Luận văn thạc sĩ đại biểu quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa việt nam trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu đại biểu quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa việt nam trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Lý luận Nhà nước pháp quyền

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sỹ luật học

2005

130
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI TRONG NỀN KINH TẾ KẾ HOẠCH HOÁ, TẬP TRUNG

1.1. Sự ra đời của đại biểu Quốc hội

1.2. Khái niệm, bản chất của đại biểu Quốc hội

1.3. Đặc điểm của đại biểu Quốc hội trong nền kinh tế kế hoạch hoá, tập trung

2. CHƯƠNG 2: NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN VÀ NHỮNG ĐÒI HỎI ĐẶT RA ĐỐI VỚI QUỐC HỘI VÀ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI

2.1. Nhà nước pháp quyền

2.2. Những đòi hỏi của Nhà nước pháp quyền đối với Quốc hội và đại biểu Quốc hội

2.3. Địa vị pháp lý và tình hình hoạt động của đại biểu Quốc hội trong giai đoạn chuyển đổi

3. CHƯƠNG 3: ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI TRONG NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN

3.1. Luật hoạt động đại biểu Quốc hội

3.2. Luật hoạt động Nghị trường

3.3. Hoàn thiện các quy định của pháp luật liên quan đến việc cá thể hoá quyền năng của Quốc hội

3.4. Bầu cử đại biểu Quốc hội trong Nhà nước pháp quyền

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Khám phá sự ra đời của Đại biểu Quốc hội Lịch sử Ý nghĩa

Hình thức đại diện cho nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước chỉ xuất hiện khi xã hội phát triển đến một trình độ nhất định. Gắn liền với lịch sử hình thành Quốc hội, khởi nguồn từ nước Anh thời Trung cổ. Các vị quân vương triệu tập cuộc họp với những người đại diện các nhóm xã hội để kêu gọi sự đóng góp tự nguyện vào ngân khố hoàng gia. Nhóm người đại diện này phát triển qua nhiều thế kỷ để trở thành hội đồng đại nghị. Các nghiên cứu chỉ ra có 4 giai đoạn phát triển củng cố tư cách và quyền lực của người đại diện. Mô hình Nghị viện ở nước Anh đã nhanh chóng lan rộng ra nhiều quốc gia khác trên thế giới, không phân biệt hình thức Nhà nước quân chủ hay cộng hòa, đều có cơ quan đại diện của nhân dân với tên gọi Quốc hội hay Nghị viện. Ngày nay, hầu như tất cả các quốc gia trên thế giới đều tồn tại thể chế với tên gọi Quốc hội, Nghị viện, hay cơ quan lập pháp, với các thành viên là những người đại diện cho nhân dân, được nhân dân lựa chọn qua bầu cử phổ thông, thay mặt nhân dân thực hiện quyền lập pháp.

1.1. Nguồn gốc hình thành Đại biểu Quốc hội trên thế giới

Hình thức người đại diện ra đời từ rất sớm trong lịch sử xã hội loài người. Tuy nhiên, hình thức người đại biểu đại diện cho nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước lại chỉ xuất hiện khi xã hội phát triển đến một trình độ nhất định. Điều này gắn liền với lịch sử hình thành Quốc hội (Nghị viện). Khởi nguồn từ nước Anh, thời Trung cổ, lãnh thổ quốc gia bị phân vùng cát cứ thành nhiều vùng lãnh thổ nhỏ. Những vùng lãnh thổ mà người dân sinh sống tại đó phân chia thành các nhóm xã hội – như giới quý tộc, tăng lữ, tầng lớp địa chủ nhỏ, quan chức thành phố, thị dân.

1.2. Quá trình hình thành Đại biểu Quốc hội Việt Nam

Trước Cách mạng tháng 8 năm 1945, nhân dân Việt Nam sống dưới chế độ thực dân phong kiến. Đất nước bị chia làm ba miền. Ngay trước ngày phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền, với mong muốn xây dựng một chế độ dân chủ, với quan niệm rằng một chính quyền chính đáng phải có một cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, với nhận thức về tầm quan trọng của cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân đối với khối đại đoàn kết dân tộc, sức mạnh kháng chiến, ngày 16/8/1945, Hồ Chí Minh và Tổng bộ Việt Minh đã triệu tập Quốc dân đại hội. Ngày 6/1/1946, cuộc tổng tuyển cử trên toàn quốc đã được tiến hành. Có 89% cử tri trên cả nước tham gia đi bầu cử và bầu được 333 đại biểu.

