Chương 1. Một số vấn đề lí thuyết có liên quan đến đề tài nghiên cứu Chương 2. Đặc điểm Việt hóa của từ vay mượn gốc An-Au trong tiếng Việt hiện đại Chương 3. Đặc điểm tiếp nhận và sử dụng của từ vay mượn gốc Ấn-Âu trong tiếng Việt hiện đại 6 CHUONG 1.
MỘT SÓ VÁN ĐÈ LÍ THUYÉT CÓ LIÊN QUAN ĐÉN ĐÈ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Tiếp xúc ngôn ngữ 1. Khái niệm tiếp xúc ngôn ngữ Tiếp xúc ngôn ngữ (contact linguistics) là hiện tượng phô biến đối với mọi ngôn ngữ trên thế giới. Nó diễn ra trong môi trường giao tiếp song ngữ hay đa ngữ dưới tác động của các nhân tố ngôn ngữ xã hội.
Trong quá trình phát triển của lịch sử nhân loại, phụ thuộc vào các nguyên nhân địa lí, kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa, v. các quốc gia/ dân tộc nảy sinh những tiếp xúc lẫn nhau. Ngôn ngữ là phương tiện dé thực hiện các cuộc tiếp xúc trên các phương diện này. Khi có hiện fượng song ngữ hay đa ngữ dưới tác động của các nhân tố ngôn ngữ - xã hội thì xảy ra tiếp xúc ngôn ngữ.
Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học (do Nguyễn Như Ý chủ biên) định nghĩa tiếp xúc ngôn ngữ là “Sự tác động qua lại giữa hai hoặc nhiều ngôn ngữ ảnh hưởng đến cấu trúc và vốn từ vựng của một hay nhiều ngôn ngữ có quan hệ đó. Điều kiện xã hội của sự tiếp xúc ngôn ngữ là sự cần thiết phải trao đồi giao tiếp giữa các cộng đồng người thuộc các nhóm ngôn ngữ khác nhau do nhu cầu về kinh tế, chính trị và những nguyên nhân khác. Tiếp xúc ngôn ngữ xảy ra nhờ việc thường xuyên lặp lại các cuộc đối thoại, thường xuyên có nhu cầu giao tiếp, trao đổi thông tin giữa những người nói hai ngôn ngữ khác nhau có khả năng sử dụng đồng thời cả hai ngôn ngữ, hoặc từng người sử dụng riêng rẽ một trong hai ngôn ngữ đó. Do đó có khả năng người nói có thể nắm vững đồng thời cả hai ngôn ngữ, tức là có thể nói bằng ngôn ngữ này hoặc ngôn ngữ kia, hoặc người nói chỉ hiểu một cách thụ động ngôn ngữ xa lạ, không phải tiếng mẹ đẻ của mình.” [ 38, 290-291] Trong bài viết “Ứng xử ngôn ngữ của người Việt đối với các yếu tố gốc Hán”, tác giả Bùi Khánh Thế đã trích dẫn hai khái niệm về tiếp xúc ngôn ngữ: (1) Tiếp xúc ngôn ngữ là “sự tiếp giao nhau giữa các ngôn ngữ do những 7 hoàn cảnh cận kề nhau về mặt địa lí, tương liên về mặt lịch sử xã hội dẫn đến nhu cầu của các cộng đồng người vốn có những thứ tiếng khác nhau phải giao tiếp với nhau” (O.
(2) Tiếp xúc ngôn ngữ còn được hiểu là “sự tác động qua lại giữa hai hoặc nhiều ngôn ngữ tạo nên ảnh hưởng đối với cấu trúc và vốn từ của một hay nhiều ngôn ngữ. Những điều kiện xã hội của sự tiếp xúc ngôn ngữ được quy định bởi nhu cầu cần thiết phải giao tiếp lẫn nhau giữa những thành viên thuộc các nhóm dân tộc và ngôn ngữ do những nhu cầu về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Đặc điễn của hiện tượng tiếp xúc ngôn ngữ Trước hết, tiếp xúc ngôn ngữ chịu tác động từ cộng đồng xã hội theo các xu hướng chung như ngôn ngữ của dân tộc có nền kinh tế, chính trị mạnh ảnh hưởng đến ngôn ngữ của dân tộc có nền kinh tế, chính trị yếu hơn (“ngôn ngữ quyền lực”); Ngôn ngữ của dân tộc có trình độ văn hóa cao (trên các mặt: giáo dục, văn hóa, nghệ thuật, văn học, v.) ảnh hưởng đến ngôn ngữ của dân tộc có trình độ văn hóa thấp hơn (hay “ngôn ngữ uy tín”) Hai loại ảnh hưởng này dễ tìm được minh chứng ở hiện tượng các dân tộc vay mượn các đơn vị từ vựng nước ngoài mà bản thân hệ thống từ vựng của ngôn ngữ đó đã có từ biểu thị. Trong cuốn "Từ ngoại lai trong tiếng Việt", tác giả Nguyễn Văn Khang có dẫn ví dụ tiếng Việt vốn có từ chết nhưng vẫn du nhập thêm các từ hi sinh, từ trần.
