Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn (chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh - đối chiếu, mã số: 62 22 01 10) với đề tài "Đặc điểm của thán từ tiếng Hán hiện đại và việc chuyển dịch chúng sang tiếng Việt" do nghiên cứu sinh Đỗ Thu Lan thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội vào năm 2013, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Văn Khang.

Về tính cấp thiết, tác giả chỉ ra rằng xét theo tiến trình lịch đại, thán từ thuộc lớp từ xuất hiện sớm trong lịch sử phát triển tiếng nói nhân loại, bắt nguồn từ những âm thanh bộc phát nhằm biểu thị cảm xúc vui mừng, giận dữ hay đau buồn khi năng lực ngôn ngữ còn sơ khai. Xét theo bình diện đồng đại, thán từ là một từ loại có nhiều đặc điểm chuyên biệt về nội dung biểu đạt lẫn phương diện ngữ pháp. Mặc dù không giữ vai trò nòng cốt trong cú pháp như phần lớn các thực từ và hư từ, cũng không mang chức năng phân loại kiểu câu trực tiếp như ngữ khí từ, thán từ sở hữu giá trị biểu đạt tình cảm mà không phương thức ngôn ngữ nào có thể thay thế hoàn toàn. Tuy vậy, trong lịch sử nghiên cứu ngôn ngữ, lớp từ này thường ít được chú ý khảo sát một cách toàn diện cả về quy mô lẫn số lượng, từng bị coi là "một từ loại phổ quát nhưng bị quên lãng" (Ameka, 1992).

Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định: Tại Trung Quốc cũng như Việt Nam, các công trình nghiên cứu về thán từ tiếng Hán hiện đại phần lớn còn tản mạn trong các giáo trình ngữ pháp, bài báo học thuật hoặc từ điển hư từ. Đặc biệt, từ trước đến thời điểm thực hiện luận án, chưa có bất kỳ công trình chuyên biệt nào khảo sát có hệ thống về vấn đề chuyển dịch thán từ tiếng Hán hiện đại sang tiếng Việt. Do đó, việc nghiên cứu chuyên sâu về đặc điểm của thán từ tiếng Hán và phương thức chuyển dịch sang tiếng Việt là khoảng trống cần được lấp đầy.

Mục đích nghiên cứu của luận án được xác định gồm hai điểm:

  1. Thông qua khảo sát đặc điểm của thán từ tiếng Hán hiện đại, góp phần vào nghiên cứu lý luận về từ loại nói chung và vấn đề thán từ trong ngôn ngữ học đại cương nói riêng; chỉ ra những quan niệm về thán từ trong từng ngôn ngữ cụ thể.
  2. Trên cơ sở nghiên cứu thán từ tiếng Hán hiện đại và việc chuyển dịch thán từ tiếng Hán hiện đại sang tiếng Việt, luận án góp phần vào việc nghiên cứu các đặc điểm riêng của thán từ trong mỗi ngôn ngữ.

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án gồm ba nội dung:

  1. Hệ thống hóa những vấn đề lý thuyết có liên quan đến thán từ; xác định khái niệm thán từ sử dụng trong luận án và xác lập danh sách thán từ tiếng Hán và tiếng Việt.
  2. Khảo sát đặc điểm của thán từ tiếng Hán hiện đại trên các bình diện: ngữ âm - ngữ nghĩa, từ vựng - ngữ nghĩa, ngữ pháp - ngữ nghĩa và đặc điểm sử dụng.
  3. Khảo sát các cách dịch thán từ tiếng Hán hiện đại sang tiếng Việt trong một số tác phẩm văn học và điện ảnh; tiến hành phân tích, tổng hợp các phương thức chuyển dịch, chỉ ra một số điểm cần lưu ý và gợi ý khi chuyển dịch thán từ tiếng Hán hiện đại sang tiếng Việt.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Thán từ tiếng Hán hiện đại, thán từ tiếng Việt hiện đại và các phương thức chuyển dịch thán từ tiếng Hán sang tiếng Việt.
  • Phạm vi nghiên cứu: Tập trung vào thán từ tiếng Hán hiện đại chuẩn (tiếng phổ thông) và thán từ tiếng Việt hiện đại. Thán từ tiếng Hán cổ đại, thán từ trong các phương ngữ địa phương và thán từ thứ cấp không thuộc phạm vi trung tâm của đề tài (chỉ được liên hệ khi cần làm sáng tỏ ngữ nghĩa).
  • Phạm vi không gian và thời gian của tư liệu: Khảo sát các tác phẩm văn học, kịch bản, phim truyền hình hiện đại của Trung Quốc cùng các bản dịch tiếng Việt tương ứng; điều tra xã hội học ngôn ngữ trên các nhóm người bản ngữ Trung Quốc (sinh sống tại Trung Quốc và Việt Nam) và ngữ liệu thực tế trên mạng Internet đến năm 2013.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong luận án, tác giả điểm lại lịch sử nghiên cứu thán từ tiếng Hán tại Trung Quốc và tình hình nghiên cứu thán từ tại Việt Nam qua các giai đoạn:

Tại Trung Quốc:

  • Giới định phạm vi thán từ: Tác giả điểm lại các tranh luận về việc phân biệt thán từ với ngữ khí từ và từ tượng thanh. Một số học giả đồng nhất thán từ với ngữ khí từ (Hồ Minh Dương, Phòng Ngọc Thanh); một số khác gộp thán từ với từ tượng thanh thành một loại (Đinh Thanh Thụ, Lã Thúc Tương, Chu Đức Hy). Đa số các học giả còn lại khẳng định đây là ba phạm trù từ loại độc lập.
  • Quy loại thán từ tiếng Hán: Tồn tại 4 khuynh hướng lý thuyết chính:
    1. Thán từ thuộc nhóm thực từ: Hoàng Bá Vinh, Liêu Tự Đông, Thiệu Kính Mẫn; đặc biệt Lưu Đan Thanh xếp thán từ vào nhóm đại từ thay thế cho cả câu.
    2. Thán từ thuộc nhóm hư từ: Bắt đầu từ Mã Kiến Trung trong Mã thị văn thông (1898), tiếp nối bởi Cao Danh Khải, Hồ Dụ Thụ, Hình Phúc Nghĩa, Uông Quốc Thắng; Viên Dục Lâm định danh thán từ là "hư từ phi điển hình" do tính độc lập cú pháp cao.
    3. Thán từ là loại từ đặc biệt: Hình Công Uyển, Lưu Nguyệt Hoa, Trương Bân cho rằng thán từ không có ý nghĩa từ vựng khái niệm nhưng cũng không biểu thị quan hệ ngữ pháp kết cấu thuần túy.
    4. Thán từ là từ độc lập không kết hợp: Quách Nhuệ, Tiêu Á Lệ tiếp cận từ khả năng phân bố cú pháp.
  • Đặc điểm ngữ âm của thán từ: Các giáo trình của Triệu Nguyên Nhiệm, Hồ Minh Dương và các bài viết của Từ Thế Vinh, Lưu Ninh Sinh, Quách Nhuệ, Tạ Nhân Hữu đều chỉ ra rằng ngữ âm thán từ tiếng Hán mang tính đặc thù cao, nhiều trường hợp nằm ngoài hệ thống ngữ âm tiêu chuẩn.
  • Phân loại thán từ theo ngữ nghĩa: Lê Cẩm Hy căn cứ trực tiếp vào các sắc thái tình cảm; Lã Thúc Tương chia thành hai nhóm lớn: thán từ biểu thị tình cảm và thán từ gọi đáp.
  • Nghiên cứu đối chiếu thán từ tiếng Hán:
    • Đối chiếu phương ngữ: Vương Tinh đối chiếu tiếng phổ thông với tiếng Lạc Dương; Trần Lệ Quân đối chiếu tiếng phổ thông với tiếng Hồ Nam.
    • Đối chiếu song ngữ quốc tế: Nadya đối chiếu tiếng Hán - tiếng Nga; Lưu Toàn Phúc, Vu Quế Bột, Hà Chiếm Nghĩa, Chu Tiểu Linh, Đặng San đối chiếu tiếng Hán - tiếng Anh; Ngô Hiểu Ba đối chiếu tiếng Hán - tiếng Inđônêxia; Lưu Nguyên Mãn đối chiếu tiếng Hán - tiếng Nhật.

Tại Việt Nam:

  • Từ những năm 1940, Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ và Phạm Duy Khiêm đã đề cập đến "tán thán tự" trong sách văn phạm. Về sau, thán từ được nghiên cứu bởi Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Kim Thản, Đinh Văn Đức, Cao Xuân Hạo, Bùi Đức Tịnh, Hữu Quỳnh, Hoàng Trọng Phiến, Diệp Quang Ban, Nguyễn Minh Thuyết. Về quy loại, Hữu Quỳnh xếp vào thực từ; Hoàng Trọng Phiến, Đào Thanh Lan, Nguyễn Kim Thản, Diệp Quang Ban xếp vào hư từ; Bùi Đức Tịnh, Nguyễn Anh Quế xếp vào từ loại đặc biệt; Cao Xuân Hạo, Hồ Lê, Đinh Văn Đức xếp vào từ tình thái; Phạm Hùng Việt xếp vào tiểu từ tình thái.
  • Về công trình chuyên biệt: Luận văn thạc sĩ của Phạm Thị Hương Lan khảo sát cảm từ tiếng Việt và dạng thức tương đương tiếng Anh; luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Hồng Ngọc khảo sát câu cảm thán tiếng Việt (chỉ đề cập sơ lược đến thán từ).

