Chương 1: Thành ngữ và thành ngữ tiếng Việt 1. Nhận diện thành ngữ Thành ngữ là một đơn vị phổ biến trong các ngôn ngữ. Dường như không một ngôn ngữ nào không tồn tại thành ngữ. Vậy quan niệm về thành ngữ trong tiếng Việt và tiếng Anh như thế nào? Một đơn vị có những đặc điểm nào thì được coi là thành ngữ? 1.
Thành ngữ tiếng Anh Các tác giả J. McMordie trong công trình “ English idioms” quan niệm: “ thành ngữ có thể định nghĩa là một số các từ, khi đi với nhau, có nghĩa khác với nghĩa của mỗi từ riêng lẻ” (An idioms can be defined as a number of words which, when taken together, have a different meaning from the individual meanings of each word) [74, tr. Các tác giả của công trình “ English idioms in use’ cũng có quan niệm tương tự: “ Thành ngữ là những cụm từ cố định mà nghĩa của chúng không được trực tiếp nhận ra từ nghĩa của các từ riêng lẻ trong thành ngữ” (Idioms are fixed of expressions whose meaning is not immediately obvious from looking at the individual words in the idiom ) [46, tr. Trong tiếng Anh, thành ngữ có nhiều dạng và nhiều cấu trúc khác nhau.
Một thành ngữ có thể có cấu trúc mang tính có quy tắc hoặc không có quy tắc, thậm chí là không đúng cấu trúc ngữ pháp. Sự rõ ràng của nghĩa thành ngữ không phụ thuộc vào “tính đúng ngữ pháp”. Chẳng hạn: - Hình thức bất quy tắc, nghĩa rõ ràng như trong give someone to understand, do some proud, do the dirty on someone,… - Hình thức có quy tắc, nghĩa mơ hồ như trong have a bee in one’s bonnet, cut no ice, bring the house down. - Hình thức bất quy tắc, nghĩa mơ hồ như trong be at large, go great guns, be at daggers drawn,v.
Theo các tác giả của “English idioms”, hầu hết thành ngữ tiếng Anh thuộc nhóm thứ hai, hình thức là có quy tắc nhưng nghĩa lại không rõ ràng. Tuy nhiên, ngay trong nhóm này cũng có những thành ngữ có nghĩa khá hiển nhiên. Chẳng hạn thành ngữ “ to give some one the green light” có thể đoán được nghĩa là “cho phép ai đó bắt đầu”. Những thành ngữ khác quá khó để đoán được nghĩa bởi vì ở đây không có sự liên hợp với nghĩa gốc của các từ riêng lẻ.
Chẳng hạn như “ to tell someone where to get off, to carry the can, to drop a brick, to call a shots, v. Jennifer Seidl và W. McMordie cũng cho rằng không thể thay đổi bất kì thành phần nào trong thành ngữ, chỉ trừ trường hợp một vài thành ngữ có biến thể. Chẳng hạn thành ngữ “eat one’s word” (rút lại lời đã nói) thì không thể nói “eat one's sentences” hoặc “ swallow one's words”.
Thành ngữ tiếng Việt Việc nghiên cứu thành ngữ từ trước đến nay đã được rất nhiều nhà Việt ngữ học quan tâm, từ các nhà nghiên cứu văn học dân gian cho đến các nhà ngôn ngữ học. Dưới góc nhìn ngôn ngữ học, thành ngữ là một đơn vị của ngôn ngữ. Theo cách phân bậc các đơn vị ngôn ngữ từ thấp đến cao thì thành ngữ nằm ở bậc cụm từ cố định, trên từ và dưới câu. Vậy thành ngữ là gì? Theo “Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học (1996)”: “ thành ngữ là cụm từ hay ngữ cố định có tính nguyên khối về nghĩa, tạo thành một chỉnh thể định danh có ý nghĩa chung khác với tổng số ý nghĩa của các thành tố cấu thành nó tức là không có nghĩa đen và hoạt động như một từ riêng biệt ở trong câu” [71, tr.