II. Định nghĩa Bản chất Đại biểu Quốc hội Vai trò then chốt

Để định nghĩa chính xác Đại biểu Quốc hội, cần xem xét dưới những giác độ khác nhau. Dưới giác độ nguồn gốc quyền lực, đại biểu là cầu nối chuyển giao quyền lực từ nhân dân vào Nhà nước. Dưới giác độ hình thành bộ máy nhà nước, Đại biểu Quốc hội là người đại diện cho nhân dân lập ra bộ máy nhà nước, quyết định cơ cấu tổ chức, bầu hoặc thông qua các vị trí nhân sự chủ chốt của cơ quan hành pháp, tư pháp. Theo quy định của Hiến pháp nước ta, Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Với tư cách là một con người, cá nhân người đại biểu cũng mang đầy đủ tố chất của một con người bình thường. Vì vậy, cần tiếp cận người đại biểu dưới giác độ nhân bản và thực tiễn, không nên lý tưởng hóa mà thay vào đó cần tạo ra cơ chế để giúp họ phát huy tối đa mặt tích cực, đóng góp nhiều cho cộng đồng.

2.1. Khái niệm Đại biểu Quốc hội theo pháp luật Việt Nam

Theo quy định của pháp luật, Đại biểu Quốc hội là người đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, không chỉ nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình mà còn đại diện cho nhân dân cả nước, là người thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước trong Quốc hội. Đại biểu Quốc hội chịu trách nhiệm trước cử tri đồng thời chịu trách nhiệm trước Quốc hội về việc thực hiện nhiệm vụ đại biểu của mình.

2.2. Bản chất kép của Đại biểu Quốc hội

Nghiên cứu khái niệm Đại biểu Quốc hội cho thấy đại biểu Quốc hội mang một bản chất kép: vừa là người đại diện của nhân dân, vừa là thành viên cơ quan quyền lực nhà nước – Quốc hội. Là người đại diện của nhân dân, Đại biểu Quốc hội là người của nhân dân. Họ có trách nhiệm phải thường xuyên gần gũi với cử tri để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng và những yêu cầu của cử tri đối với Nhà nước.

III. Đặc điểm Đại biểu Quốc hội thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa

Trong nền kinh tế kế hoạch hóa, tập trung, Đại biểu Quốc hội có những đặc điểm riêng biệt. Hoạt động của Quốc hộiĐại biểu Quốc hội chịu sự chi phối mạnh mẽ của cơ chế kế hoạch hóa. Vai trò của Đại biểu Quốc hội trong việc quyết định các vấn đề kinh tế - xã hội còn hạn chế. Tính chủ động, sáng tạo của Đại biểu Quốc hội chưa được phát huy đầy đủ. Mối liên hệ giữa Đại biểu Quốc hội và cử tri còn mang tính hình thức. Tuy nhiên, Đại biểu Quốc hội vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng thành pháp luật.

3.1. Sự chi phối của cơ chế kế hoạch hóa đối với Đại biểu Quốc hội

Trong nền kinh tế kế hoạch hóa, tập trung, mọi hoạt động kinh tế - xã hội đều được thực hiện theo kế hoạch do Nhà nước đặt ra. Quốc hộiĐại biểu Quốc hội có vai trò phê duyệt các kế hoạch này. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, vai trò của Đại biểu Quốc hội trong việc quyết định các vấn đề kinh tế - xã hội còn hạn chế.

3.2. Tính chủ động sáng tạo của Đại biểu Quốc hội còn hạn chế

Trong cơ chế kế hoạch hóa, tập trung, Đại biểu Quốc hội chủ yếu thực hiện các nhiệm vụ được giao. Tính chủ động, sáng tạo của Đại biểu Quốc hội chưa được phát huy đầy đủ. Điều này ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của Quốc hội.

IV. Yêu cầu của Nhà nước pháp quyền đối với Đại biểu Quốc hội

Xây dựng Nhà nước pháp quyền đòi hỏi Quốc hộiĐại biểu Quốc hội phải đổi mới mạnh mẽ. Đại biểu Quốc hội phải thực sự là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân. Nâng cao chất lượng hoạt động lập pháp, giám sát của Quốc hội. Tăng cường tính công khai, minh bạch trong hoạt động của Quốc hội. Hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền của Đại biểu Quốc hội. Xây dựng đội ngũ Đại biểu Quốc hội có đủ phẩm chất, năng lực.