Vị trí của luận án: Luận án của Đỗ Thu Lan là công trình đầu tiên tại Việt Nam nghiên cứu miêu tả một cách toàn diện, đồng bộ thán từ tiếng Hán trên cả 4 bình diện (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, ngữ dụng xã hội) kết hợp với âm học thực nghiệm; đồng thời là công trình đầu tiên đi sâu khảo sát thực chứng các phương thức chuyển dịch thán từ tiếng Hán sang tiếng Việt trên tư liệu văn học và phim ảnh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết

Luận án dựa trên các tiền đề lý luận ngôn ngữ học đại cương và lý thuyết từ loại:

  1. Lý luận về phân chia từ loại: Điểm qua 4 tiêu chí phân loại phổ biến trong ngôn ngữ học Âu - Mỹ và thế giới: tiêu chí ý nghĩa khái quát (từ thời triết gia Hy Lạp Protagoros, Cratyle, Platon); tiêu chí hình thái học (F. Fortunatov); tiêu chí phân bố và khả năng kết hợp (L. Bloomfield); tiêu chí tích hợp từ vựng - ngữ pháp (ngôn ngữ học hiện đại). Trong các ngôn ngữ đơn lập, không biến hình như tiếng Hán và tiếng Việt, đặc điểm cú pháp và khả năng kết hợp giữ vai trò trọng yếu để phân định từ loại.
  2. Lý luận đại cương về thán từ: Tiếp thu các quan điểm từ Marcus Terentius Varro, O. Jespersen (1922) về nguồn gốc thán từ trong tương quan với tiếng thốt bản năng, F. de Saussure về tính tự nhiên và tính võ đoán của thán từ, E. Sapir (1970) về tính chất độc lập cú pháp, G. Leech (1981), R. Quirk và S. Greenbaum (1985), R. L. Trask (1993), D. Crystal (1995), E. Goffman (1981) về "tiếng kêu đáp", D. Wilkins (1992) về cấu trúc ý niệm của thán từ, và mô hình tri nhận - dụng học của D. Sperber và D. Wilson (1986/1995) dựa trên lý thuyết quan yếu.
  3. Khái niệm thán từ của luận án: Luận án đưa ra định nghĩa làm việc thống nhất cho cả tiếng Hán và tiếng Việt:
    • Thán từ là những từ dùng để biểu thị cảm xúc của con người (vui, buồn, tức giận, phẫn nộ...), để hô gọi và đáp lại.
    • Thán từ không có mối quan hệ về mặt kết cấu với bất kì thành phần nào trong câu, có thể độc lập tạo câu và cũng có thể tạo thành một ngữ độc lập.
    • Thán từ thuộc nhóm từ loại đặc biệt, độc lập với thực từ và hư từ.
  4. Tiêu chí phân biệt thán từ với ngữ khí từ và từ tượng thanh:
    • Phân biệt với ngữ khí từ: Thán từ có vị trí cú pháp linh hoạt (đứng đầu, giữa hoặc cuối câu, tách biệt bằng dấu ngắt câu), trong khi ngữ khí từ cố định ở cuối câu/cuối phân câu và kết nối trực tiếp với nòng cốt câu. Thán từ có thể lặp lại (AA, ABB) nhưng không đi thành chùm; ngược lại ngữ khí từ không thể lặp lại nhưng có thể đi liền nhau ở cuối câu. Thán từ không có chức năng tạo kiểu câu như ngữ khí từ.
    • Phân biệt với từ tượng thanh: Thán từ là hiện tượng tâm lý chủ quan của người nói, thường xuất hiện ở ngôi thứ nhất; từ tượng thanh là hiện tượng vật lý khách quan mô phỏng âm thanh tự nhiên, chủ yếu xuất hiện ở lời trần thuật ngôi thứ ba. Về mặt ngữ pháp, từ tượng thanh có thể kết hợp với các trợ từ kết cấu 的, 地, 得 để làm định ngữ, trạng ngữ, vị ngữ, bổ ngữ; trong khi thán từ chỉ có thể làm thành phần chen ngang biệt lập hoặc câu độc lập.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án phối hợp các phương pháp và thủ pháp sau:

  • Phương pháp miêu tả: Phân tích, làm rõ các đặc trưng ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, ngữ nghĩa và sử dụng của thán từ.
  • Thủ pháp thống kê và khảo sát trường hợp (case study): Thu thập ngữ liệu, lập bảng phân bố tần số xuất hiện, xếp loại khách quan các biến thể của thán từ và kiểm nghiệm các giả định.
  • Phương pháp ngôn ngữ học xã hội: Điều tra xã hội học định hướng trên đối tượng ngẫu nhiên (học sinh, sinh viên, giáo viên), xử lý số liệu định tính và định lượng để xác định xu hướng ưu tiên sử dụng thán từ theo biến số giới tính, lứa tuổi và ngữ cảnh giao tiếp.
  • Phương pháp so sánh - đối chiếu: Xác định tiếng Hán hiện đại là ngôn ngữ đối tượng và tiếng Việt hiện đại là ngôn ngữ phương tiện, chỉ ra những nét tương đồng và dị biệt giữa thán từ hai ngôn ngữ nhằm phục vụ dịch thuật.
  • Phương pháp âm học thực nghiệm: Sử dụng phần mềm phân tích ngữ âm Praat với mẫu tần số ghi âm 22.050 Hz (sampling frequency), trích xuất và đo đạc thông số cao độ Pitch (tần số cơ bản F0, tính bằng Hertz - Hz) để phân tích đường nét thanh điệu thực tế của thán từ.

Nguồn tư liệu nghiên cứu

Tư liệu khảo sát của luận án gồm 6 nguồn:

  1. Tài liệu viết: Các tác phẩm văn học, vở kịch bằng nguyên bản tiếng Hán cùng bản dịch tiếng Việt tương ứng (Lôi vũ, Một nửa đàn ông là đàn bà, Nghiệp chướng, Gào thét, Bàng hoàng, Ly hôn kiểu Trung Quốc, Búp bê Bắc Kinh...).
  2. Tài liệu nói: File âm thanh MP3 phim truyền hình, điện ảnh Trung Quốc nguyên bản tiếng Hán và bản thuyết minh tiếng Việt (Nhất Nhất tiến lên, Toàn thành nhiệt luyến, Thần kỳ hiệp lữ...).
  3. Phiếu điều tra trực tiếp: Thu thập từ giảng viên, sinh viên, học sinh Trung Quốc đang sinh sống, học tập tại Trung Quốc và tại Việt Nam.
  4. Kho ngữ liệu điện tử: Kho ngữ liệu của Trung tâm Ngôn ngữ học tính toán - Đại học Bắc Kinh (Trung Quốc) và Viện Từ điển học (Vietlex - Việt Nam).
  5. Các bộ từ điển công cụ: Tự điển các chữ Hán cổ thường dùng (1998), Từ điển tiếng Hán hiện đại (2009), Từ điển hư từ tiếng Hán hiện đại (Chu Cảnh Tùng, 2007), Từ điển hư từ tiếng Hán hiện đại (Hầu Học Triệu, 1998), Từ điển Hán - Việt (Phan Văn Các chủ biên, 2008), Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên, 2000), Từ điển giải thích hư từ tiếng Việt (Hoàng Trọng Phiến, 2008).
  6. Ngữ liệu thực tế: Thu thập qua quan sát hội thoại thực tế và khảo sát trực tiếp tại các diễn đàn trao đổi trên mạng Internet của Trung Quốc và Việt Nam.

Nội dung chính theo từng chương

Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Chương 1 tập trung giải quyết các vấn đề lý luận nền tảng, làm rõ ranh giới của thán từ và xác lập danh sách ngữ liệu chuẩn làm việc cho đề tài:

  • Phân định từ loại: Tác giả hệ thống hóa các quan điểm phân loại từ trong ngôn ngữ học đại cương, tiếng Hán và tiếng Việt; phân tích thực chất của các tranh luận về tính tồn tại của từ loại trong ngôn ngữ đơn lập.
  • Giới định thán từ: So sánh sự khác biệt bản chất giữa thán từ với từ tượng thanh và ngữ khí từ. Nhằm chứng minh sự khác biệt về đối tượng sử dụng giữa thán từ (ngôi thứ nhất) và từ tượng thanh (ngôi thứ ba), tác giả tiến hành khảo sát thực tế trên tác phẩm văn học, thể hiện qua số liệu cụ thể:
Tác phẩm Từ loại Tổng số lần xuất hiện Ngôi thứ nhất Ngôi thứ ba
Gào thét (呐喊) & Bàng hoàng (彷徨) Từ tượng thanh 113 28 (25%) 85 (75%)
Thán từ 140 140 (100%) 0 (0%)
Ly hôn kiểu Trung Quốc (中国式离婚 - 3 chương đầu) Từ tượng thanh 19 0 (0%) 19 (100%)
Thán từ 22 20 (91%) 2 (9%)

(Ghi chú trong luận án: 2 trường hợp thán từ ở ngôi thứ ba trong "Ly hôn kiểu Trung Quốc" thực chất là thán từ đã lâm thời chuyển loại thành động từ).

