đây hoạt động tranh luận của KSV và những người tham gia tố tụng tại phiên toà xét xử vụ án hình sự (gồm cả sơ thẩm và phúc thẩm) là tranh tụng. Trong đó, KSV và người tham gia tố tụng dựa trên các quy định của pháp luật, qua các chứng cứ, với tư duy logic hình thức để xây dựng nên các luận điểm, luận cứ và luận chứng nhằm đưa vụ án về đúng với sự thật khách quan của nó. Từ những phân tích, trình bày ở trên cho thấy, bản chất của khái niệm “tranh tụng” được nhìn dưới hai góc độ pháp lý và nhận thức.
Bản chất của tranh tụng dưới góc độ pháp lý bao gồm: 16 n Tranh tụng được thực hiện bởi sự tham gia của Kiểm sát viên và người tham gia tố tụng khác, phải tuân theo các quy định của Bộ luật TTHS. Các bên tham gia tranh tụng ở những vai trò khác nhau nhưng bình đẳng với nhau trong việc thực hiện các hoạt động nhằm đưa vụ án kết thúc. Kiểm sát viên có thể tranh tụng với luật sư, với người phạm tội, người bị hại và những người tham gia tố tụng khác để làm sáng tỏ mục đích của người tham gia tranh tụng. Trong quá trình diễn ra hoạt động tranh tụng tại phiên toà, chủ toạ phiên toà có quyền có quyền yêu cầu các bên tiến hành tranh tụng hoặc chấm dứt tranh tụng.
Nội dung, phương pháp tranh tụng được người chủ tọa điều chỉnh trong toàn bộ quá trình diễn ra tại phiên tòa để làm rõ vụ án và đúng theo quy định của pháp luật. Tìm ra sự thật khách quan của vụ án chính là mục tiêu mà hoạt động tranh tụng nhắm đến, bao gồm: dưới góc độ thực tiễn và dưới góc độ pháp lý. Về góc độ pháp lý, được khái quát từ thực tiễn và trên cơ sở pháp luật hình sự và Bộ luật TTHS. Các quan điểm, luận cứ và luận chứng của các bên đưa ra trong việc giải quyết vụ án chính là đối tượng của hoạt động tranh tụng tại phiên tòa.
Các bên chủ thể tranh tụng dựa vào các quy định của pháp luật hiện hành, sử dụng các chứng cứ trong hồ sơ cũng như chứng cứ mới cung cấp đã được kiểm tra tại phiên tòa, để làm rõ các đối tượng tranh tụng là cách thức thực hiện tranh tụng. Khi xem xét tranh tụng là hoạt động nhận thức thì bản chất của tranh tụng trước hết là được tiến hành trên cơ sở tư duy logic hình thức. Các bên tham gia tranh tụng sử dụng các hình thức, biện pháp khác nhau để khẳng định, bác bỏ hoặc thừa nhận quan điểm của các bên tham dự phiên tòa. Các bên tham gia tranh tụng có quyền và có trách nhiệm tiến hành tranh tụng, và điều đó còn là một phần của sự thật khách quan của vụ án.
Xét về nguyên tắc, thông qua tranh tụng chân lý về vụ án phải được tìm thấy. Còn 17 n với trường hợp vụ án có đầy đủ bằng chứng, người vi phạm tự giác nhận tội và không có các ý kiến trái chiều thì không diễn ra hoặc chỉ diễn ra việc tranh tụng ở chừng mực nào đó mà thôi. Các vấn đề về bảo đảm của nguyên tắc tranh tụng trong xét xử các vụ án hình sự Vấn đề bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong hoạt động tố tụng hình sự để loại bỏ tình trạng oan sai, bảo đảm quyền con người đã được Đảng đề cập trước hết trong Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị. Kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các chứng cứ và ý kiến của KSV… được tòa án lấy làm căn cứ để ra những bản án đúng pháp luật và có sức thuyết phục”.
