chương 1. Khái niệm ngôn ngữ văn chương Về khái niệm ngôn ngữ, tác giả Bùi Minh Toán đưa ra quan niệm: “ngôn ngữ vẫn được dùng và quan niệm là tiếng nói của con người (có thể ở dạng nói hay dạng viết) dùng để con người tư duy, giao tiếp và sáng tạo nghệ thuật”[ 41, 12]. Ngôn ngữ văn chương hay còn gọi là ngôn ngữ văn học, ngôn ngữ nghệ thuật, là ngôn ngữ chủ yếu dùng trong các tác phẩm văn chương. Nó không chỉ có chức năng thông tin mà còn thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của con người.
Đó là thứ ngôn ngữ được tổ chức, sắp xếp, lựa chọn, tinh luyện từ ngôn ngữ thông thường và đạt được giá trị nghệ thuật - thẩm mĩ rất cao. Đặc trưng của ngôn ngữ văn chương Ngôn ngữ với tư cách là chất liệu của nghệ thuật văn chương, có những đặc điểm cơ bản sau: 1. Tính phổ biến, toàn dân Như chúng ta đều biết, ngôn ngữ là một công cụ mang tính toàn dân, phổ cập cao. Mọi người, không phân biệt lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp, dân tộc… đều sử dụng ngôn ngữ làm phương tiện giao tiếp, tư duy, nhận thức… hàng ngày của mình.
Đó là tài sản chung của xã hội và ai cũng có khả năng sở hữu. Sử dụng ngôn ngữ làm chất liệu xây dựng tác phẩm văn chương, ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương cũng mang đặc tính phổ biến, toàn dân. Do vậy, văn chương dễ đến với mọi người, dễ lĩnh hội và sáng tạo, dĩ nhiên là ở mức độ khác nhau. Những người bình dân có thể sáng tác ra tác phẩm văn học.
Kho tàng văn học dân gian là một minh chứng cho điều đó. Một tác phẩm uyên bác, đạt đỉnh cao nghệ thuật như Truyện Kiều của Nguyễn Du nhưng những người bình dân (dù không biết chữ) vẫn có thể thuộc. Chất liệu ngôn ngữ đi vào tác phẩm văn chương đều được chọn lọc, tinh luyện. Tuy nhiên, điều quan trọng là chất liệu ngôn ngữ được tinh luyện hoặc 13 biến đổi theo chính những quy tắc, phương thức trong ngôn ngữ hàng ngày.
Trong nhiều tác phẩm, ngôn ngữ văn chương hầu như không có sự cách biệt với ngôn ngữ đời thường, mà vẫn đạt giá trị nghệ thuật cao. Chẳng hạn, trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã khéo léo vận dụng ngôn ngữ của nhân dân: “Con kia đã bán cho ta, ( 971) Nhập gia thì cứ phép nhà tao đây. Lão kia có giở bài bây, Chẳng văng vào mặt mà mày lại nghe Cớ sao chịu tốt một bề, Gái tơ mà đã ngứa nghề gớm sao.” ( 976) Đây chính là lời của Tú Bà nguyền rủa, đay nghiến, sỉ nhục Thúy Kiều. Cái cách gọi con kia, lão kia, mày - tao, cái cách nói “bài bây”, “văng vào mặt”, ‘gái tơ”, “ngứa nghề” nó thực đời thường.
Và điều quan trọng, nó lột tả thật chân thực, thật sinh động bản tính của Tú Bà, vốn là chủ nhà chứa, là gái “làng chơi đã trở về già hết duyên”: nó mới ngoa ngoắt, tục tĩu làm sao! Xuân Diệu đã bình: “Trời ơi, cái con hổ cái. Nó nói chưa đầy nửa phút mà nước bọt của nó văng mãi đến ngàn năm. Nó nói tưởng như đến rách cả trang giấy Truyện Kiều”[7, 30]. Nhờ tính toàn dân, tính phổ biến của ngôn ngữ khiến nghệ thuật văn chương trở thành loại hình nghệ thuật gần gũi với mọi người và mang tính quần chúng rất cao.