  • Khảo sát và đối chiếu danh sách thán từ trong các từ điển:
    • Trong tiếng Hán: Sổ tay hư từ tiếng Hán hiện đại (Lý Hiểu Kỳ, 2005) ghi nhận 20 thán từ; Từ điển hư từ tiếng Hán hiện đại (Chu Cảnh Tùng, 2007) ghi nhận 51 thán từ; Từ điển tiếng Hán hiện đại (Nhà in Thương vụ, 2009) ghi nhận 63 thán từ. Luận án xác định có 19 thán từ xuất hiện đồng thời trong cả 3 nguồn (nhóm cơ bản: 啊, 哎, 哎呀, 哎哟, 唉, 咳, 嘿, 哼, 嗯, 噢, 哦, 呀, 哟...). Trên cơ sở loại trừ các thán từ cổ, thán từ phương ngữ hẹp hoặc thán từ bạch thoại cổ, tác giả lập danh sách nghiên cứu chính thức gồm 56 thán từ tiếng Hán.
    • Trong tiếng Việt: Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê, 2000) thu thập 82 đơn vị; Từ điển tiếng Việt (Trung tâm Từ điển học, 2008) có 87 đơn vị; Từ điển giải thích hư từ tiếng Việt (Hoàng Trọng Phiến, 2008) có 31 đơn vị. Luận án loại trừ các thán từ thứ cấp (như trời ơi, chết thật...), thán từ phương ngữ (bớ, ủa...) và thán từ tôn giáo chuyên biệt (a men, mô phật...), xác lập danh sách chuẩn gồm 56 thán từ tiếng Việt làm đối tượng đối chiếu.

Chƣơng 2: ĐẶC ĐIỂM CỦA THÁN TỪ TIẾNG HÁN

Chương 2 triển khai miêu tả, khảo sát toàn diện đặc trưng thán từ tiếng Hán trên 4 bình diện, có liên hệ đối chiếu với tiếng Việt:

  1. Đặc điểm ngữ âm - ngữ nghĩa:
  • Phân tích âm vị siêu đoạn tính qua thực nghiệm phần mềm Praat: Tác giả chứng minh thanh điệu thán từ tiếng Hán thường xuyên vượt ra khỏi hệ thống thanh điệu cơ bản (bốn thanh: 55, 35, 214, 51 và thanh nhẹ). Qua biểu đồ Pitch, luận án chỉ ra:
    • Trường hợp âm cao hơn bình thường: thán từ 嗨 [hēi] (thể hiện thất vọng, không đồng ý).
    • Trường hợp âm thấp hơn bình thường: thán từ 嗐 [hài] (thể hiện nuối tiếc).
    • Trường hợp âm kéo dài hơn bình thường: thán từ 噢 [ō] (thể hiện ngạc nhiên).
    • Trường hợp âm ngắn cụt hơn bình thường: thán từ 嗳 [ài] (thể hiện buồn phiền).
  • Đối chiếu với 6 thanh điệu tiếng Việt: Hiện tượng tương tự cũng diễn ra trên thán từ tiếng Việt qua đo đạc Praat (thán từ a có âm cao hơn, hừm thấp hơn, ứ kéo dài hơn, hừ ngắn hơn).
  • Mối liên hệ giữa ngữ âm và chữ viết: Chữ Hán ghi thán từ chủ yếu mượn chữ có bộ Khẩu (口) hoặc dùng chữ đồng âm mượn nghĩa; một hình chữ có thể có nhiều âm đọc tương ứng các sắc thái tình cảm khác nhau (ví dụ: chữ 啊 có các âm đọc mang thanh 1, thanh 2, thanh 3, thanh 4).
  1. Đặc điểm từ vựng - ngữ nghĩa:
  • Thán từ tiếng Hán có tính đa nghĩa và tính mơ hồ cao. Nghĩa biểu thị phụ thuộc vào ngữ cảnh phát ngôn và ngữ điệu. Tác giả lập bảng đối chiếu 18 nhóm thán từ tương ứng về mặt ngữ nghĩa giữa tiếng Hán và tiếng Việt (nhóm biểu thị vui mừng, ngạc nhiên, đau đớn, tiếc nuối, nghi vấn, gọi đáp...).
  1. Đặc điểm ngữ pháp - ngữ nghĩa:
  • Vị trí cú pháp: Thán từ có thể phân bố ở đầu câu, giữa câu hoặc cuối câu, ngăn cách với nòng cốt câu bằng dấu phẩy, dấu chấm than hoặc dấu chấm lửng. Luận án thống kê số lượng và tần suất phân bố vị trí cú pháp của thán từ trong các tác phẩm khảo sát: chiếm tỷ lệ áp đảo là vị trí đầu câu, tiếp đến là vị trí giữa câu (thành phần chen ngang), và thấp nhất là cuối câu.
  • Chức năng tạo câu: Thán từ có khả năng độc lập tạo thành một phát ngôn/câu độc lập (câu cảm thán, câu gọi đáp) mà không cần kết hợp với các thành phần ngữ pháp khác.
  1. Đặc điểm sử dụng thán từ xét theo phân tầng xã hội và bối cảnh giao tiếp:
  • Khảo sát biến số giới tính: Tác giả phân tích tần suất sử dụng thán từ giữa nam và nữ trong phim ảnh (Toàn thành nhiệt luyến, Thần kỳ hiệp lữ) và văn học (Một nửa đàn ông là đàn bà, Búp bê Bắc Kinh, 5 tác phẩm văn học Trung Quốc). Kết quả thực nghiệm cho thấy:
    • Nữ giới có xu hướng sử dụng thán từ với tần suất cao hơn nam giới trong đời sống thường nhật và các tác phẩm nghệ thuật.
    • Về phân bố cung bậc cảm xúc: Nữ giới sử dụng thán từ vượt trội ở các nhóm biểu thị sự ngạc nhiên, sợ hãi, nũng nịu, đau đớn; nam giới chiếm ưu thế ở các nhóm thán từ biểu thị sự bất mãn, bực tức, đe dọa hoặc tiếng hò lao động tập thể.
  • Khảo sát biến số lứa tuổi và quan hệ giao tiếp: Tác giả điều tra tình hình sử dụng các thán từ mới xuất hiện (như 哇噻, 嗯哼) giữa học sinh trung học, sinh viên đại học với giáo viên, chỉ ra ranh giới phong cách và mức độ trang trọng trong giao tiếp học đường.

