CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Khái quát chung về Tiếng Việt và Tiếng Hàn 1. Khái quát chung về tiếng Việt Theo Dẫn luận Ngôn ngữ học (Nguyễn Thiện Giáp, 1998), tiếng Việt là một ngôn ngữ đơn lập. Đặc điểm chính của loại hình này là: - Từ không biến đổi hình thái.
Hình thái của từ tự nó không chỉ ra mối quan hệ giữa các từ ở trong câu, không chỉ ra chức năng cú pháp của các từ. Qua hình thái, tất cả các từ dường như không có quan hệ với nhau, chúng thường đứng ở trong câu tương tự như đứng biệt lập một mình. Chính xuất phát từ đặc điểm này mà người ta gọi loại hình này là "đơn lập". - Quan hệ ngữ pháp và ý nghĩa ngữ pháp được biểu thị chủ yếu bằng hư từ và trật tự từ.
Ví dụ: + Dùng hư từ: cuốn vở - những cuốn vở đọc - sẽ đọc - đã đọc - đang đọc + Dùng trật tự từ: cửa trước- trước cửa cả nước - nước cả nhà nước - nước nhà - Tính phân tiết. Trong các ngôn ngữ này, các từ đơn tiết làm thành hạt nhân cơ bản của từ vựng. Phần lớn những đơn vị được gọi là từ ghép, từ phái sinh được cấu tạo từ các từ đơn tiết này. Vì thế, ranh giới các âm tiết thường trùng với ranh giới các hình vị, hình vị không phân biệt với từ và do đó ranh giới giữa đơn vị gọi là từ ghép và cụm từ cũng khó phân biệt.
- Những từ có ý nghĩa đối tượng, tính chất, hành động… không phân biệt với nhau về mặt cấu trúc. Tất cả đều được diễn đạt bằng các từ không biến đổi. Ví dụ: cưa - dụng cụ để xẻ gỗ cưa - hành động xẻ gỗ Chính vì vậy, một số nhà ngôn ngữ học cho rằng trong các ngôn ngữ đơn lập không có cái gọi là "các từ loại" 8 - Trật tự từ thông dụng nhất trong tiếng Việt là chủ ngữ - vị ngữ - bổ ngữ. CN VN BN + Mẹ đọc sách.
CN VN BN + Em mặc áo. CN VN BN Nói tóm lại, các quan hệ ngữ pháp trong tiếng Việt được thể hiện chủ yếu thông qua hệ thống hư từ và cách sắp xếp trật tự từ trong câu. Khái quát chung về tiếng Hàn Tiếng Hàn là ngôn ngữ chắp dính. Đặc điểm chính của loại hình này là: - Sử dụng rộng rãi các phụ tố để cấu tạo từ và biểu thị những mối quan hệ khác nhau.
Nhưng khác với các ngôn ngữ hoà kết, hình vị trong các ngôn ngữ chắp dính có tính độc lập lớn và mối liên hệ giữa các hình vị không chặt chẽ. Chính tố có thể hoạt động độc lập. Ví dụ: 한국 사람 - 한국 사람들 người Hàn - những người Hàn 책 - 책들 quyển sách - những quyển sách - Từ biến đổi hình thái. Hình thái của từ chỉ ra mối quan hệ giữa các từ ở trong câu, chỉ ra chức năng cú pháp của các từ.
Qua hình thái, tất cả các từ trong câu dường như có quan hệ chặt chẽ với nhau. Chính xuất phát từ đặc điểm này mà người ta gọi loại hình này là "chắp dính". Mỗi phụ tố trong các ngôn ngữ chắp dính chỉ biểu thị một ý nghĩa ngữ pháp, ngược lại, mỗi ý nghĩa ngữ pháp chỉ được biểu thị bằng một phụ tố [quan hệ 1–1]. Ví dụ: 먹다 + 았/었어요 ➔ 먹었어요.
