Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính: 1.1 Đại cương về bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính(Acute Respiratory Infections- ARI) là một bệnh nhiễm khuẩn cấp tính đường hô hấp bắt đầu từ mũi, họng đến thanh quản, khí quản, phế quản, phổi. Dựa vào vị trí các đoạn của bộ phận hô hấp, người ta phân chia ra đường hô hấp trên và đường hô hấp dưới. Phần lớn NKHHCT ở trẻ em là nhiễm khuẩn hô hấp trên (2/3 trường hợp) như ho, cảm lạnh, viêm họng, viêm mũi , viêm V.A, viêm amydale, viêm xoang, viêm tai giữa … nhiễm khuẩn hô hấp trên thường nhẹ, còn nhiễm khuẩn hô hấp dưới tỉ lệ ít hơn (1/3 trường hợp) nhưng thường là nặng, dễ tử vong như viêm thanh quản, viêm thanh khí - phế quản, viêm tiểu phế quản, viêm phổi, đặc biệt là viêm phổi cấp tính ở trẻ nhỏ có tỉ lệ tử vong cao nhất, vì vậy cần phải được theo dõi và phát hiện sớm để điều trị kịp thời [ 2],[20].2 Phân loại và xử trí a) Theo vị trí tổn thương (vị trí giải phẩu học) * Viêm đường hô hấp trên: - Cảm lạnh( Viêm long đường hô hấp trên).
- Viêm VA -Viêm tai giữa. * Viêm đường hô hấp dưới: -Viêm thanh quản. -Viêm thanh – khí quản. Downloaded by MAI ??I CÁT (maingoc0911.com) lOMoARcPSD|18351890 4 -Viêm phế quản.
-Viêm tiểu phế quản. -Viêm phổi b) Phân loại theo mức độ nặng nhẹ: -Không viêm phổi. -Viêm phổi nặng. -Bệnh rất nặng[2] Đặc điểm lâm sàng thường gặp và chẩn đoán sớm NKHHCT ở trẻ em Dựa vào các dấu hiệu lâm sàng thường gặp tại Việt Nam: Các dấu hiệu đó là: ho, thở nhanh, rút lõm lồng ngực, ran ẩm nhỏ hạt, sốt, khò khè, cánh mũi phập phồng.
Thông thường dựa vào dấu hiệu: ho,thở nhanh và co rút lồng ngực là 3 dấu hiệu cơ bản để phát hiện sớm và dể dàng mức độ NKHHCT ở trẻ em và ở cộng đồng. - Ho là dấu hiệu có sớm của NKHH khi đường thở bị viêm nhiễm -Thở nhanh: + Do hiện tượng thiếu O2 khi phổi bị viêm, bị mất tính đàn hồi dãn nở, tính mềm mại + Chức năng trao đổi khí bị giảm sút + Trẻ phải tăng nhịp thở để đảm bảo đủ lượng O2 cung cấp cho cơ thể. Phác đồ xử trí trẻ ho hoặc khó thở ở trẻ em của chương trình NKHHCT(ARI) và Xử trí lồng ghép trẻ bị bệnh(IMCI) dùng cho cán bộ y tế, đặc biệt dành cho tuyến y tế cơ sở được thiết kế chủ yếu dựa trên hỏi bệnh, quan sát trẻ, đo nhiệt độ mà không đòi hỏi nhiều về kiến thức chuyên môn và kỹ thuật chuyên môn khám điều trị bệnh. Điều này phù hợp với mạng lưới y tế cơ sở còn yếu về chuyên môn dễ dàng nhận định đánh giá trẻ bệnh, đồng Downloaded by MAI ??I CÁT (maingoc0911.com) lOMoARcPSD|18351890 5 thời cán bộ y tế có thể hướng dẫn người mẹ có thể tự phát hiện và theo dõi trẻ bệnh giúp trẻ đến cơ sở y tế kịp thời hạn chế bệnh nặng và tử vong.
Trên cơ sở đó chương trình chia làm 2 nhóm dấu hiệu dựa trên đặc điểm của trẻ theo nhóm tuổi như sau[2],[20]: 1. Nhóm trẻ từ 2 tháng tuổi đến 5 tuổi a. Bệnh rất nặng hoặc viêm phổi rất nặng - Dấu hiệu: trẻ có một trong các dấu hiệu nguy kịch sau + Không uống được + Co giật + Ngủ li bì hay khó đánh thức + Thở rít khi nằm yên + Suy dinh dưỡng nặng. - Xử trí + Chuyển đi bệnh viện ngay.