Chƣơng 3: PHƢƠNG THỨC CHUYỂN DỊCH THÁN TỪ TIẾNG HÁN SANG TIẾNG VIỆT

Chương 3 vận dụng lý luận dịch thuật và ngôn ngữ học đối chiếu để khảo sát các bản dịch thực tế và đề xuất giải pháp dịch thuật:

  1. Khảo sát thực tế dịch thuật: Tác giả tiến hành khảo sát trường hợp qua các bản dịch tác phẩm kịch Lôi vũ (Tào Ngu), tiểu thuyết Một nửa đàn ông là đàn bà (Trương Hiền Lượng), tiểu thuyết Nghiệp chướng và phim truyền hình Nhất Nhất tiến lên:
  • Luận án thống kê tần suất xuất hiện của câu chứa thán từ, tỷ lệ tương quan giữa số lượng thán từ trong nguyên bản tiếng Hán và số lượng thán từ xuất hiện trong bản dịch tiếng Việt.
  • Khảo sát cách dịch các thán từ có tần suất cao như 哦, 嗯, 哼, 哎呀: cùng một thán từ trong nguyên tác được các dịch giả chuyển dịch bằng nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào ngữ cảnh hội thoại.
  1. Tổng hợp các phương thức chuyển dịch thán từ: Dựa trên kết quả khảo sát định lượng, luận án phân loại các phương thức chuyển dịch thán từ tiếng Hán sang tiếng Việt thành 4 phương thức chính:
  • Phương thức 1: Chuyển dịch tương đương bằng thán từ tiếng Việt (ví dụ thán từ 哦 dịch thành ồ, à; 哼 dịch thành hừ, hừm; 嗯 dịch thành ừ, vâng).
  • Phương thức 2: Chuyển dịch thán từ thành các từ loại khác trong tiếng Việt (chuyển dịch thành ngữ khí từ, trợ từ tình thái, hoặc cụm từ biểu thị thái độ/động tác).
  • Phương thức 3: Chuyển dịch bằng phương thức tỉnh lược (lược bỏ, không dịch thán từ): Thường áp dụng khi ngữ cảnh của câu văn tiếng Việt đã thể hiện trọn vẹn ngữ khí biểu cảm, hoặc khi việc giữ lại thán từ gây rườm rà, mất tự nhiên trong đối thoại tiếng Việt.
  • Phương thức 4: Chuyển dịch thoát ý hoặc dịch bổ sung thành phần giải thích cảm xúc.
  1. Các khuyến nghị và gợi ý dịch thuật:
  • Cảnh báo về việc lạm dụng âm Hán - Việt: Tác giả lập bảng liệt kê âm Hán - Việt của các thán từ tiếng Hán và chỉ rõ rằng đa số các âm Hán - Việt của thán từ không thể dùng trực tiếp để chuyển dịch sang tiếng Việt vì chúng không mang chức năng cảm thán trong tiếng Việt hiện đại (ví dụ thán từ 哼 âm Hán - Việt là hanh, 哎 âm Hán - Việt là ai, không thể dịch nguyên âm sang đối thoại tiếng Việt).
  • Lưu ý khi sử dụng từ điển Hán - Việt: Các mục giải nghĩa thán từ trong từ điển Hán - Việt thường khái quát hoặc dùng các từ giải thích chức năng, người dịch không thể sao chép nguyên xi phần giải nghĩa làm từ ngữ dịch.
  • Bảng gợi ý chuyển dịch: Luận án cung cấp bảng hệ thống hóa cách dịch cụ thể cho 18 nhóm thán từ tiếng Hán sang tiếng Việt, có gắn liền với cao độ và ngữ điệu phát âm trong từng ngữ cảnh giao tiếp.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn như sau:

Về mặt lý luận:

  • Là công trình chuyên khảo đầu tiên tại Việt Nam nghiên cứu, khảo sát một cách tương đối đầy đủ và có hệ thống về thán từ tiếng Hán trên cả 4 bình diện: ngữ âm - ngữ nghĩa, từ vựng - ngữ nghĩa, ngữ pháp - ngữ nghĩa và đặc điểm sử dụng.
  • Góp phần làm sáng tỏ lý luận về từ loại nói chung và vấn đề thán từ trong ngôn ngữ học đại cương nói riêng; xác lập rõ ranh giới ngữ pháp và bản chất của thán từ như một từ loại đặc biệt, độc lập với thực từ và hư từ trong các ngôn ngữ không biến hình (tiếng Hán, tiếng Việt).
  • Áp dụng phương pháp ngữ âm học thực nghiệm (phần mềm Praat) để cung cấp cơ sở dữ liệu khách quan về âm vị siêu đoạn tính của thán từ, kiểm chứng các dao động cao độ nằm ngoài hệ thống thanh điệu cơ bản.

Về mặt thực tiễn:

  • Xác lập danh mục chuẩn hóa gồm 56 thán từ tiếng Hán hiện đại và 56 thán từ tiếng Việt hiện đại, phân loại theo đặc trưng ngữ nghĩa và đối chiếu tương đương.
  • Khảo sát định lượng quy mô về việc sử dụng thán từ theo phân tầng xã hội (giới tính, lứa tuổi) qua tư liệu văn học, điện ảnh và điều tra xã hội học ngôn ngữ.
  • Khảo sát thực chứng các phương thức chuyển dịch thán từ Hán - Việt; chỉ ra những lỗi sai phổ biến (như lạm dụng âm Hán - Việt hoặc áp dụng máy móc từ điển); cung cấp bảng gợi ý chuyển dịch 18 nhóm thán từ tiếng Hán sang tiếng Việt có lưu ý đến ngữ điệu, hỗ trợ trực tiếp cho thực hành dịch thuật và giảng dạy ngoại ngữ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Do phạm vi đề tài tập trung vào tiếng Hán hiện đại chuẩn (tiếng phổ thông) và tiếng Việt hiện đại, luận án chủ động không đi sâu khảo sát hệ thống thán từ tiếng Hán cổ đại, thán từ trong các phương ngữ địa phương của Trung Quốc cũng như lớp thán từ tiếng Hán thứ cấp.
  • Ngữ liệu khảo sát dịch thuật chủ yếu giới hạn trong phương thức nghiên cứu trường hợp qua một số tác phẩm văn học kịch, tiểu thuyết và phim truyền hình tiêu biểu, chưa thể bao quát toàn bộ mọi phong cách chức năng ngôn ngữ.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các lớp thán từ phương ngữ tiếng Hán và đối chiếu với các biến thể phương ngữ tiếng Việt.
  • Khảo sát đặc điểm sử dụng và phương thức chuyển dịch thán từ trong các phong cách chức năng khác như văn bản báo chí, truyền thông đa phương tiện hoặc giao tiếp khẩu ngữ trực tiếp quy mô lớn.
  • Ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào lĩnh vực dịch máy và xử lý ngôn ngữ tự nhiên trong việc nhận diện và chuyển ngữ các yếu tố biểu cảm.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh - đối chiếu, Hán ngữ học và Việt ngữ học: Có thể tham khảo khung lý thuyết phân định từ loại và mô hình phân tích ngữ âm học thực nghiệm bằng phần mềm Praat tại Chương 1 và Chương 2.
  • Biên dịch viên, phiên dịch viên tiếng Hán: Trực tiếp tham khảo Chương 3 với hệ thống 4 phương thức chuyển dịch, các lưu ý về việc tránh dùng âm Hán - Việt cơ học và bảng gợi ý chuyển dịch 18 nhóm thán từ theo ngữ cảnh và ngữ điệu.
  • Người biên soạn giáo trình và giáo viên giảng dạy tiếng Hán/tiếng Việt như một ngoại ngữ: Vận dụng danh sách 56 thán từ chuẩn và các đặc trưng ngữ dụng - xã hội (khác biệt giới tính, lứa tuổi) để hướng dẫn người học sử dụng thán từ tự nhiên, đúng ngữ cảnh giao tiếp.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án quy kết thán từ thuộc về lớp từ loại nào trong hệ thống từ loại tiếng Hán và tiếng Việt?
Luận án kết luận thán từ không thuộc lớp thực từ (vì không mang ý nghĩa sự vật, hoạt động, tính chất cụ thể) và cũng không thuộc lớp hư từ (vì không đảm nhận chức năng ngữ pháp liên kết hay bổ nghĩa cho các thành phần câu). Thán từ được xác định là một từ loại đặc biệt, tồn tại độc lập với cả thực từ và hư từ, có khả năng đứng biệt lập tạo thành ngữ hoặc câu độc lập.

2. Điểm khác biệt bản chất giữa thán từ và từ tượng thanh được luận án chứng minh qua dữ kiện nào?
Luận án chỉ ra thán từ là hiện tượng tâm lý chủ quan của người nói, chủ yếu xuất hiện ở ngôi thứ nhất; còn từ tượng thanh là hiện tượng vật lý khách quan mô phỏng âm thanh tự nhiên, xuất hiện chủ yếu ở ngôi thứ ba. Khảo sát trên tác phẩm Gào thét và Bàng hoàng (Lỗ Tấn) cho thấy 100% thán từ (140/140 lượt) xuất hiện ở ngôi thứ nhất, trong khi 75% từ tượng thanh (85/113 lượt) xuất hiện ở ngôi thứ ba. Về mặt ngữ pháp, từ tượng thanh có thể làm định ngữ, trạng ngữ, vị ngữ, bổ ngữ và đi kèm 的, 地, 得; thán từ chỉ có thể làm thành phần biệt lập hoặc câu độc lập.

3. Phần mềm Praat được tác giả sử dụng nhằm mục đích gì và phát hiện ra hiện tượng ngữ âm nào của thán từ?
Phần mềm Praat (với sampling frequency 22.050 Hz) được sử dụng để trích xuất thông số cao độ Pitch (đo bằng Hz). Kết quả thực nghiệm chứng minh thanh điệu thán từ tiếng Hán thực tế thường vượt ra ngoài hệ thống 4 thanh điệu cơ bản của tiếng Hán phổ thông: có âm đọc cao hơn bình thường (thán từ 嗨), thấp hơn bình thường (嗐), kéo dài hơn (噢) hoặc ngắn cụt hơn (嗳). Hiện tượng này cũng được tìm thấy tương tự trên thán từ tiếng Việt.

4. Luận án lựa chọn danh sách bao nhiêu thán từ tiếng Hán và tiếng Việt để nghiên cứu?
Qua việc khảo sát, so sánh và sàng lọc từ các bộ từ điển công cụ của Trung Quốc và Việt Nam, luận án đã loại trừ thán từ cổ, thán từ phương ngữ và thán từ thứ cấp để xác lập danh mục làm việc chuẩn hóa gồm đúng 56 thán từ tiếng Hán và 56 thán từ tiếng Việt.

5. Tại sao luận án khuyến cáo không nên sử dụng âm Hán - Việt khi chuyển dịch thán từ tiếng Hán sang tiếng Việt?
Tác giả chứng minh rằng âm Hán - Việt của thán từ tiếng Hán (ví dụ: 哼 đọc là hanh, 哎 đọc là ai, 呸 đọc là phi) vốn chỉ là âm đọc chữ Hán mang tính quy ước, không có chức năng biểu thị cảm xúc hay gọi đáp trong tiếng Việt hiện đại. Nếu dịch giả dùng nguyên âm Hán - Việt sẽ làm mất sắc thái biểu cảm tự nhiên của câu thoại tiếng Việt hoặc khiến người tiếp nhận hiểu sai hoàn toàn ngữ cảnh.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của Đỗ Thu Lan là công trình nghiên cứu chuyên khảo về thán từ tiếng Hán hiện đại và việc chuyển dịch sang tiếng Việt trên bình diện ngôn ngữ học so sánh - đối chiếu. Bằng việc kết hợp các phương pháp miêu tả, ngôn ngữ học xã hội, dịch thuật học đối chiếu và phân tích âm học thực nghiệm Praat, luận án đã làm rõ bản chất ngữ pháp biệt lập của thán từ, chứng minh tính đặc thù thanh điệu siêu đoạn tính và sự phân hóa thán từ theo biến số giới tính, ngữ cảnh. Công trình đã xác lập danh mục 56 thán từ chuẩn cho mỗi ngôn ngữ và xây dựng hệ thống 4 phương thức chuyển dịch cùng bảng gợi ý dịch 18 nhóm thán từ Hán - Việt, cung cấp nguồn tư liệu học thuật phục vụ hiệu quả cho lý luận từ loại, thực hành dịch thuật và giảng dạy ngôn ngữ.