(ăn) (thì quá khứ) (đã ăn) 먹다 + 아/어요 ➔ 먹어요. (ăn) (thì hiện tại) (đang ăn) 먹다 + 겠어요 ➔ 먹겠어요. (ăn) (thì tương lai) (sẽ ăn) 9 - Ngoài ra, sau các danh từ trong tiếng Hàn thường có các tiểu từ (hay còn gọi là trợ từ) biểu thị các ý nghĩa ngữ pháp về cách, ý nghĩa chức năng của danh từ đó trong câu. Ví dụ: + Trợ từ biểu thị chủ ngữ: 은/는, 이/가, 께서, 께서는 + Trợ từ biểu thị tân ngữ: 을/를 + Trợ từ chỉ tặng cách: 에게, 한테, 께 + Trợ từ chỉ nơi chốn, thời gian: 에, 에서, 부터, 까지 + Trợ từ chỉ công cụ, cách thức, phương pháp: (으)로 - Những từ có ý nghĩa đối tượng, tính chất, hành động… phân biệt với nhau về mặt cấu trúc.
Tất cả đều được diễn đạt bằng các từ biến đổi hình thái. Ví dụ: 자다 (ngủ- động từ); 잠 (giấc ngủ- danh từ) 그리다 (vẽ- động từ); 그림 (bức tranh- danh từ) 예쁘다 (đẹp-tính từ); 예쁘게 (đẹp- trạng từ) 재미있다 (thú vị- tính từ); 재미있게 (thú vị- trạng từ) Chính vì vậy, một số nhà ngôn ngữ học cho rằng trong các ngôn ngữ chắp dính có "các từ loại" - Trật tự từ thông dụng nhất trong tiếng Hàn là chủ ngữ - tân ngữ - vị ngữ. Ví dụ: 저는 밥을 먹는다. CN TN VN 어머니는 책을 읽는다.
CN TN VN 동생은 옷을 입는다. CN TN VN 1. Khái niệm và phân loại câu 1. Khái niệm câu Vấn đề định nghĩa câu và phân loại câu có khá nhiều quan điểm khác nhau từ các nhà ngữ pháp Việt Nam và Hàn Quốc, phụ thuộc vào góc nhìn của nhà nghiên cứu, vào mục đích nghiên cứu và giảng dạy cũng như học tập ngữ pháp.
Dưới đây là một số định nghĩa của các nhà ngôn ngữ học Việt Nam. Theo Diệp Quang Ban: “Câu (hay cú) là đơn vị lớn nhất của mặt cấu trúc trong tổ chức ngữ pháp của một ngôn ngữ, được làm thành từ một khúc đoạn ngôn ngữ tập trung chung quanh một vị tố, và được dùng để diễn đạt một 10 sự thể (hay một sự việc)” (Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Giáo dục, 2005, tr. Theo Nguyễn Thiện Giáp “Câu là đơn vị nhỏ nhất có khả năng thông báo một sự việc, một ý kiến, một tình cảm hoặc một cảm xúc” (Dẫn luận ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục, tái bản năm 2010, tr. Ngoài ra, Diệp Quang Ban dựa vào bốn tiêu chí: hình thức, nội dung, chức năng và lĩnh vực nghiên cứu đã nêu lên định nghĩa về câu như sau: “Câu là đơn vị của nghiên cứu ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp (bên trong và bên ngoài) tự lập và ngữ điệu kết thúc, mang một ý nghĩa tương đối trọn vẹn hay thái độ, sự đánh giá của người nói, giúp hình thành và biểu hiện truyền đạt tư tưởng, tình cảm.
Câu đồng thời là đơn vị thông báo nhỏ nhất bằng ngôn ngữ.” (Ngữ pháp tiếng Việt - tập 2, Nxb Giáo dục, tái bản năm 2012, tr. Các phương pháp phân loại câu 1. Phân loại câu theo cấu tạo Mặc dù có rất nhiều nhà ngữ pháp quan niệm khác nhau về phân loại câu theo cấu trúc cú pháp nhưng luận văn chỉ dựa vào quan điểm của Diệp Quang Ban trong Giáo trình Ngữ pháp tiếng Việt (theo định hướng ngữ pháp chức năng), Tập Hai: Phần Câu 2008, NXB Giáo dục. Theo Diệp Quang Ban (sách đã dẫn 2008, tr.10-77), câu được chia thành: câu đơn, câu phức,câu ghép.