4.1. Đại biểu Quốc hội phải thực sự đại diện cho nhân dân

Trong Nhà nước pháp quyền, Đại biểu Quốc hội phải thực sự là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân. Đại biểu Quốc hội phải thường xuyên tiếp xúc với cử tri, lắng nghe ý kiến của cử tri và phản ánh trung thực ý kiến đó tại Quốc hội.

4.2. Nâng cao chất lượng hoạt động lập pháp giám sát của Quốc hội

Trong Nhà nước pháp quyền, Quốc hội có vai trò quan trọng trong việc xây dựng pháp luật và giám sát việc thực thi pháp luật. Do đó, cần nâng cao chất lượng hoạt động lập pháp, giám sát của Quốc hội.

4.3. Tăng cường tính công khai minh bạch trong hoạt động của Quốc hội

Tính công khai, minh bạch là một trong những nguyên tắc cơ bản của Nhà nước pháp quyền. Cần tăng cường tính công khai, minh bạch trong hoạt động của Quốc hội để người dân có thể giám sát hoạt động của Quốc hội.

V. Giải pháp nâng cao vai trò Đại biểu Quốc hội Kinh nghiệm Đề xuất

Để nâng cao vai trò của Đại biểu Quốc hội trong xây dựng Nhà nước pháp quyền, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp. Hoàn thiện pháp luật về Đại biểu Quốc hội. Nâng cao năng lực cho Đại biểu Quốc hội. Tăng cường mối liên hệ giữa Đại biểu Quốc hội và cử tri. Đổi mới phương thức hoạt động của Quốc hội. Tăng cường giám sát của xã hội đối với hoạt động của Đại biểu Quốc hội.

5.1. Hoàn thiện pháp luật về Đại biểu Quốc hội

Cần rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật về Đại biểu Quốc hội để bảo đảm quyền và trách nhiệm của Đại biểu Quốc hội. Đồng thời, cần có cơ chế bảo đảm để Đại biểu Quốc hội thực hiện tốt nhiệm vụ của mình.

5.2. Nâng cao năng lực cho Đại biểu Quốc hội

Cần có chương trình bồi dưỡng, tập huấn thường xuyên cho Đại biểu Quốc hội để nâng cao kiến thức, kỹ năng hoạt động. Đồng thời, cần tạo điều kiện để Đại biểu Quốc hội tham gia các hoạt động nghiên cứu, khảo sát thực tế.

VI. Tương lai Đại biểu Quốc hội Đổi mới để xây dựng Nhà nước pháp quyền

Vai trò của Đại biểu Quốc hội ngày càng quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hội nhập quốc tế. Đại biểu Quốc hội cần tiếp tục đổi mới để đáp ứng yêu cầu của tình hình mới. Tăng cường tính chuyên nghiệp trong hoạt động của Đại biểu Quốc hội. Phát huy vai trò của Đại biểu Quốc hội trong việc xây dựng chính sách, pháp luật. Nâng cao hiệu quả giám sát của Đại biểu Quốc hội. Xây dựng hình ảnh Đại biểu Quốc hội gần gũi, trách nhiệm với nhân dân.

6.1. Tăng cường tính chuyên nghiệp trong hoạt động của Đại biểu Quốc hội

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, các vấn đề kinh tế - xã hội ngày càng phức tạp. Do đó, cần tăng cường tính chuyên nghiệp trong hoạt động của Đại biểu Quốc hội để Đại biểu Quốc hội có thể tham gia hiệu quả vào việc xây dựng chính sách, pháp luật.

6.2. Xây dựng hình ảnh Đại biểu Quốc hội gần gũi trách nhiệm

Đại biểu Quốc hội cần xây dựng hình ảnh gần gũi, trách nhiệm với nhân dân. Đại biểu Quốc hội cần thường xuyên tiếp xúc với cử tri, lắng nghe ý kiến của cử tri và giải quyết kịp thời các kiến nghị của cử tri.

