mở đầu, phần thân, phần kết. Đặc biệt đối với văn bản hành chính-công vụ thì những yêu cầu này càng khắt khe hơn, đòi hỏi cao hơn về thể thức văn bản và cần phải hướng nội dung đến một mục tiêu nhất định. Như vậy, có thể nói, sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ 9 tạo nên văn bản. Văn bản là sự tập hợp của các câu có tính trọn vẹn và hoàn chỉnh về nội dung và hình thức, có tính liên kết mạch lạc và hướng tới những mục đích truyền đạt thông tin nhất định.
b) Khái niệm văn bản hành chính-công vụ Văn bản hành chính-công vụ là loại văn bản chứa đựng các thông tin quản lý, điều hành mang tính áp dụng pháp luật, được cơ quan quản lý hành chính nhà nước, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền soạn thảo, ban hành nhằm mục đích giải quyết những công việc cụ thể, xác định các quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân, các biện pháp trách nhiệm pháp lý,. được ban hành trên cơ sở các quyết định chung, quyết định quy phạm của cơ quan cấp trên hay của chính cơ quan ban hành. Trong hoạt động lãnh đạo, điều hành của cơ quan quản lý nhà nước, văn bản hành chính-công vụ là phương tiện không thể thiếu. Mặc dù về pháp lý, nó là văn bản có giá trị pháp lý thấp hơn các văn bản quy phạm pháp luật, nhưng văn bản hành chính-công vụ lại chính là cơ sở thực tiễn để các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh, bổ sung, sửa đổi ban hành các văn bản quy phạm pháp luật.
Văn bản hành chính-công vụ thường dùng để truyền đạt những nội dung và yêu cầu nào đó từ cấp trên xuống hoặc bày tỏ những ý kiến, nguyện vọng của cá nhân hay tập thể tới các cơ quan và người có quyền hạn để giải quyết. Như vậy, văn bản hành chính-công vụ có một số đặc trưng sau: Thứ nhất, chủ thể ban hành VBHC-CV là các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội với thẩm quyền, chức năng theo quy định. Thứ hai, nội dung truyền đạt của VBHC-CV là thông tin quản lý mang tính hai chiều. Theo chiều dọc (từ cấp trên chuyển xuống cấp dưới và từ cấp dưới chuyển lên cấp trên) và theo chiều ngang (văn bản trao đổi giữa các cơ quan ngang cấp, ngang quyền).
10 Thứ ba, văn phong, ngôn ngữ trong VBHC-CV mang tính chất trực tiếp, cụ thể rõ ràng, vừa chính xác đầy đủ, vừa ngắn gọn súc tích, sử dụng các thuật ngữ mang tính điển hình, có độ chuẩn mực cao, hình thức diễn đạt mạch lạc, lôgíc thể hiện đúng mối quan hệ giữa đối tượng tiếp nhận văn bản và chủ thể ban hành văn bản. Đặc điểm của văn bản hành chính-công vụ Trong văn bản hành chính-công vụ thông thường bao gồm các quy định, quy chế, thông báo, báo cáo, chương trình, phương án, hợp đồng, công điện, công văn, bản ghi nhờ, giấy chứng nhận, giấy mới, giấy giới thiệu. Theo tác giả Vũ Thị Sao Chi: Theo cách chung nhất, văn bản hành chính là loại văn bản được hình thành trong hoạt động tổ chức, điều hành và quản lý xã hội. Văn bản hành chính-công vụ vừa là sản phẩm và cũng là phương tiện trong suốt quá trình quản lý, được dùng để truyền đạt, ghi chép các thông tin quản lý từ đối tượng quản lý đến đối tượng bị quản lý và ngược lại.
Văn bản hành chính-công vụ còn là cách thức để cụ thể hóa các quy định của pháp luật, nó có tác động to lớn đến điều chỉnh hành vi, những mối quan hệ xã hội thuộc phạm vi quản lý của chủ thể ban hành. Bên cạnh mục đích, nội dung ban hành, văn bản hành chính-công vụ có chức năng cơ bản là thông tin, quản lý và chức năng pháp lý. Để bảo đảm các chức năng pháp lý, thông tin và quản lý thì hình thức và nội dung của văn bản hành chính-công vụ có những điểm đặc biệt hơn các loại văn bản khác trong hoạt động giao tiếp xã hội. Thứ nhất, về nội dung Trước hết, trong VBHC-CV, tính chính xác phải được đặt lên hàng đầu.
Nội dung của VBHC-CV phải đúng với mục đích ban hành văn bản, phải phù hợp với các quy định của pháp luật và VBHC-CV cũng phải căn cứ vào những điều kiện thực tế của đối tượng bị tác động để ban hành mới có thể 11 mang tính khách quan và hiệu lực pháp lý mới có thể thực thi một cách tốt nhất. Mặt khác, trong VBHC-CV, nội dung phải có tính khoa học, hệ thống. Các ý, các phần của một VBHC-CV cần được sắp xếp triển khai theo một bố cục khuôn mẫu nhất định với các trình tự thức bậc trước - sau, trên - dưới, lớn - nhỏ,. để bảo đảm thực sự lôgíc và hợp lý cũng như tính thống nhất, hoàn chỉnh và liên kết của vấn đề được đề cập.
Có như vậy, nội dung của VBHC- CV mới phản ánh đầy đủ, khách quan và đối tượng tiếp nhận văn bản sẽ dễ dàng hiểu được nội dung một cách đúng đắn nhất những vấn đề được được đề cập đến. Nhất là những VBHC-CV mà nội dung phức tạp, nhưng nếu được trình bày một cách chặt chẽ, thống nhất và lôgíc thì cũng sẽ rõ ràng, rành mạch và dễ tiếp nhận hơn. Trong VBHC-CV, nội dung phải mang tính trọng tâm. Theo đó, việc triển khai bố trí sắp xếp các vấn đề được đề cập trong văn bản, các phần, các ý của văn bản phải gắn liền với việc lựa chọn dung lượng phù hợp, tránh lan man dài dòng.
Bên cạnh đó cần xác định vị trí ưu tiên trong các nội dung để làm rõ được vấn đề hay ý trọng tâm của văn bản. Thứ hai, về hình thức văn bản. Trước tiên, VBHC-CV phải mang tính thống nhất chung về thể thức. Nó gắn liền với các quy định ban hành văn bản và cần được mẫu hóa, chuẩn hóa về cách thức trình bày.
Ngôn ngữ trong VBHC-CV được trình bày là loại ngôn ngữ chính xác, tường minh. Bên cạnh chức năng truyền đạt thông tin, VBHC-CV còn thực hiện chức năng quản lý và pháp lý. Do vậy, các phương tiện ngôn ngữ được sử dụng có độ chính xác cao, các từ ngữ thường mang tính khái niệm và đơn nghĩa, trung hòa về sắc thái biểu cảm, câu văn rõ ràng, lập luận chặt chẽ và thiên về hình thức tư duy lôgíc. 12 Từ những vấn đề trên, theo chúng tôi: Văn bản hành chính là văn bản hình thành trong quá trình chỉ đạo, điều hành, giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, được dùng để quy định, quyết định, phản ánh, thông báo tình hình, trao đổi công việc và xử lý các vấn đề cụ thể khác của hoạt động hành chính.
Khái quát đặc điểm phong cách ngôn ngữ của văn bản hành chính-công vụ 1. Khái niệm “phong cách ngôn ngữ hành chính” Phong cách ngôn ngữ hành chính là phong cách ngôn ngữ được dùng trong phạm vi giao tiếp thuộc lĩnh vực quản lý, tổ chức, hoạt động điều hành của cơ quan hành chính nhà nước, đoàn thể, hiệp hội, tổ chức,. trên cơ sở pháp lý và theo các quy tắc pháp lý. Lớp văn văn bản đại diện cho phong cách ngôn ngữ hành chính như: Hiến pháp, luật, nghị định, quyết định, công điện, kế hoạch, công văn, tờ trình, báo cáo, điều lệ, quy chế, biên bản, công văn,.
Các nhân tố giao tiếp chi phối tới việc sử dụng ngôn ngữ hành chính Trong lĩnh vực hành chính, văn bản hành chính là công cụ giao tiếp chủ yếu, nó gắn liền với hoạt động điều hành quản lý công việc chung của cơ quan quản lý hành chính và liên quan trực tiếp đến lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, của công dân. Đây là lĩnh vực giao tiếp mang tính chất công vụ, pháp lý và đòi hỏi lí trí cao. Do đó ngôn ngữ hành chính chịu sự chi phối của các nhân tố giao tiếp, đề tài giao tiếp, mục đích giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp trong giao tiếp hành chính. Về nhân vật giao tiếp: Trong hoạt động giao tiếp hành chính, nhân vật giao tiếp được hiểu là những người có tư cách công dân hoặc với tư cách là cá nhân trực thuộc cơ quan, tổ chức, người đại diện cơ quan, tổ chức.
Trong tư cách này, các nhân vật giao tiếp có vị trí xã hội nhất định gắn liền với quyền lợi, trách nhiệm thực 13 hiện nhiệm vụ tại cơ quan, tổ chức hành chính được quy định trong luật lệ, có tư cách pháp nhân rõ ràng. Mối quan hệ giữa các nhân vật giao tiếp là quan hệ quyền lực - pháp lý, quan hệ cộng sự - quan hệ về công việc được đặt trong mối tương quan về vị trí công vụ mà cá nhân họ đang đảm nhiệm. Về nguyên tắc, các mối quan hệ này hoàn toàn không phụ thuộc vào tình cảm, địa vị trong gia tộc, dòng họ,. Về hoàn cảnh giao tiếp: Nhà nước ta dùng các quy phạm pháp luật để quản lý mọi lĩnh vực và hoạt động của đời sống xã hội.
Các Luật, nghị định, quy được được xây dựng với các quy tắc ứng xử chung để tạo nên một “hành lang” pháp lí chặt chẽ nhằm điều chỉnh, định hướng và chi phối tất cả các quan hệ xã hội. Theo đó, mọi hoạt động hành chính đều phải được tiến hành dựa trên cơ sở pháp luật, phải đúng theo khuôn thước pháp lí. Những biểu hiện “vượt rào” trái với quy định của pháp lí trong giao tiếp hành chính đều bị coi là không phù hợp, những bối cảnh đó có sự chế định bởi những phép tắc, nghi thức nghiêm ngặt. Về đề tài giao tiếp: Đề tài giao tiếp hành chính là những nội dung thuộc hoạt động quản lí, điều hành các công việc của tập thể theo nguyên tắc, khuôn khổ pháp luật.
Nhìn chung, trong giao tiếp hành chính không có các nội dung đề tài liên quan đến vấn đề tình cảm cá nhân, không có các yếu tố riêng tư hay cách giải quyết công việc theo ý chí chủ quan, cảm tính. Về mục đích giao tiếp: Đối với hoạt động giao tiếp hành chính, tôn chỉ mục đích chung được đặt lên hàng đầu. Mục đích đó liên quan đến lợi ích chính đáng, hợp pháp của cộng đồng, địa phương, của tập thể và toàn xã hội. Đối với các trường hợp là lợi ích của cá nhân thì phải luôn được đặt trong các quy định, khuôn khổ của luật pháp và không làm tổn hại đến lợi ích của cộng đồng, của tập thể.
14 Không có giao tiếp nào có mục đích rõ ràng như giao tiếp hành chính. Trong giao tiếp hành chính, mục đích luôn được đề cập đến một cách rõ ràng, cụ thể.