+ Dùng 1 liều kháng sinh đầu tiên + Điều trị sốt (nếu có) + Điều trị khò khè (nếu có ) + Nếu nghi ngờ sốt rét, dùng thuốc chống sốt rét. Viêm phổi nặng - Dấu hiệu: + Rút lõm lồng ngực + Không có 1 trong 5 dấu hiệu nguy kịch - Xử trí + Chuyển ngay đến bệnh viện + Dùng 1 liều kháng sinh đầu tiên + Điều trị sốt (nếu có) + Điều trị khò khè (nếu có ) Downloaded by MAI ??I CÁT (maingoc0911.com) lOMoARcPSD|18351890 6 Nếu không có điều kiện chuyển vịên thì điều trị bằng kháng sinh và theo dõi chặt chẽ. Viêm phổi - Dấu hiệu + Không rút lõm lồng ngực và 1 trong 5 dấu hiệu nguy kịch + Thở nhanh theo độ tuổi - Xử trí: + Dùng kháng sinh tại nhà + Hướng dẫn bà mẹ chăm sóc trẻ tại nhà. + Điều trị sốt (nếu có) + Điều trị khò khè (nếu có ) + Hẹn tái khám lại sau 2 ngày nếu: * Trẻ ốm nặng hơn : Không uống được, rút lõm lồng ngực, có một trong các dấu hiệu nguy kịch thì chuyển ngay đến Bệnh viện * Trẻ không đỡ : Khi tình trạng bệnh của trẻ không thay đổi, nhịp thở không giảm.
Tiến hành đổi kháng sinh hoặc chuyển trẻ lên bệnh viện. * Trẻ đỡ bệnh: Biểu hiện trẻ đỡ sốt, nhịp thở chậm hơn, ăn ngủ và chơi tốt, thực hiện tiếp tục dùng kháng sinh cho trẻ đủ 5 ngày d. Không viêm phổi (ho hoặc cảm lạnh) - Dấu hiệu : + Ho, cảm lạnh, chảy nước mũi, hoặc nghẹt mũi + Không rút lõm lồng ngực + Không thở nhanh + Không có bất kỳ dấu hiệu nguy hiểm nào. + Điều trị sốt (nếu có) + Điều trị thở khò khè (nếu có) + Nếu ho trên 30 ngày, chuyển đến bệnh viện để chẩn đoán Downloaded by MAI ??I CÁT (maingoc0911.com) lOMoARcPSD|18351890 7 + Điều trị viêm tai, viêm họng (nếu có) + Khám và chữa các bệnh khác (nếu có) + Hướng dẫn bà mẹ chăm sóc tại nhà 1.
Trẻ dưới 2 tháng tuổi a. Bệnh rất nặng hoặc viêm phổi rất nặng - Dấu hiệu: Có một trong các dấu hiệu nguy kịch dưới đây + Co giật + Ngủ li bì khó đánh thức. + Thở rít lúc nằm yên + Bú kém, hoặc bỏ bú + Thở khò khè + Sốt hoặc hạ thân nhiệt. - Xử trí + Chuyển ngay đến bệnh viện + Giữ ấm cho trẻ + Dùng ngay một liều kháng sinh b.
Viêm phổi nặng - Dấu hiệu + Rút lõm lồng ngực nặng + Thở nhanh hơn 60 lần/ phút - Xử trí + Chuyển ngay đến bệnh viện + Giữ ấm cho trẻ + Dùng ngay 1 liều kháng sinh đầu tiên Nếu không có điều kiện chuyển trẻ đến bệnh viện thì phải điều trị cho trẻ bằng kháng sinh và theo dõi chặt chẽ. Không viêm phổi (ho hoặc cảm lạnh) - Dấu hiệu Downloaded by MAI ??I CÁT (maingoc0911.com) lOMoARcPSD|18351890 8 + Ho, không thở nhanh ( dưới 60 lần / phút), không rút lõm lồng ngực nặng, không có dấu hiệu nguy kịch nào khác. - Xử trí Hướng dẫn bà mẹ chăm sóc trẻ tại nhà. + Giữ ấm trẻ + Cho trẻ bú nhiều lần hơn + Làm sạch thông mũi để trẻ dễ bú Hướng dẫn bà mẹ theo dõi những dấu hiệu để đưa trẻ đi khám lại: + Khó thở hơn.