Câu đơn có thể có thành phần trạng ngữ chỉ thời gian, không gian đi kèm với cấu trúc cơ sở tạo thành cấu trúc cú pháp của câu đơn. Câu đơn có thể chia thành: (1.1) Câu đơn hai thành phần bình thường (là câu đơn có đủ cả chủ ngữ và vị ngữ, và có thể không có trạng ngữ) Ví dụ: Cấu trúc cơ sở của câu Hôm nay bọn trẻ học toán Trạng ngữ Chủ ngữ Vị ngữ Bổ ngữ (TrN) (CN) (VN) (BN) Cấu trúc cú pháp của câu (1.2) Câu đơn một thành phần (là câu đơn chỉ có một bộ phận vị ngữ, câu đơn không chủ ngữ) Ví dụ: + Trên bàn có hai loại hoa.3) Câu (đơn) tỉnh lược/ đặc biệt (là câu không phân định thành phần) Ví dụ: + Bước vào khỏi cổng thôn Đoài, (ø) đã thấy nhà ông Nghị Quế. Cả tiếng cười (ø). (Nam Cao) (2) Câu phức có hai hoặc hơn hai cụm chủ - vị nhưng trong số đó chỉ có một cụm chủ - vị “nằm ngoài cùng” bao hàm các cụm chủ - vị còn lại, các cụm chủ - vị còn lại được coi là bị bao hàm trong cụm chủ - vị nằm ngoài cùng đó.1) Câu phức có chủ ngữ là cụm chủ-vị Ví dụ: + Chuột chạy làm vỡ đèn.2) Câu phức có vị ngữ là cụm chủ - vị Ví dụ: + Thứ vải này mỗi mét (là) mười ngàn đồng.3) Câu phức có bổ ngữ là cụm chủ - vị Ví dụ: + Bọn trẻ đang xem hai con gà chọi nhau.4) Câu phức có đề ngữ là cụm chủ - vị Ví dụ: + Cuộc sống trong chiến tranh khó khăn thế nào, thanh niên thời bình ít hình dung được.5) Câu phức có trạng ngữ là cụm chủ - vị Ví dụ: + Mắt đeo kính trắng, người đàn ông nhìn về phía cổng trường.6) Câu phức là câu bị động Ví dụ: + Thuyền được (người lái) đẩy ra xa.7) Câu phức có yếu tố phụ miêu tả của danh từ là cụm chủ - vị Ví dụ: + Con mèo Giáp mua chạy mất rồi.
(3) Câu ghép là câu chứa hai hoặc hơn hai cụm chủ - vị, trong số đó không cụm chủ - vị nào bao hàm cụm chủ - vị nào.1) Câu ghép chính phụ Ví dụ: + Nhờ thời tiết tốt mà mùa màng bội thu. + Nếu mai trời không mưa, mình sẽ đến cậu chơi.2) Câu ghép đẳng lập Ví dụ: + Một người đọc và ba người ghi. + Họ vừa đi vừa hát. + Trời quang mây, trăng trong và lạnh.3) Câu ghép chứa lời dẫn Ví dụ: + Giáp nói (rằng): “Mai tôi đi Đà Lạt”.
+ Giáp nói rằng mai anh ấy đi Đà Lạt. Phân loại câu theo mục đích phát ngôn Theo Diệp Quang Ban (sách đã dẫn 2008, tr.112-116), câu xét theo mục đích nói được chia thành 4 kiểu câu như sau: câu trình bày (câu tường thuật), câu nghi vấn, câu cầu khiến (câu mệnh lệnh), câu cảm thán. (1) Câu tường thuật là câu có chức năng diễn giải, diễn đạt niềm tin của người nói, được dùng để kể, mô tả một vật, việc, hiện tượng, để nhận định, xác nhận, dùng trong quá trình suy nghĩ. + Ngày mai là một ngày vui sướng của đồng bào ta.
(Hồ Chí Minh) (2) Câu nghi vấn là câu có chức năng hỏi, tức là người nói muốn người nghe cung cấp cho mình điều mà mình chưa biết hoặc còn hoài nghi. Ví dụ: + Ai ngồi đằng kia vậy? + Có Giáp ở nhà không đấy? + Giáp chưa đến? (3) Câu cầu khiến có chức năng điều khiển, tức là người nói muốn nghe thực hiện việc được nêu lên trong câu (nội dung lệnh) trong tương lai. Ví dụ: + Anh hãy ngồi xuống đây đã! (4) Câu cảm thán có chức năng diễn đạt một mức độ nhất định của cảm xúc, tâm trạng khác thường, thái độ, cách đánh giá của người nói đối với vật, việc, hiện tượng được nêu ra trong câu với tư cách là nguyên nhân của sự cảm thán. Ví dụ: + Chán ơi là chán!