Chương 1, chúng ta có thể đi đến những kết luận sau đây: 1. Đại biểu Quốc hội là người được nhân dân lựa chọn thông qua bầu cử, đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, là người thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước tại Quốc hội. Đại biểu Quốc hội mang một bản chất kép, vừa là người của nhân dân, hoà đồng với thực tế xã hội, cảm thông, thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng của quần chúng, vừa là một thành viên của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất – Quốc hội. Hoạt động của đại biểu Quốc hội giúp chuyển giao ý chí, quyền lực từ hàng triệu con tim, khối óc cử tri trở thành quyền lực của nhà nước, tạo ra bản chất của dân, do dân, vì dân của nhà nước.
Đại biểu Quốc hội nước ta ra đời trong cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc. Ngay từ khi ra đời, đại biểu Quốc hội nước ta đã là người đại diện cho nhân dân cả nước, do cử tri cả nước trực tiếp bầu ra qua bầu cử phổ thông. Bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được Quốc hội khoá I, kỳ họp thứ hai thông qua ngày 9/11/2005 đã ghi nhận các quyền và nghĩa vụ cơ bản của đại biểu Quốc hội. Ngay sau khi giành được độc lập, đất nước lại trải qua hai cuộc chiến tranh khốc liệt.
Trong 20 năm chiến tranh và 10 năm sau đó, chúng ta áp dụng mô hình nền kinh tế kế hoạch hoá, tập trung để phát triển kinh tế xã hội. Nền kinh tế này đã phát huy mặt tích cực, đặc biệt là trong thời chiến, tạo điều kiện tập trung và huy động mọi nguồn lực phục vụ nhiệm vụ ưu tiên 21 z số 1 là giải phóng đất nước. Tuy nhiên, nền kinh tế này với những đặc thù của nó đã ảnh hưởng sâu sắc đến tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, trong đó có Quốc hội và đại biểu Quốc hội. Đại biểu Quốc hội trong nền kinh tế kế hoạch hoá, tập trung có ít việc để làm, hoạt động hình thức, vai trò mờ nhạt.
Đặc điểm cơ bản của đại biểu Quốc hội thời kỳ này là: + Mặc dù Hiến pháp và Luật tổ chức Quốc hội đã quy định về các quyền và nghĩa vụ cơ bản của Quốc hội và cá nhân đại biểu Quốc hội nhưng mới chỉ dừng lại ở những tuyên bố pháp lý do thiếu những quy định cụ thể về trình tự, thủ tục, cơ chế và những quyền năng cụ thể để thực hiện. + Pháp luật thiếu các quy định về trách nhiệm cá nhân của đại biểu Quốc hội, do vậy sự năng động, sáng tạo của từng đại biểu Quốc hội không được phát huy. Thay vào đó là cơ chế trách nhiệm tập thể, hoạt động theo tập thể trong các hoạt động lập pháp, giám sát. Đoàn đại biểu Quốc hội được thành lập ở các địa phương để tổ chức các hoạt động tập thể cho đại biểu Quốc hội ở địa phương.
Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội được thành lập để giúp việc tập trung cho đại biểu Quốc hội trong Đoàn. + Hầu hết các đại biểu Quốc hội là các công chức hành chính kiêm nhiệm, hoạt động đại biểu mang tính hình thức, thời vụ, chủ yếu tập trung trong thời gian hai kỳ họp hàng năm. Tính thời vụ trong hoạt động của Quốc hội và đại biểu Quốc hội làm nảy sinh chế định về Uỷ ban thường vụ Quốc hội, một cơ quan trực thuộc Quốc hội, thay mặt Quốc hội giải quyết mọi vấn đề trong thời gian Quốc hội không nhóm họp. Uỷ ban thường vụ Quốc hội được pháp luật trao cho những quyền lực rất lớn, tương tự quyền lực của một Quốc hội thu nhỏ.
+ Bầu cử đại biểu Quốc hội trong nền kinh tế kế hoạch hoá, tập trung không hướng tới lực chọn những cá nhân xuất sắc, có năng lực mà cốt lựa chọn đủ thành phần, cơ cấu theo kế hoạch đã định sẵn để đảm bảo tính đại diện hình thức của Quốc hội. Mặc dù quyền tự do bầu cử của nhân dân được pháp luật quy định rất rõ ràng và tiến bộ, nhưng các quy định về quyền ứng 22 z cử lại được giới hạn. Ứng cử viên được phân bổ theo một cơ chế tương tự “cơ chế cấp hạn ngạch” về từng cơ quan, tổ chức để giới thiệu. Các hội nghị hiệp thương sơ tuyển ứng cử viên theo những tiêu chí pháp luật định sẵn, không dựa trên chương trình hành động và những cam kết của đại biểu.
23 z CHƢƠNG 2 NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN VÀ NHỮNG ĐÒI HỎI ĐỐI VỚI QUỐC HỘI, ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI Nếu cơ chế kinh tế kế hoạch hoá, tập trung đã có những đóng góp tích cực trong thời chiến, thì cơ chế thị trường là lựa chọn đúng đắn để thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xây dựng đất nước trong thời bình. Kinh tế thị trường với những quy luật (giá trị, cung cầu, cạnh tranh) và giá trị (tự do kinh doanh, khích lệ tính năng động, sáng tạo, dân chủ trong lĩnh vực kinh tế) đã mở ra một không gian lớn cho các cá nhân, gia đình, doanh nghiệp, hiệp hội phát huy hết khả năng của mình trong lao động, tạo ra nhiều của cải ngày càng đa dạng cho xã hội, thúc đẩy sự thịnh vượng. Trong bối cảnh đó, mô hình nhà nước tập trung quyền lực và can thiệp sâu vào đời sống kinh tế xã hội bằng mệnh lệnh hành chính không còn phù hợp nữa. Nền kinh tế thị trường đòi hỏi phải tìm ra một mô hình Nhà nước phù hợp để không chỉ thực hiện chức năng duy trì trật tự và công bằng xã hội, mà còn phát huy các giá trị tích cực của kinh tế thị trường, thúc đẩy thịnh vượng xã hội.
NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN 2. Các đặc trƣng của Nhà nƣớc pháp quyền Trong lịch sử đã tồn tại nhiều mô hình nhà nước: Từ những bộ lạc mông muội đến những nhà nước dã man như nhà nước chiếm hữu nô lệ, những đế chế tập quyền liên tục mở rộng biên giới lãnh thổ bằng bạo lực và nô dịch các dân tộc khác, mô hình nhà nước phong kiến, nhà nước cộng hoà v. Nhà nước pháp quyền và học thuyết về Nhà nước pháp quyền ra đời trong cách mạng tư sản ở Châu Âu, tuy nhiên, do đã tiếp thu và hấp thụ vào mình nhiều giá trị tinh hoa của nhân loại về xây dựng nhà nước như tư tưởng pháp quyền, phân chia quyền lực, dân chủ, nhân đạo, công bằng, bảo vệ quyền con người v. nên học thuyết về xây dựng Nhà nước pháp quyền trở thành một học thuyết có giá trị cao, là tài sản chung của nền văn minh nhân 24 z loại, mà mọi nhà nước trên con đường phát triển đều hướng tới, không phân biệt chế độ chính trị.
So với các mô hình nhà nước khác trong lịch sử, Nhà nước pháp quyền có những đặc trưng cơ bản sau đây: Thứ nhất, trong Nhà nước pháp quyền pháp luật là tối thượng. Tính tối thượng của pháp luật được thể hiện trước hết ở quyền tối thượng của Hiến pháp. Hiến pháp khi đã được cơ quan đại diện cho toàn thể nhân dân thông qua, tất cả các định chế, cá nhân trong bộ máy nhà nước đều phải ủng hộ và tuân thủ hiến pháp. Tất cả các văn bản pháp luật, các quyết định hành chính, các bản án của cơ quan tư pháp đều phải phù hợp với quy định của Hiến pháp.
Nhà nước pháp quyền có cơ chế kiểm tra, giám sát và xử lý các hành vi vi hiến. Tính tối thượng của pháp luật còn thể hiện ở chỗ pháp luật là cơ sở, là hành lang pháp lý cho tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước. Pháp luật giới hạn quyền lực, mọi cơ quan, cán bộ công chức nhà nước chỉ được hành động trong phạm vi thẩm quyền mà pháp luật quy định. Tính tối thượng của pháp luật phải được hiểu là pháp luật đứng trên nhà nước, nhà nước không thể tuỳ tiện sửa đổi pháp luật để phục vụ nhu cầu của mình hay của đội ngũ công chức.
Quyền lập pháp phải được trao cho một cơ quan đại diện mạnh mẽ của nhân dân. Thứ hai, Nhà nước pháp quyền có cơ chế hữu hiệu giới hạn và kiểm soát quyền lực. Quyền lực nhà nước nếu chỉ giới hạn bằng pháp luật thôi thì chưa đủ. Pháp luật không tự nhiên sinh ra, không tự động thi hành.
Chính con người làm ra pháp luật, chính con người thi hành pháp luật và cũng chính con người giải thích pháp luật. Vì vậy, khi có quyền lực trong tay, con người cũng có thể vượt ra ngoài pháp luật hoặc bóp méo nó. Như vậy, bên cạnh một hệ thống pháp luật hoàn thiện, phân định rõ ràng thẩm quyền của các chủ thể quyền lực, Nhà nước pháp quyền còn cần một cơ chế dùng con người để giới hạn và kiểm soát quyền lực của cong người, dùng đam mê quyền lực của người này để đối trọng và kiểm soát đam mê quyền lực của 25 z người khác. Đó là cơ chế phân công và phối hợp giữa ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp trong nhà nước pháp quyền.
Thứ ba, Nhà nước pháp quyền thúc đẩy dân chủ, bảo vệ lợi ích cộng đồng. Dân chủ là bản chất của Nhà nước pháp quyền vừa là giá trị được Nhà nước pháp quyền đảm bảo, thúc đẩy. Nhà nước pháp quyền chỉ có điều kiện xuất hiện khi xã hội đã đạt đến trình độ dân chủ nhất định, nhân dân ý thức được các quyền chính trị của mình, cùng nhau thông qua bầu cử lập ra cơ quan đại diện và hình thành nên nhà nước, trao cho nhà nước nguồn quyền lực to lớn từ thiện ý và nguyện vọng của cộng đồng. Nhà nước pháp quyền khi đã được thành lập sẽ hướng tới bảo vệ và thúc đẩy các giá trị dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân thông qua hệ thống pháp luật hoàn thiện, có hiệu lực, cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước, đồng thời thúc đẩy tính dân chủ trong chính tổ chức và hoạt động của nhà nước.
Mặc khác, Nhà nước pháp quyền bảo vệ quyền lợi của cộng đồng. Nhà nước pháp quyền sinh ra từ quyền lực và ý nguyện của nhân dân, vì nhân dân phục vụ. Tính phục vụ được thể hiện trong các quy định của pháp luật, trong mọi hoạt động của các cơ quan, công chức nhà nước, theo đó quyền lợi và sự thuận tiện trong lao động và sinh hoạt của mọi người dân phải được đặt lên trên nhu cầu và khả năng quản lý của nhà nước, không vì lý do thiếu năng lực quản lý mà giới hạn sự phát triển của xã hội.