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị “Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” cũng đã đề ra yêu cầu: “Nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp, chất lượng tranh tụng tại tất cả phiên tòa xét xử. Đây được xem Bộ chính trị xem là hoạt động đột phá của các cơ quan tư pháp. Với các Nghị quyết nêu trên cho thấy quan điểm của Đảng coi tranh tụng là khâu đột phá trong hoạt động xét xử của Tòa án các cấp, nâng cao chất lượng tranh tụng sẽ góp phần nâng cao chất lượng công tác xét xử, tránh oan sai và bảo vệ các quyền cơ bản của người bị buộc tội. Yêu cầu bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong hoạt động tố tụng hình sự thể hiện qua các Nghị quyết của Đảng là cơ sở để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xây dựng và hoàn thiện các quy định pháp luật về tố tụng hình sự.
Thực hiện các quan điểm chỉ đạo của Đảng, vấn đề bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong hoạt động tố tụng hình sự đã từng bước thể chế hóa đưa vào quy định của Hiến pháp và các văn bản pháp luật về tố tụng hình sự, được hệ thống Tòa án áp dụng vào thực tiễn công tác xét xử từ nhiều năm qua. Về mặt pháp lý, mặc dù thuật ngữ “tranh tụng” chưa được đề cập chính thức trong các văn bản quy phạm pháp luật cụ thể, mới chỉ quy định tại 18 n Chương XXI của Bộ luật TTHS là tranh luận tại phiên tòa, song từ thực tế hoạt động xét xử các vụ án hình sự có thể hiểu: tranh tụng trong tố tụng hình sự là tranh luận giữa các bên (bên buộc tội và bên gỡ tội) dựa trên những tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án, làm cơ sở cho việc ra phán quyết của Tòa án. Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 có nhiều quy định bảo đảm tranh tụng tại phiên tòa như Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng có quyền yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng, yêu cầu đưa thêm vật chứng và tài liệu để xem xét (Điều 305); người bào chữa có quyền bình đảng với Kiểm sát viên, người bào vệ quyền lợi của đương sự trong việc xét hỏi bị cáo và những người tham gia tố tụng khác (các Điều 307, 309, 311, 312 và 316) có quyền cùng Hội đồng xét xử xem xét vật chứng, xem xét tại chỗ hiện trường nơi xảy ra tội phạm và trình bày nhận xét của mình (Điều 312, 314) và trình tự phát biểu khi tranh luận và đối đáp. Tòa án là trung tâm, xét xử là trọng tâm, bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong quá trình thực hiện việc xét xử là chủ trương đã được Đảng ta xác định.
Để bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử, nhiều quy định đã được bổ sung trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Cụ thể bộ luật TTHS đã quy định trách nhiệm của Tòa án trong việc giải quyết yêu cầu, đề nghị của Kiểm sát viên, của những người tham gia tố tụng về việc bổ sung các chứng cứ, tài liệu, triệu tập người làm chứng và những người tham gia tố tụng khác đến phiên tòa, việc thay đổi thành viên hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa, kiểm sát viên, đề nghị thay đổi biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế (Điều 279) Để khắc phục tình trạng chất lượng tranh tụng còn hạn chế ở những phiên tòa có đông bị cáo và có nhiều luật sư tham gia theo quy định cũ chỉ có hai kiểm sát viên tham gia (Điều 189 – Bộ luật TTHS 2003). Do vậy Bộ luật TTHS năm 2015 đã quy định: Khi thực hành quyền công tố, kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp phải có mặt, kiểm sát xét xử tại phiên tòa; phải hoãn 19 n phiên tòa nếu Kiểm sát viên không có mặt tham dự. Có thể có nhiều Kiểm sát viên trong quá trình tranh tụng khi vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp (Khoản 1 Điều 289); Đặc biệt, nhằm giúp cho việc tranh tụng thể hiện ở phần tranh luận và cả trong phần xét hỏi, Mục V thuộc chương XXI của Bộ luật TTHS năm 2015 đã xuất hiện nội dung “thủ tục tranh tụng tại phiên tòa”.
Đồng thời, về trình tự xét hỏi cũng đã được sửa đổi, bổ sung thêm các quy định.