Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Mối quan hệ giữa tôn giáo và ngôn ngữ 1.1 Đặc điểm chung Ngôn ngữ và tôn giáo đều là hiện tượng văn hóa của con người, chúng có lịch sử lâu dài như xã hội loài người. Trong Kinh thánh có ghi: “Từ thuở khai thiên lập địa đã có ngôn ngữ, ngôn ngữ tồn tại cùng Thượng đế. Ngôn ngữ chính là Thượng đế ”. Con người trong tiến trình phát triển, đến một thời điểm phát triển nhất định, sẽ có nhu cầu để giao tiếp với nhau, vì thế người ta sáng tạo ra những ký hiệu đầu tiên mà chúng ta gọi đó là ngôn ngữ.
Ngôn ngữ cũng cổ xưa như ý thức, sinh ra do nhu cầu và sự cần thiết phải giao tiếp với người khác. Tôn giáo đôi khi đồng nghĩa với tín ngưỡng, thường được định nghĩa là niềm tin vào những gì siêu nhiên, thiêng liêng hay thần thánh, nguồn gốc của tôn giáo là một kết quả của sự phát triển xã hội nhân loại. Tôn giáo được ra đời do rất nhiểu nhân tố, trong đó, ngôn ngữ là một nhân tố quan trọng. Ngôn ngữ và tôn giáo có mối quan hệ mật thiết, hai chiều.
Các học giả Trung Quốc nhận xét về quan hệ này là: ngôn ngữ tạo ra tôn giáo và tôn giáo phát triển ngôn ngữ. Ngôn ngữ là một công cụ giao tiếp và hệ thống tín hiệu, ngôn ngữ là cơ sở để tạo ra thế giới thiêng liêng. Tôn giáo là một hệ thống liên quan đến hiện tượng siêu nhiên, khả năng văn hóa đặc biệt của tôn giáo có thể phát triển ngôn ngữ của nhân loại. Ngôn ngữ và tôn giáo là hai mặt có quan hệ chặt chẽ với nhau.
16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Ngôn ngữ tạo ra tôn giáo Về “Ngôn ngữ tạo ra tôn giáo ”, có thể xuất phát từ những phương diện như sau: 1) Từ góc độ nguồn gốc Tôn giáo được ra đời dựa vào ngôn ngữ. Ngôn ngữ là “hình thức tồn tại ”, là phương tiện vật chất dể thể hiện tư duy của con người, nếu không có ngôn ngữ, các kết quả hoạt động của tư duy sẽ không thể thể hiện ra ngoài dưới dạng vật chất (âm thanh và văn từ) nhằm cho những người khác có thể “thấy được ”. Cho nên, tôn giáo cũng là một loại ý thức của con người, ngôn ngữ đã cung cấp một “cơ sở vật chất ” cho ý thức tôn giáo. 2) Từ góc độ truyền bá Tư tưởng, quan điểm, giáo nghĩa của tôn giáo đều là được truyền bá bằng ngôn ngữ.
Với chức năng phản ánh hiện thực, ngôn ngữ phản ánh các hoạt động của tôn giáo, sự xuất hiện của chữ viết và nhờ đó các bản kinh ra đời và các nghi lễ của tôn giáo cũng được ghi chép lại. Nếu không có ngôn ngữ làm công cụ để truyền đạt thông tin từ người này đến người khác, không có ngôn ngữ làm phương tiện lưu giữ lại nội dung thông tin thì tôn giáo sẽ không thể tồn tại lâu dài được. 3) Từ góc độ tâm lý học Con người được tiếp xúc với tôn giáo có liên quan đến tác dụng của ngôn ngữ. Ngôn ngữ là một tín hiệu văn hóa của con người, chức năng tình cảm, chức năng nhận thức và chức năng thực hành của nó sẽ khiến người ta tìm hiểu tôn giáo và phát sinh tâm lý tín ngưỡng về tôn giáo.
Ví dụ, một người truyền giáo 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trong những buổi truyền giáo sử dụng ngôn ngữ có tình cảm sâu sắc hoặc những phương pháp tu từ như ẩn dụ, khoa trương, làm cho người nghe có sự xúc động về nội dung được truyền bá. Cho nên ngôn ngữ có ảnh hưởng to lớn đến tâm lý tình cảm về tôn giáo của con người.3 Tôn giáo phát triển ngôn ngữ Về “Tôn giáo phát triển ngôn ngữ ”, chúng ta có thể tìm hiểu về những nội dung như sau: Thứ nhất, nhìn vào lịch sử của ngôn ngữ học, chúng ta sẽ thấy, sự ra đời của ngôn ngữ học chịu ảnh hưởng của tôn giáo, nhất là thời kỳ sơ khai, người ta bắt đầu nghiên cứu về ngôn ngữ là xuất phát từ tôn giáo. Ví dụ, kinh Phệ Đà viết bằng tiếng Phạn, do nhu cầu truyền giáo, người Ấn Độ bắt đầu nghiên cứu tiếng Phạn, họ nghiên cứu và viết ra ngữ pháp chuẩn mực để quy định hình thức sử dụng tiếng Phạn, giải thích từ ngữ khó hiểu, biên soạn từ điển, và nghiên cứu ngữ âm, thúc đẩy ngữ âm phát triển. Do đó, Ấn Độ cổ đại trở thành cái nôi của ngôn ngữ học.
Ở Trung Quốc, sau khi Phật giáo truyền vào, người ta mới bắt đầu quan tâm đến nghiên cứu về ngữ âm học, sự phát triển của âm vận học cổ đại Trung Quốc chịu ảnh hưởng rất lớn của Phất giáo. Thứ hai, tôn giáo có thể lưu giữ các dấu vết của ngôn ngữ và tác động vào sự phát triển ngôn ngữ. Chẳng hạn, Phật giáo cùng với tiếng Phạn đã hoạt động ở các vùng đất rộng lớn ở Nam Á, Đông Á và Đông Nam Á; còn Đạo Hồi ra đời không phải chỉ là truyển bá kinh Coran mà còn truyền bá cả tiếng nói chữ viết Arập. Truyền đạo không chỉ phát triển và phổ biến ngôn ngữ, truyền đạo cũng ảnh hưởng đến những ngôn ngữ khác.
Các giáo sỹ đạo Cơ Đốc truyền đạo mỗi 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com khi dến vùng đất mới đều sẽ phát hiện và nghiên cứu các ngôn ngữ mới, phương ngữ mới, chế tác, cải tiến chữ viết cho ngôn ngữ với mục đích là dịch kinh để truyền đạo. Chẳng hạn, đạo Cơ Đốc truyền vào Việt Nam với hệ chữ Latinh đã có ảnh hưởng rất lớn đối với sự phát triển tiếng Việt, nhất là sự ra đời của chữ quốc ngữ. Thứ ba, nhờ có mối quan hệ sâu sắc giữa ngôn ngữ và tôn giáo, ngôn ngữ tôn giáo được xây dựng trên cơ sở ngôn ngữ đời sống. Ngôn ngữ tôn giáo không phải ngôn ngữ khoa học hoặc ngôn ngữ triết học, nó thuộc về văn học, vì tình cảm trong tôn giáo thông thường được thể hiện qua những câu truyện thần thoại và ngụ ngôn.
Vì thế, có thể khái quát đặc điểm của ngôn ngữ tôn giáo là tính khoa trương, tính ẩn dụ, tính miêu tả, tính tượng trưng, tính tình cảm và tính trừu tượng v.v… Tôn giáo có tác động vào phương pháp tu từ và hình thức biểu hiện nghệ thuật của ngôn ngữ. Chẳng hạn, người Arập tạo ra văn tự học, văn học và tu từ học để làm cho người dân tộc và thế hệ trẻ tìm hiểu rõ hơn về kinh Coran. Các môn học ngữ văn và đạo hội Islam đều lấy kinh Coran làm trung tâm, nên có thể nói, sau khi có kinh Coran, người Arập mới có văn học. Do chịu ảnh hưởng của văn hóa tôn giáo, ngôn ngữ tôn giáo với những phương pháp tu từ và hình thức biểu hiện nghệ thuật của ngôn ngữ được thâm nhập vào ngôn ngữ sinh hoạt, làm cho sự phát triển của ngôn ngữ dân gian được phong phú và đa dạng hơn.
Thứ tư, tôn giáo làm một hiện tượng văn hóa không thể thiếu được trong xã hội con người, nó có sự tác động rất lớn đối với ngôn ngữ của chúng ta. Tôn giáo có ảnh hưởng tới các mặt như ngữ âm, ngữ pháp và từ vựng của hệ thống 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ngôn ngữ, thậm chí ảnh hưởng đến phong cách ngôn ngữ và việc sử dụng ngôn ngữ. Sự truyền bá của tôn giáo cũng ảnh hưởng đến sự truyền bá và phát triển của chữ viết. Đây là lý do giải tích vì sao hiện nay trên thế giới có những tôn giáo có quan hệ hinh thức với một loại chữ viết nào đó.
Ví dụ : Thiên chúa giáo với chữ Latinh, Phật giáo với chữ Phạn, đạo hội Islam với tiếng Arập.4 Nhận xét Theo những nội dung như trên, chúng ta đã thấy đươc ngôn ngữ và tôn giáo có quan hệ rất mật thiết. Trong tắc phẩm “ Ngôn ngữ học xã hội ” của giáo sư Nguyễn Văn Khang đã khái quát những nội dung về mối quan hệ giữa tôn giáo và ngôn ngữ, ông cho rằng : “Tôn giáo và ngôn ngữ có mối quan hệ mật thiết, hai chiều. Mối quan hệ hai chiều giữa ngôn ngữ và tôn giáo: ngôn ngữ phản ánh các hoạt động và việc mở rộng hoạt động của tôn giáo; tôn giáo tác động vào ngôn ngữ và có thể dẫn tới những thay đổi trong ngôn ngữ. Theo đó, chúng ta sẽ biết được, trong quá trình nghiên cứu, thông qua ngôn ngữ có thể nghiên cứu về hiện tượng tôn giáo và các vấn đề tôn giáo; thông qua tôn giáo cũng có thể giải tích các vấn đề ngôn ngữ.2 Khái quát về Phật giáo ở Trung Quốc có liên quan đến tiếng Hán 1.1 Sự du nhập của Phật giáo vào Trung Quốc Phật giáo là một trong những tôn giáo có lịch sử lâu đời trên thế giới.
Theo nhiều nguồn sử liệu, hai thế kỷ đầu khi mới thành lập, địa bàn hoạt động của Phật giáo chỉ giới hạn quanh lưu vực sông Hằng của Ấn Độ. Nhưng, vào nửa thế kỷ thứ III T.CN, Phật giáo bắt đầu vượt biên giới và truyền bá sang nhiều quốc gia lân cận. Về phương diện địa lý, có thể truyền từ Ấn Độ đến Trung Quốc 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bằng cả đường bộ lẫn đường thủy. “Lịch Sử Phật giáo Trung Quốc” viết rằng, trước hết, Phật giáo được từ Ấn Độ truyền vào nước Đại Nhục Chi (Tukhàra), An Tức (Parthia) thuộc Bắc Ấn, sau đó phát triển sang vùng Tây Vực và cuối cùng đến Trung Quốc.
Nếu đi bằng đường thủy người ta sẽ khởi hành từ hải cảng thuộc tỉnh Quảng Đông, qua các ốc đảo ở phía Đông Á rồi đến Ấn Độ. Đường thủy rất tiện cho việc giao lưu buôn bán nhưng lúc đầu đường thủy ít được sử dụng và nó chỉ trở nên phổ biến trong thời đại Đông Tấn. Cho nên khả năng có thể tin cậy nhất là Phật giáo được truyền vào Trung Hoa bằng con đường Trung Á. Phật giáo du nhập vào Trung Hoa chính xác vào thời điểm nào vẫn còn là một ẩn số.
Có rất nhiều giả thuyết liên quan đến sự kiện quan trọng và đầy ý nghĩa trên. Nhưng trong đó có một giả thuyết được nhiểu sử gia Phật giáo quan tâm và khẳng định là câu chuyện liên quan đến Hán Minh Đế. Theo “Mâu Tử Lý Hoặc Luận”, vào một đêm nọ, Minh Đế (năm 58-75) nằm mộng thấy vị thần sắc vàng bay liệng trong không gian, sáng hôm sau ông kể lại câu chuyện ấy cho quần thần nghe.