+ Thở nhanh hơn + Bú kém hơn, bỏ bú + Trẻ mệt hơn. Hướng dẫn bà mẹ chăm sóc trẻ bị NKHHCT Giúp cho bà mẹ biết được tình trạng bệnh của con mình, hiểu được cách chăm sóc, theo dõi tại nhà và làm đúng theo những hướng dẫn của cán bộ y tế như cách cho trẻ uống thuốc, cách cho trẻ bú, ăn, uống ra sao, cần theo dõi những dấu hiệu lệnh như thế nào để nếu có cần chuyển tới cơ sở y tế kịp thời. Mục đích cuối cùng là giúp trẻ nhanh chóng bình phục sức khỏe 1. Nguyên nhân Nguyên nhân gây NKHHCT ở trẻ em chủ yếu là virus và vi khuẩn.
Phần lớn NKHHCT ở trẻ (đặc biệt là NKHH trên) thường là các virus. Ở các nước đang phát triển, virut vẫn là nguyên nhân quan trọng gây nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em. Các virus thường gây NKHHCT được xếp theo thứ tự. - Virus respiratory syncitial - Virus Influenzae - Virus Parainfluenzae - Virus Sởi Downloaded by MAI ??I CÁT (maingoc0911.com) lOMoARcPSD|18351890 9 - Virus Adeno - Virus Rhino - Virus Entero - Virus Corona Các loại vi khuẩn thường gây NKHHCT ở trẻ em xếp theo thứ tự sau: - Hemophilus Influenzae - Streptococcus pneumoniae - Bordetella pertussis - Klebsiella trachomatis - Các vi khuẩn khác.
Các nguyên nhân như nấm, ký sinh trùng… ít gặp hơn.Dịch tễ học bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp Theo số liệu của Tổ chức y tế thế giới, tại các nước đang phát triển tần suất mắc NKHHCT ở trẻ từ 5-7 lần/ trẻ / năm khu vực thành thị mắc cao hơn nông thôn, mỗi năm có trên 3 triệu trẻ em dưới 5 tuổi chết do nhiễm khuẩn hô hấp, chiếm 30% trong số tử vong của trẻ và 90% trẻ tử vong dưới 12 tháng tuổi. Tại Việt Nam các số liệu điều tra nghiên cứu đều cho thấy nhiễm khuẩn hô hấp cũng là nguyên nhân mắc bệnh và tử vong cao ở trẻ em, 40 – 60% trẻ dưới 5 tuổi tử vong tại bệnh viện, trong đó chủ yếu là trẻ dưới 1 tuổi. Tỉ lệ mắc NKHHCT thay đổi theo mùa trong năm. Ở vùng nhiệt đới, tỷ lệ NKHHCT cho vào những tháng mùa mưa còn vùng ôn đới thì cao vào những tháng mùa đông, có 30-60% các bệnh như đến khám và điều trị ngoại trú là do NKHHCT [18].
Các yếu tố nguy cơ liên quan đến mắc và tử vong do NKHHCT Đã có nhiều công trình nghiên cứu ở trong nước và ngoài nước về dịch tể học, nguyên nhân gây bệnh, lâm sàng và điều trị NKHHCT, đặc biệt là trong viêm phổi tại bệnh viện cũng như tại cộng đồng. Downloaded by MAI ??I CÁT (maingoc0911.com) lOMoARcPSD|18351890 10 Phân tích chi tiết các yếu tố nguy cơ gây NKHHCT thường gặp gồm - Suy dinh dưỡng , đặc biệt là do thiếu sữa mẹ. - Trẻ sinh nhẹ cân dưới 2500g. - Sự trú ngụ của vi khuẩn gây bệnh ở họng.
- Nơi ở chật hẹp đông đúc. - Tiếp xúc với khí hậu lạnh. - Thiếu Vitamin A và tiêm chủng không đầy đủ. - Tiếp xúc với không khí ở nhiễm trong nhà.
- Khói bếp, chất đốt. - Đời sống kinh tế xã hội thấp ,thu nhập gia đình thấp. Ở Việt Nam theo tổng kết và đánh giá năm 1993 của chương trình phòng chống NKHHCT đã đưa ra 2 lý do chính khiến cho trẻ bị viêm phổi tử vong là trẻ không được đến cơ sở y tế kịp thời và trẻ không được điều trị đúng đắn. Trên cơ sở đó, các nội dung hoạt động chủ yếu của chương trình phù hợp theo khuyến cáo của tổ chức y tế thế giới là[2],[20]: - Giáo dục kiến thức cho bà mẹ (phát hiện sớm khám kịp thời).
- Huấn luyện cán bộ y tế cơ sở (phần lớn là xử trí chăm sóc đúng). - Cung cấp thuốc phù hợp và hiệu quả để điều trị viêm phổi. Tình hình NKHHCT ở địa phương 1.