Khi bàn về thành ngữ, các nhà Việt ngữ học thường đem phân biệt thành ngữ với từ ghép, cụm từ tự do, quán ngữ, tục ngữ,…Theo chúng tôi, ngoại trừ những trường hợp biệt lệ như : mát tay, xấu bụng, non dạ, …sự khác biệt giữa thành ngữ và từ ghép, cụm từ tự do, quán ngữ là khá rõ ràng. Điều quan trọng là cần phải phân biệt thành ngữ và tục ngữ. Đây cũng là một trong những mũi nhọn được các nhà nghiên cứu tập trung cao độ khi bàn về khái niệm thành ngữ bởi vì thành ngữ và tục ngữ đều là những cụm từ cố định, chặt chẽ về cấu trúc hình thái, có tính bóng bẩy và gợi tả. Và trên thực tế có những ráp ranh khó có thể phân định rõ ràng.
Về hai loại đơn vị này, có nhiều ý kiến khác nhau. Trong bài “ Góp ý kiến phân biệt thành ngữ và tục ngữ”, Cù Đình Tú sử dụng tiêu chí chức năng để phân biệt thành ngữ và tục ngữ. Ông quan niệm: “Thành ngữ là những đơn vị có sẵn, mang chức năng định danh, nói khác đi dùng để gọi tên sự vật, tính chất, hành động…” và “ Tục ngữ đứng về mặt ngôn ngữ học có chức năng khác hẳn so với thành ngữ. Tục ngữ cũng như các sáng tạo khác của văn học dân gian như ca dao, truyện cổ tích đều là các thông báo.
Nó thông báo một nhận định, một kết luận về một phương diện nào đó của thế giới khách quan. Do vậy, mỗi tục ngữ đọc lên là một câu hoàn chỉnh, diễn đạt trọn vẹn một ý tưởng. Đó cũng là lí do giải thích vì sao tục ngữ có cấu tạo là các kết cấu hai trung tâm.” Nguyễn Văn Mệnh thì quan niệm: “ thành ngữ là một đơn vị ngôn ngữ có sẵn. Chúng là những ngữ có kết cấu chặt chẽ và ổn định, mang một ý nghĩa nhất định, có chức năng định danh và được tái hiện trong giao tế.
Tác giả phân biệt thành ngữ và tục ngữ như sau: Xét về nội dung “ thành ngữ giới thiệu một hình ảnh, một hiện tượng, một trạng thái, một tính cách, một thái độ…Tục ngữ thì khác hẳn, nó không dừng lại ở mức độ giới thiệu hình ảnh, hiện tượng…như thành ngữ mà đi đến một nhận định cụ thể, một kết luận chắc chắn, một kinh nghiệm sâu sắc, một lời khuyên răn, một bài học về tư tưởng, đạo đức…. Và từ đó ông nhận xét chính sự khác nhau về nội dung như trên đã dẫn đến sự khác nhau về hình thức ngữ pháp, về năng lực hoạt động trong chuỗi lời nói và cả sự khác nhau về số lượng tuyệt đối nữa. Nguyễn Thiện Giáp lại căn cứ vào ba đối lập để phân biệt từ, ngữ, thành ngữ, quán ngữ, tục ngữ và kết cấu tự do. Ba đối lập đó là: (1) Tính bền vững hay không bền vững của kết cấu.
(2) Tính thống nhất hay tách rời về nghĩa. (3) Tính vũ đoán hay tính lí do của nghĩa. Ông lập bảng phân biệt. Theo đó, thành ngữ mang tính bền vững về kết cấu, có thể có sự thống nhất hoặc không thống nhất về nghĩa, mang tính vũ đoán về nghĩa; còn tục ngữ chỉ có điểm khác so với thành ngữ là nó không có sự thống nhất về nghĩa.