08/06/2025
Luận văn thạc sĩ đại biểu quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa việt nam trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1, chúng ta có thể đi đến những kết luận sau đây: 1. Đại biểu Quốc hội là người được nhân dân lựa chọn thông qua bầu cử, đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, là người thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước tại Quốc hội. Đại biểu Quốc hội mang một bản chất kép, vừa là người của nhân dân, hoà đồng với thực tế xã hội, cảm thông, thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng của quần chúng, vừa là một thành viên của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất – Quốc hội. Hoạt động của đại biểu Quốc hội giúp chuyển giao ý chí, quyền lực từ hàng triệu con tim, khối óc cử tri trở thành quyền lực của nhà nước, tạo ra bản chất của dân, do dân, vì dân của nhà nước.

Đại biểu Quốc hội nước ta ra đời trong cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc. Ngay từ khi ra đời, đại biểu Quốc hội nước ta đã là người đại diện cho nhân dân cả nước, do cử tri cả nước trực tiếp bầu ra qua bầu cử phổ thông. Bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được Quốc hội khoá I, kỳ họp thứ hai thông qua ngày 9/11/2005 đã ghi nhận các quyền và nghĩa vụ cơ bản của đại biểu Quốc hội. Ngay sau khi giành được độc lập, đất nước lại trải qua hai cuộc chiến tranh khốc liệt.

Trong 20 năm chiến tranh và 10 năm sau đó, chúng ta áp dụng mô hình nền kinh tế kế hoạch hoá, tập trung để phát triển kinh tế xã hội. Nền kinh tế này đã phát huy mặt tích cực, đặc biệt là trong thời chiến, tạo điều kiện tập trung và huy động mọi nguồn lực phục vụ nhiệm vụ ưu tiên 21 z số 1 là giải phóng đất nước. Tuy nhiên, nền kinh tế này với những đặc thù của nó đã ảnh hưởng sâu sắc đến tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, trong đó có Quốc hội và đại biểu Quốc hội. Đại biểu Quốc hội trong nền kinh tế kế hoạch hoá, tập trung có ít việc để làm, hoạt động hình thức, vai trò mờ nhạt.

Đặc điểm cơ bản của đại biểu Quốc hội thời kỳ này là: + Mặc dù Hiến pháp và Luật tổ chức Quốc hội đã quy định về các quyền và nghĩa vụ cơ bản của Quốc hội và cá nhân đại biểu Quốc hội nhưng mới chỉ dừng lại ở những tuyên bố pháp lý do thiếu những quy định cụ thể về trình tự, thủ tục, cơ chế và những quyền năng cụ thể để thực hiện. + Pháp luật thiếu các quy định về trách nhiệm cá nhân của đại biểu Quốc hội, do vậy sự năng động, sáng tạo của từng đại biểu Quốc hội không được phát huy. Thay vào đó là cơ chế trách nhiệm tập thể, hoạt động theo tập thể trong các hoạt động lập pháp, giám sát. Đoàn đại biểu Quốc hội được thành lập ở các địa phương để tổ chức các hoạt động tập thể cho đại biểu Quốc hội ở địa phương.

Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội được thành lập để giúp việc tập trung cho đại biểu Quốc hội trong Đoàn. + Hầu hết các đại biểu Quốc hội là các công chức hành chính kiêm nhiệm, hoạt động đại biểu mang tính hình thức, thời vụ, chủ yếu tập trung trong thời gian hai kỳ họp hàng năm. Tính thời vụ trong hoạt động của Quốc hội và đại biểu Quốc hội làm nảy sinh chế định về Uỷ ban thường vụ Quốc hội, một cơ quan trực thuộc Quốc hội, thay mặt Quốc hội giải quyết mọi vấn đề trong thời gian Quốc hội không nhóm họp. Uỷ ban thường vụ Quốc hội được pháp luật trao cho những quyền lực rất lớn, tương tự quyền lực của một Quốc hội thu nhỏ.

+ Bầu cử đại biểu Quốc hội trong nền kinh tế kế hoạch hoá, tập trung không hướng tới lực chọn những cá nhân xuất sắc, có năng lực mà cốt lựa chọn đủ thành phần, cơ cấu theo kế hoạch đã định sẵn để đảm bảo tính đại diện hình thức của Quốc hội. Mặc dù quyền tự do bầu cử của nhân dân được pháp luật quy định rất rõ ràng và tiến bộ, nhưng các quy định về quyền ứng 22 z cử lại được giới hạn. Ứng cử viên được phân bổ theo một cơ chế tương tự “cơ chế cấp hạn ngạch” về từng cơ quan, tổ chức để giới thiệu. Các hội nghị hiệp thương sơ tuyển ứng cử viên theo những tiêu chí pháp luật định sẵn, không dựa trên chương trình hành động và những cam kết của đại biểu.