Điều này tạo ra sự khác biệt với các loại hình nghệ thuật khác. Chỉ có một số người mới có thể sử dụng chất liệu của các loại hình nghệ thuật khác để tạo thành tác phẩm. Chẳng hạn, không phải ai cũng có thể dùng màu để vẽ tranh, dùng chất liệu đá, đồng, thạch cao.để tạo ra những bức tượng, hoặc sử dụng những nốt nhạc để sáng tác ra tác phẩm âm nhạc,. Hay nói khác đi, để có thể sáng tạo, lĩnh hội, cảm thụ tác phẩm của các ngành nghệ thuật khác, cần phải có những điều kiện nhất định.
Ngôn ngữ có tính dân tộc Chất liệu ngôn ngữ so với chất liệu của các loại hình nghệ thuật khác nổi bật ở tính dân tộc. Ngôn ngữ là một trong những đặc trưng rất riêng của mỗi dân tộc. Xtalin đã định nghĩa: Dân tộc là khối cộng đồng người ổn định, hình thành trong lịch sử, dựa trên cơ sở cộng đồng về tiếng nói, về lãnh thổ, về sinh hoạt kinh tế và về hình thành tâm lý, biểu hiện trong cộng đồng về văn hóa. Dân tộc nào cũng có ngôn ngữ của riêng mình.
Ngôn ngữ là linh hồn của một dân tộc. Bản sắc dân tộc của ngôn ngữ thấm đẫm và hòa tan trong toàn bộ cơ cấu của ngôn ngữ. Tác giả Bùi Minh Toán đã dẫn lời của W. Humboldt: “Ngôn ngữ của một dân tộc chính là linh hồn của dân tộc đó, linh hồn của một dân tộc chính là ngôn ngữ của dân tộc đó”[41, 37].
Tính dân tộc của ngôn ngữ thể hiện ở tất cả các bộ phận cấu thành của nó và ở cái cách mà mỗi dân tộc sử dụng ngôn ngữ. Chẳng hạn, trong tiếng Việt, thành phần tình thái từ như à, ư, nhỉ, nhé,. là rất đặc trưng, mà các ngôn ngữ khác trên thế giới không có. Hay cái cách mà người Việt sử dụng câu hỏi để chào nên đã tạo từ ghép chào hỏi,… Hoặc, dân tộc tính còn là ở phương diện ngữ pháp.
Sự khu biệt giữa tiếng Việt phân tiết tính với phạm trù tổng hợp tính (Anh, Pháp, Nga,.) khác nhau về giống, số, cách. Sự thay đổi trật tự từ trong ngôn ngữ, với tiếng Việt làm thay đổi nội dung thông báo; nhưng sự thay đổi trật tự trong ngôn ngữ tổng hợp tính không làm thay đổi nội dung ngữ nghĩa. Cũng như vậy, hệ thống ngôn ngữ tiếng Việt cũng có những từ mang nghĩa riêng mà từ trong ngôn ngữ các dân tộc khác không có, đó chính là hệ thống ngữ nghĩa của nó. Tính dân tộc của ngôn ngữ đem đến một hệ quả: chất liệu văn chương vì vậy cũng mang tính dân tộc sâu sắc.
Trong khi đó, nếu so sánh với nhiều loại hình nghệ thuật khác, thì những chất liệu ấy không mang tính dân tộc. Những chất liệu “đồng, thạch cao, nốt nhạc, màu sắc”,. ở dân tộc nào cũng đều mang những đặc tính giống nhau, không có gì khu biệt, nghĩa là không mang 15 tính dân tộc. Người ta có thể mang một bức tượng đồng, một bức tranh từ nước này sang nước khác mà không phải nặn lại, vẽ lại.
Nhưng, một tác phẩm văn chương, muốn chuyển từ nước này sang nước khác phải thông qua dịch thuật. Mà đã dịch thuật chuyển nghĩa thì có thể làm thay đổi ít nhiều giá trị của tác phẩm (có thể hay hơn hoặc giảm bớt đi giá trị tác phẩm). Bởi vì mỗi tác phẩm văn chương, bên cạnh hệ thống ngữ nghĩa, ngữ âm, từ vựng còn phải gắn với ngữ cảnh, thời đại văn học. Đặc biệt hệ thống ngữ âm và thanh điệu của tiếng Việt rất giàu có, tạo ra sự trầm bổng.
Điều này đã “làm khó” người nước ngoài khi họ học tiếng Việt Nam. Tín hiệu ngôn ngữ là tín hiệu mang nghĩa Các chất liệu của các ngành nghệ thuật khác như đồng, thạch cao,… bản thân nó không mang nghĩa. Nghệ thuật múa lấy vóc dáng cơ thể, động tác, các bộ phận cơ thể để xây dựng các điệu múa, nhưng bản thân các động tác hay bộ phận cơ thể này không mang nghĩa. Còn chất liệu ngôn ngữ là một chất liệu chứa đựng nội dung, ý nghĩa.
Ngôn ngữ khi được sử dụng để sáng tạo nghệ thuật đã là một phương tiện để biểu hiện ý nghĩa. Mỗi tín hiệu ngôn ngữ luôn luôn có hai mặt hình thức và nội dung. Chẳng hạn, trong bài thơ Tây tiến, Quang Dũng viết: “Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm”. Khi đọc câu thơ ta có thể hình dung ra con đường hành quân của người lính: gập ghềnh, lồi lõm, nhấp nhô.
Khi tách từng từ trong câu thơ, bản thân các từ đó đều mang nghĩa. Thậm chí, đối với câu thơ này, ngay cả thanh điệu cũng mang nghĩa. Câu thơ sử dụng nhiều thanh trắc, ta như cảm nhận được sự trúc trắc trong bước đi, hơi thở nhọc nhằn, khó khăn của người lính. Điều đáng nói, không có một nội dung, một khái niệm nào mà ngôn ngữ không biểu đạt được.
Từ những rung động tinh vi nhất của đời sống tình cảm, những khó khăn, phức tạp của vấn đề triết học, những điều tế nhị, “khó nói”. ngôn ngữ đều có thể biểu đạt được. Chẳng hạn, trong Truyện Kiều, thi hào Nguyễn Du viết: 16 “Biết bao bướm lả ong lơi, ( 1229) Cuộc say đầy tháng trận cười suốt đêm. Dập dìu lá gió cành chim, Sớm đưa Tống Ngọc, tối tìm Trường Khanh”.
( 1232) Đoạn thơ miêu tả cảnh sống ê chề, đau đớn, nhục nhã của Thúy Kiều khi phải tiếp khách làng chơi ở chốn lầu xanh. Nếu phải dùng ngôn ngữ thông thường, sẽ rất khó khăn để diễn đạt, thậm chí phải sử dụng ngôn ngữ “thô lỗ” mới có thể diễn đạt được. Khi ngôn ngữ chuyển nghĩa, khả năng biểu đạt của nó càng lớn hơn. Ưu thế này tạo ra tính đa nghĩa trong văn chương.
Nguyệt Cầm của Xuân Diệu là một minh chứng sống động: “Đàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân” Nhờ phương thức ẩn dụ chuyển đổi cảm giác (âm thanh tiếng đàn được chuyển hóa thành “giọt”), Xuân Diệu đã đưa người đọc vào một thế giới huyền diệu, đánh thức những cảm quan nghệ thuật của nhạc và của thơ. Có thể nói, từ nội dung trừu tượng, khái quát của lí trí trong khoa học đến những nội dung rất tế nhị trong thế giới vi mô, trong thế giới tình cảm phức tạp của con người thì ngôn ngữ đều tìm đến một cách biểu đạt có hiệu quả. Khả năng biểu hiện của ngôn ngữ là không giới hạn. Đó chính là sự kì diệu của ngôn ngữ mà không phải bất cứ chất liệu nghệ thuật nào cũng có được.
Saussure, quan hệ hai mặt của tín hiệu ngôn ngữ: Cái biểu hiện và cái được biểu hiện không có lý do, nghĩa là không có mối quan hệ tất yếu, giữa hai mặt này chỉ có mối quan hệ do quy ước của xã hội, do vậy ngôn ngữ mang tính võ đoán. Trong thực tế, tính võ đoán có nhiểu mức độ biểu hiện khác nhau, mức độ cao nhất là những từ thuộc lớp từ vựng cơ bản. Mức độ thấp là các thán từ 17 - những từ ghi lại âm thanh mà con người phát ra khi muốn bộc lộ một cảm xúc nào đó: a, ô, ái chà,.