từ tiếng Hán; hay người nói tiếng Anh mượn từ nơm de pÏume của tiếng Pháp trong khi tiếng Anh đã có pen-name; tiếng Anh muon royal (ttr tiéng Phap), regal (tw tiéng La-tinh) trong khi da co kingly. va ly giai rang su vay muon trén “chi Ia do uy tin” [19, 26]. Tiéng Pháp ở thế kỉ thứ II, IIT là thứ ngôn ngữ có uy tín nhất ở châu Âu, ngôn ngữ của một nên văn hóa cao, vì thê, nhiêu người sử dụng tiêng Anh đã cô ý đưa các từ tiếng Pháp vào trong ngôn bản của mình, dù sẵn có những từ tiếng Anh tương đương có thể sử dụng. Bên cạnh đó, vào năm 1066, cùng với sự xâm lược của quân Noóc-măng nói tiếng Pháp vào đất Anh thì gần hai trăm năm kể từ khi đó, tiếng Pháp đã trở thành một thứ “gôn ngữ quyển lực” tại Anh.
Cũng theo cách nhìn nhận ấy, ta có thê thay rằng, sở đĩ trong quá trình tiếp xúc ngôn ngữ, tiếng Hán - từ rất sớm - đã có ảnh hưởng sâu rộng đối với tiếng Việt (bản ngữ) vừa do tiếng Hán là thứ “ngôn ngữ uy tín” ở khu vực châu Á từ thời cổ-trung đại, vừa do đây là thứ ngôn ngữ mà tiếng Việt bị “cưỡng bách tiếp nhận” trong suốt gần 1000 năm nước ta bị các triều đại phương Bắc đô hộ. Nhìn nhận vấn đề ở cả hai khía cạnh “ngôn ngữ uy tín” và “ngôn ngữ quyền lực”, ta có thể lý giải tại sao sự du nhập của tiếng Pháp vào tiếng Việt ở thế ki XVII lại ồ ạt như vậy và bắt đầu từ những thập kỉ cuối thế kỉ XX cho đến nay, các từ ngữ tiếng Anh-Mĩ lại xuất hiện ồ ạt trong các ngôn ngữ trên thế giới — trong đó có Việt Nam. Bên cạnh đó, ngôn ngữ của dân tộc có số người nói đông hơn cũng có ảnh hưởng đến ngôn ngữ của dân tộc có số người nói ít hơn. Không chỉ vậy, các tác động từ mối quan hệ về tôn giáo cũng ảnh hưởng đến tiếp xúc ngôn ngữ.
Ví dụ, trong các ngôn ngữ dân tộc theo đạo Hồi có rất nhiều từ ngữ của tiếng Ả Rập. Tiếp xúc ngôn ngữ cũng chịu tác động bởi các nhân tố chính trị - xã hội. Các nhân tốt này tạo nên hai xu hướng chính trong tiếp xúc ngôn ngữ là tiếp xúc tự giác và tiếp xúc cưỡng bức. Nói đến nhân tố ngôn ngữ nghĩa là nói đến bản thân ngôn ngữ, bao gồm sức thâm thấu ngôn ngữ, mức độ quan hệ thân thuộc giữa các ngôn ngữ, giữa các ngôn ngữ có chữ viết với các ngôn ngữ không có chữ viết.
Khi các ngôn ngữ tiếp xúc với nhau thì các ngôn ngữ có quan hệ thân thuộc hoặc cùng, gần nhau về loại hình dễ chịu ảnh hưởng hơn; Ngôn ngữ không có chữ viết dễ chịu ảnh hưởng từ các ngôn ngữ có chữ viết; Ngôn ngữ có sức thẩm thấu mạnh thường dễ dàng tiếp thu ảnh hưởng của ngôn ngữ khác. 9 Tuy nhiên, sự tác động của nhân tố xã hội - ngôn ngữ thường không chỉ là một mà là sự tông hợp của nhiều nhân tố dưới hình thức móc nối với nhau. Các nhân tố trên đôi khi chỉ mang tính xu hướng và phô biến chứ không phải luôn luôn đúng, ví dụ như có trường hợp ngôn ngữ của dân tộc có dân số ít hơn lại tác động đến ngôn ngữ của dân tộc có dân số nhiều hơn (điều này có thể giải thích bằng trường hợp “ngôn ngữ quyền lực” và “ngôn ngữ uy tín”), hay có khi giữa các ngôn ngữ không có quan hệ thân thuộc, không cùng loại hình lại có ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhau như ảnh hưởng của tiếng Hán (thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập) đối với tiếng Nhật, tiếng Triều Tiên (thuộc loại hình ngôn ngữ chắp dính). Các kiểu tiếp xúc ngôn ngữ Có hai kiểu tiếp xúc chính là tiếp xúc cấu trúc và tiếp xúc ứng dụng.
Tiếp xúc cấu trúc chính là tiếp xúc bên trong của ngôn ngữ. Hệ quả của sự tiếp xúc cấu trúc là sự vay mượn về các phương thức, quy tắc ngữ pháp, phương thức cấu tạo từ dẫn đến sự thay đổi về hệ thống và cấu trúc. Tiếp xúc ứng dụng còn gọi là tiếp xúc bên ngoài của ngôn ngữ. Đó là hiện tượng một người đồng thời sử dụng hai hoặc hơn hai ngôn ngữ, làm nên hiện tượng đa ngữ trong sử dụng.
Con đường tiếp xúc ngôn ngữ Tiếp xúc ngôn ngữ diễn ra theo hai con đường là trực tiếp và gián tiếp. Tiếp xúc trực tiếp chính là tiếp xúc qua khâu ngữ. Khi các cộng đồng nói các ngôn ngữ khác nhau có cuộc sống qua lại, cọ xát trực tiếp thì sẽ phát sinh ảnh hưởng về ngôn ngữ. Với sự phát triển của giao tiếp mạng xã hội hiện nay, tiếp xúc trực tiếp có thể diễn ra qua các hình thức như: chat, điện thoại, truyền hình, v.
Chang hạn, cộng đồng người Việt ở Mỹ thường nói tiếng Việt chêm xen các từ tiếng Anh. Hoặc ngay tại Việt Nam, những người Việt có thể dùng các từ ngữ tiếng Anh trong lời nói, điều đó tác động đến người đối diện. Như vậy tiếp xúc ngôn ngữ ngảy nay không còn được hiểu là sự bó hẹp giữa những người tham gia giao tiếp thuộc các ngôn ngữ khác nhau, mà ngay cả họ ở cùng chung một cảnh huống ngôn ngữ. 10 Tiếp xúc gián tiếp là sự tiếp xúc thông qua sách vở.
Bắt đầu từ tiếp xúc, ảnh hưởng ngôn ngữ trong sách báo, thư tịch mà dần thành tiếp xúc ngoài đời sống xã hội. Trước đây, một phương tiện tiếp xúc ngôn ngữ gián tiếp quan trọng là dịch thuật. Ngày nay là sự truyền bá, phô biến các sách báo, công trình nghiên cứu, các phương tiện thông tin về văn hóa, thương mại, quân sự, khoa học kĩ thuật, v. Đề có được tiếp xúc ngôn ngữ gián tiếp, đương nhiên, các ngôn ngữ đều phải có chữ viết.
Rất nhiều các tiếp xúc ngôn ngữ diễn ra trên thế giới ngày nay là sự kết hợp của tiếp xúc trực tiếp (qua khẩu ngữ) và tiếp xúc gián tiếp (qua sách vở). Hệ quả của tiếp xúc ngôn ngữ Hai ngôn ngữ tiếp xúc với nhau có thể có các hệ quả là sự phát triển quy tụ giữa các ngôn ngữ trong một ngôn ngữ trung gian, giao thoa ngôn ngữ. Trong quá trình tiếp xúc ngôn ngữ luôn có sự tác động qua lại, ảnh hưởng lẫn nhau giữa các ngôn ngữ. Ở những cuộc tiếp xúc lớn thưởng làm nảy sinh một trạng thái biến thể gọi là ngôn ngữ trung gian (interlanguage).