23 z CHƢƠNG 2 NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN VÀ NHỮNG ĐÒI HỎI ĐỐI VỚI QUỐC HỘI, ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI Nếu cơ chế kinh tế kế hoạch hoá, tập trung đã có những đóng góp tích cực trong thời chiến, thì cơ chế thị trường là lựa chọn đúng đắn để thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xây dựng đất nước trong thời bình. Kinh tế thị trường với những quy luật (giá trị, cung cầu, cạnh tranh) và giá trị (tự do kinh doanh, khích lệ tính năng động, sáng tạo, dân chủ trong lĩnh vực kinh tế) đã mở ra một không gian lớn cho các cá nhân, gia đình, doanh nghiệp, hiệp hội phát huy hết khả năng của mình trong lao động, tạo ra nhiều của cải ngày càng đa dạng cho xã hội, thúc đẩy sự thịnh vượng. Trong bối cảnh đó, mô hình nhà nước tập trung quyền lực và can thiệp sâu vào đời sống kinh tế xã hội bằng mệnh lệnh hành chính không còn phù hợp nữa. Nền kinh tế thị trường đòi hỏi phải tìm ra một mô hình Nhà nước phù hợp để không chỉ thực hiện chức năng duy trì trật tự và công bằng xã hội, mà còn phát huy các giá trị tích cực của kinh tế thị trường, thúc đẩy thịnh vượng xã hội.

NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN 2. Các đặc trƣng của Nhà nƣớc pháp quyền Trong lịch sử đã tồn tại nhiều mô hình nhà nước: Từ những bộ lạc mông muội đến những nhà nước dã man như nhà nước chiếm hữu nô lệ, những đế chế tập quyền liên tục mở rộng biên giới lãnh thổ bằng bạo lực và nô dịch các dân tộc khác, mô hình nhà nước phong kiến, nhà nước cộng hoà v. Nhà nước pháp quyền và học thuyết về Nhà nước pháp quyền ra đời trong cách mạng tư sản ở Châu Âu, tuy nhiên, do đã tiếp thu và hấp thụ vào mình nhiều giá trị tinh hoa của nhân loại về xây dựng nhà nước như tư tưởng pháp quyền, phân chia quyền lực, dân chủ, nhân đạo, công bằng, bảo vệ quyền con người v. nên học thuyết về xây dựng Nhà nước pháp quyền trở thành một học thuyết có giá trị cao, là tài sản chung của nền văn minh nhân 24 z loại, mà mọi nhà nước trên con đường phát triển đều hướng tới, không phân biệt chế độ chính trị.

So với các mô hình nhà nước khác trong lịch sử, Nhà nước pháp quyền có những đặc trưng cơ bản sau đây: Thứ nhất, trong Nhà nước pháp quyền pháp luật là tối thượng. Tính tối thượng của pháp luật được thể hiện trước hết ở quyền tối thượng của Hiến pháp. Hiến pháp khi đã được cơ quan đại diện cho toàn thể nhân dân thông qua, tất cả các định chế, cá nhân trong bộ máy nhà nước đều phải ủng hộ và tuân thủ hiến pháp. Tất cả các văn bản pháp luật, các quyết định hành chính, các bản án của cơ quan tư pháp đều phải phù hợp với quy định của Hiến pháp.

Nhà nước pháp quyền có cơ chế kiểm tra, giám sát và xử lý các hành vi vi hiến. Tính tối thượng của pháp luật còn thể hiện ở chỗ pháp luật là cơ sở, là hành lang pháp lý cho tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước. Pháp luật giới hạn quyền lực, mọi cơ quan, cán bộ công chức nhà nước chỉ được hành động trong phạm vi thẩm quyền mà pháp luật quy định. Tính tối thượng của pháp luật phải được hiểu là pháp luật đứng trên nhà nước, nhà nước không thể tuỳ tiện sửa đổi pháp luật để phục vụ nhu cầu của mình hay của đội ngũ công chức.