Nhìn vào bảng phân biệt của Nguyễn Thiện Giáp ta thấy khó mà phân biệt thành ngữ và tục ngữ. Nhưng sau đó, ông có nói rõ hơn về sự khác biệt giữa thành ngữ và tục ngữ. “ Tục ngữ là những kết cấu cố định, diễn đạt rất hoàn hảo toàn bộ kinh nghiệm đời sống, kinh nghiệm lịch sử- xã hội của nhân dân lao động…Nội dung của tục ngữ là những kinh nghiệm được rút ra trong quá trình đấu tranh thiên nhiên và đấu tranh xã hội, được thể hiện nhiều lần trong thực tiễn và dường như đã trở nên những chân lí có tính chất phổ biến, được toàn thể nhân dân công nhận. Vì vậy, tính tái hiện của tục ngữ trước hết là sự tái hiện của những kinh nghiệm, những chân lí phổ biến ấy.
Tính tái hiện về thành phần, cấu trúc là hậu quả nhu cầu tái hiện nội dung của tục ngữ. Còn đối với thành ngữ, Nguyễn Thiện Giáp cho “ thành ngữ là đơn trung gian giữa một bên là các quán ngữ và một bên là tục ngữ. Tính chất trung gian này thể hiện ở chỗ thành ngữ cũng là đơn vị định danh, cũng là tên gọi của một sự vật, hiện tượng, là sự thể hiện một khái niệm (có tính chất thống nhất về nghĩa). Đồng thời cái nghĩa cộng lại của các thành tố theo quy luật ngữ pháp cũng cần được hiểu (tính tách rời về nghĩa).
Chính sự tồn tại của hai cách hiểu như vậy mà nghĩa chung của thành ngữ bao giờ cũng là nghĩa hình tượng”. Và ông nhấn mạnh: “ Có thể nói nghĩa định danh hình tượng là đặc trưng cơ bản của thành ngữ” [14, tr. Tóm lại, có thể tổng hợp sự khác nhau giữa thành ngữ và tục ngữ trong bảng sau: Các mặt Thành ngữ Tục ngữ khác biệt - Là sự miêu tả một hình - Là những lời khuyên răn về đối ảnh, một hành động, một nhân xử thế, là những bài học tính chất hoặc một trạng kinh nghiệm về lao động sản xuất, Về ý nghĩa thái. Nội dung thiên về về nhận thức thế giới tự nhiên và những cái có tính chất đời sống xã hội.
Nội dung mang ngẫu nhiên, riêng lẻ. tính bản chất, khái quát, tất yếu, quy luật. - Nghĩa toàn khối. - Nghĩa kết hợp của nghĩa từng từ cấu tạo nên nó.
- Mang chức năng định - Mang chức năng thông báo: danh: gọi tên sự vật, tính thông báo một nhận định, một kết chất, hành động,…Về mặt luận về một phương diện của thế Về chức chức năng có thể nói thành giới khách quan. Tục ngữ dù nhỏ năng ngữ tương đương với từ. đến đâu cũng đảm nhiệm chức Dù lớn đến đâu cũng năng này một cách hoàn chỉnh. Ví không thể nêu lên một dụ: tức nước vỡ bờ nêu lên một thông báo.
Chẳng hạn quy luật trong đời sống xã hội; thành ngữ Chó ngáp phải “có áp bức, có đấu tranh”. Ao sâu ruồi chỉ diễn đạt việc gặp tốt cá nêu lên một quy luật trong may một cách ngẫu nhiên, sản xuất, Tham thì thâm nêu lên hoặc việc gì hú hoạ, chẳng một quy luật trong đời sống: càng mấy khi xảy ra; thành ngữ tham lam thì càng nhận được Tay dùi đục, chân bàn những kết quả xấu, v. chổi miêu tả dáng hình chân tay thô vụng, xấu xí, v. - Là một ngữ, một cụm từ - Là một câu hoàn chỉnh.
cố định, rất ít thành ngữ có Về cấu tạo cấu tạo là một câu. - Không bao chứa tục ngữ. - Có thể bao chứa thành ngữ. Tục ngữ có thể được cấu tạo bằng những thành phần chức năng là thành ngữ.
Ví dụ: Cơm hàng cháo chợ ai nỡ thì ăn có bộ phận Cơm hàng cháo chợ là thành ngữ, Chết sông chết suối ai chết đuối đọi đèn có bộ phận Chết đuối đọi đèn là thành ngữ, v.