Quyền lập pháp phải được trao cho một cơ quan đại diện mạnh mẽ của nhân dân. Thứ hai, Nhà nước pháp quyền có cơ chế hữu hiệu giới hạn và kiểm soát quyền lực. Quyền lực nhà nước nếu chỉ giới hạn bằng pháp luật thôi thì chưa đủ. Pháp luật không tự nhiên sinh ra, không tự động thi hành.

Chính con người làm ra pháp luật, chính con người thi hành pháp luật và cũng chính con người giải thích pháp luật. Vì vậy, khi có quyền lực trong tay, con người cũng có thể vượt ra ngoài pháp luật hoặc bóp méo nó. Như vậy, bên cạnh một hệ thống pháp luật hoàn thiện, phân định rõ ràng thẩm quyền của các chủ thể quyền lực, Nhà nước pháp quyền còn cần một cơ chế dùng con người để giới hạn và kiểm soát quyền lực của cong người, dùng đam mê quyền lực của người này để đối trọng và kiểm soát đam mê quyền lực của 25 z người khác. Đó là cơ chế phân công và phối hợp giữa ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp trong nhà nước pháp quyền.

Thứ ba, Nhà nước pháp quyền thúc đẩy dân chủ, bảo vệ lợi ích cộng đồng. Dân chủ là bản chất của Nhà nước pháp quyền vừa là giá trị được Nhà nước pháp quyền đảm bảo, thúc đẩy. Nhà nước pháp quyền chỉ có điều kiện xuất hiện khi xã hội đã đạt đến trình độ dân chủ nhất định, nhân dân ý thức được các quyền chính trị của mình, cùng nhau thông qua bầu cử lập ra cơ quan đại diện và hình thành nên nhà nước, trao cho nhà nước nguồn quyền lực to lớn từ thiện ý và nguyện vọng của cộng đồng. Nhà nước pháp quyền khi đã được thành lập sẽ hướng tới bảo vệ và thúc đẩy các giá trị dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân thông qua hệ thống pháp luật hoàn thiện, có hiệu lực, cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước, đồng thời thúc đẩy tính dân chủ trong chính tổ chức và hoạt động của nhà nước.

Mặc khác, Nhà nước pháp quyền bảo vệ quyền lợi của cộng đồng. Nhà nước pháp quyền sinh ra từ quyền lực và ý nguyện của nhân dân, vì nhân dân phục vụ. Tính phục vụ được thể hiện trong các quy định của pháp luật, trong mọi hoạt động của các cơ quan, công chức nhà nước, theo đó quyền lợi và sự thuận tiện trong lao động và sinh hoạt của mọi người dân phải được đặt lên trên nhu cầu và khả năng quản lý của nhà nước, không vì lý do thiếu năng lực quản lý mà giới hạn sự phát triển của xã hội.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Đại biểu Quốc hội và vai trò trong xây dựng Nhà nước pháp quyền tại Việt Nam" khám phá vai trò quan trọng của các đại biểu Quốc hội trong việc thúc đẩy và bảo vệ nguyên tắc pháp quyền tại Việt Nam. Bài viết nhấn mạnh rằng các đại biểu không chỉ là người đại diện cho ý chí của nhân dân mà còn có trách nhiệm giám sát hoạt động của chính phủ, đảm bảo rằng các quyết định và chính sách được thực hiện một cách minh bạch và công bằng.

Độc giả sẽ nhận thấy rằng việc hiểu rõ vai trò của Quốc hội trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền không chỉ giúp nâng cao nhận thức về quyền lợi và nghĩa vụ của công dân mà còn tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững của xã hội. Để mở rộng thêm kiến thức về mối quan hệ giữa chức năng lập pháp và giám sát của Quốc hội, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ luật học mối quan hệ giữa chức năng lập pháp và chức năng giám sát của quốc hội.

Ngoài ra, để tìm hiểu sâu hơn về chế định của Quốc hội trong Hiến pháp 2013, tài liệu Đề tài nghiên cứu về chế định của quốc hội trong hiến pháp 2013 sẽ cung cấp những thông tin hữu ích. Cuối cùng, bạn cũng có thể xem xét tài liệu Vai trò giám sát của mặt trận tổ quốc việt nam đối với bộ máy nhà nước để hiểu rõ hơn về vai trò giám sát của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị Việt Nam. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về vai trò của Quốc hội và các cơ quan liên quan trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền.