đặt vấn đề “so với ngôn ngữ được sử dụng trong đời sống thì ngôn ngữ trong văn bản pháp luật có điểm gì khác biệt trong khi ngôn ngữ trong văn bản pháp luật vẫn sử dụng phần lớn các từ ngữ, các mô hình câu,… của ngôn ngữ bình thường. Điểm khác biệt lớn nhất trong văn bản pháp luật là việc sử dụng nhiều phép lặp từ vựng nhằm đảm bảo tính chính xác của văn bản pháp luật”. [Dẫn theo Nguyễn Văn Khang, 2014, tr. 501] Tiếp sau công trình The Language of the Law của Melinkoff, nhiều công trình nghiên cứu về ngôn ngữ pháp luật được công bố, những nội dung chủ yếu được đặt ra nghiên cứu là: 16 1/ Phân chia thể loại ngôn ngữ pháp luật, chẳng hạn, theo Bhatia (1987) [47] thể loại ngôn ngữ pháp luật bao gồm nhiều tiểu loại, các thể tiểu loại khác nhau tùy thuộc vào mục đích giao tiếp trong từng ngữ cảnh cụ thể, các sự kiện hoặc hoạt động giao tiếp liên quan, mối quan hệ xã hội hoặc mối quan hệ chuyên môn giữa các thành viên tham dự vào các hoạt động giao tiếp.
Kiến thức nền giữa các thành viên được huy động vào giao tiếp và nhiều yếu tố khác nữa. Các nét khác biệt giữa các tiểu loại này cũng được phản ánh trong các nguồn tư liệu từ vựng – ngữ pháp và văn bản được huy động. 2/ Nghiên cứu chức năng của ngôn ngữ pháp luật, chẳng hạn, Heikki E. Mattila (2006) [59] đã nghiên cứu chức năng và đặc điểm của ngôn ngữ pháp luật, những đặc trưng riêng của khái niệm và thuật ngữ pháp luật, di sản luật Latin, những ngôn ngữ pháp luật hiện đại chủ yếu và cả những vấn đề trong dịch thuật ngôn ngữ pháp luật.
Về nghiên cứu dịch thuật ngôn ngữ pháp luật cũng được quan tâm trong bối cảnh toàn cầu hóa, đáp ứng nhu cầu trao đổi văn hóa, giao thương giữa các quốc gia. Đặc biệt, trên thế giới đang hình thành những cộng đồng chung thì hoạt động dịch thuật để tìm hiểu pháp luật của từng quốc gia là hết sức cần thiết. Alcaraz Varo trong công trình nghiên cứu “Dịch thuật pháp luật” (Legal translation) [56] quan tâm đến những “lỗ hổng” trong dịch thuật ngôn ngữ pháp luật và những chủ đề gây tranh cãi khi chuyển ngữ giữa hai hệ thống luật khác nhau. Thử thách thật sự nằm ở tính phức tạp và trừu tượng của ngôn ngữ pháp luật.
Ông cũng đề xuất những phương pháp đa dạng mà các nhà dịch thuật sử dụng. Cùng mối quan tâm với Alcaraz Varo, tác giả Alenka Kocbek của đại học Primorska có bài “Khung văn hóa của các văn bản pháp luật” (The Cultural Embeddedness of Legal Texts) đăng trên tạp chí Ngôn ngữ và dịch thuật (Journal of Language & Translation) số 9 ngày 2/9/2008 [62]. Bài viết đề cập đến vai trò của khung văn hóa trong hoạt động dịch thuật ngôn ngữ pháp luật từ ngôn ngữ nguồn sang ngôn ngữ đích, trong bối cảnh tiếng Anh vốn được coi là ngôn ngữ chung trên toàn thế giới. Tác giả tìm một 17 số giải pháp cho sự không tương ứng về những khái niệm và thuật ngữ pháp luật trong hai ngôn ngữ như sáng tạo ra những thuật ngữ mới và nâng cao hiểu biết về luật của ngôn ngữ đích.
Và cũng nghiên cứu ngôn ngữ học pháp luật, gần 20 năm trở lại đây ở Trung Quốc vấn đề này cũng được quan tâm thỏa đáng, tập trung và hai lĩnh vực: a) nghiên cứu lý luận ngôn ngữ học pháp luật như: xác định vị trí của chuyên ngành ngôn ngữ học pháp luật, nội dung nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu của ngôn ngữ học pháp luật; về đặc điểm của ngôn ngữ pháp luật: văn bản, phong cách và tu từ pháp luật, tính chính xác và hàm ẩn, quy phạm hóa ngôn ngữ pháp luật, đặc điểm từ ngữ trong ngôn ngữ pháp luật; b) nghiên cứu ngôn ngữ học pháp luật kết hợp với thực tiễn tư pháp: nghiên cứu ngôn ngữ pháp luật dựa trên hành vi ngôn ngữ, nghiên cứu ngôn ngữ sử dụng trong tòa án, xây dựng kho ngữ liệu về văn bản pháp luật. [Vũ Thị Minh Huyền, 2017, tr. Như vậy, những kết quả của hướng nghiên cứu này có thể ứng dụng vào việc dạy và học phong cách ngôn ngữ luật trong các trường luật, hữu ích với cả những dịch giả trong lĩnh vực ngôn ngữ pháp luật, những luật sư có nhu cầu tìm hiểu thông tin về pháp luật. Nói chung, những nghiên cứu này đóng góp vào việc nâng cao hiểu biết về pháp luật, hữu ích cho người làm luật lẫn người sử dụng luật.
Tình hình nghiên cứu ngôn ngữ trong văn bản pháp luật ở Việt Nam Ở Việt Nam, lĩnh vực nghiên cứu ngôn ngữ học pháp luật này vẫn chưa tạo được một đường hướng nghiên cứu riêng biệt. Có thể điểm qua các khuynh hướng nghiên cứu chính về ngôn ngữ học pháp luật ở Việt Nam: (i) Hướng nghiên cứu theo phong cách học Khuynh hướng này nghiên cứu những loại hình văn bản pháp luật khác nhau tùy hệ thống luật pháp của mỗi nước. Chẳng hạn như ở Việt Nam, những loại hình văn bản đó có thể là những văn bản quy phạm pháp luật được 18 tạo ra trong hoạt động hành pháp còn gọi là văn bản quản lí hành chính nhà nước và văn bản dưới luật; những văn bản lập hiến lập pháp do Quốc hội ban hành bao gồm Hiến pháp, bộ luật, luật, pháp lệnh; những văn bản do Viện kiểm sát, Tòa án ban hành bao gồm các cáo trạng, bản án… Khi nghiên cứu các văn bản pháp luật dưới góc độ của phong cách học, các nhà nghiên cứu thường xếp chúng vào phạm vi ngôn ngữ hành chính, thuộc phong cách hành chính – công vụ. Từ thực tế hệ thống chính trị của Việt Nam, để thực hiện quyền hành pháp, các cơ quan hành chính không chỉ là các cơ quan nhà nước thực hiện quyền hành pháp, mà còn là các tổ chức Đảng, chính trị xã hội khác nữa.
Một số đặc điểm cơ bản và vị trí của ngôn ngữ trong thể loại văn bản pháp luật tiếng Việt được trình bày trong các công trình về phong cách học. Cù Đình Tú (1991) [44] xếp văn bản pháp luật là một tiểu loại thuộc phong cách hành chính; Vương Đình Quyền, Nguyễn Văn Hàm (1997) trong Văn bản và lưu trữ đại cương [33] thì gọi chúng là văn bản quản lý nhà nước. Đồng tác giả Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa (1997) trong Phong cách học tiếng Việt [19] và Lưu Kiếm Thanh (2010) trong Ngôn ngữ văn bản quản lý hành chính nhà nước [37] đều xếp văn bản pháp luật vào phong cách hành chính - công vụ. Vũ Thị Sao Chi (2012) trong Đề tài cấp Bộ Nghiên cứu, khảo sát ngôn ngữ hành chính tiếng Việt phục vụ cho việc xây dựng Luật ngôn ngữ ở Việt Nam) [1] và Phạm Thị Ninh (2014) trong luận án “Phong cách ngôn ngữ hành chính” [31], Vũ Thị Sao Chi (2015) trong "Phong cách ngôn ngữ hành chính" và (2017) trong "Sơ thảo Phong cách học định lượng tiếng Việt hiện đại" cũng nghiên cứu ngôn ngữ trong các văn bản hành chính theo hướng phong cách học như thế này.
Các công trình này đều tập trung phân loại và nêu lên một số đặc điểm về từ vựng, cú pháp và văn bản pháp luật với tư cách là một tiểu loại của “Phong cách hành chính-công vụ”. Do đó theo các tác giả này, văn bản luật cũng mang đầy đủ các đặc điểm của “Phong cách hành chính-công vụ”. 19 Nguyễn Hữu Đạt [5] xác định các văn bản như: Hiến pháp, các bộ luật, sắc lệnh, nghị định.là một tiểu loại của phong cách hành chính-công vụ. Trong công trình của mình, tác giả chỉ rõ, đây là phong cách được sử dụng để trao đổi những công việc hành chính sự vụ hàng ngày giữa các cơ quan hành chính, các đoàn thể, các cấp từ trung ương xuống địa phương với các thành viên và bộ phận xã hội có liên quan.
Tác giả còn chỉ ra một số đặc điểm của phong cách này là tính khuôn mẫu đồng loạt; tính phi biểu cảm; tính hệ thống, đồng bộ và thống nhất; tính ngắn gọn, súc tích và không đa nghĩa; tính trang trọng và tính quốc tế; tính quy ước và khả biến theo thời gian. Cù Đình Tú [44] cũng xếp các văn văn bản Hiến pháp, luật, bộ luật, điều lệ, nội quy.vào phong cách hành chính tiếng Việt và chỉ ra những đặc điểm riêng của phong cách này là mang tính thể thức, nghiêm trang về hình thức. Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hòa [19] nghiên cứu sâu và hệ thống hơn đối với ngôn ngữ của thể loại văn bản pháp luật. Hai tác giả này cũng xếp các văn bản pháp luật thuộc phong cách hành chính-công vụ, thuộc kiểu văn bản pháp quyền đối lập với các kiểu văn bản quân sự, ngoại giao và văn thư.
Các tác giả này cũng chỉ ra một cách chi tiết chức năng và đặc trưng của cả phong cách hành chính công vụ nói chung và văn bản pháp luật nói riêng. Về chức năng ngôn ngữ, phong cách này thực hiện hai chức năng chính là chức năng thông báo và chức năng sai khiến. Hai chức năng này tạo cho các văn bản hành chính-công vụ một màu sắc phong cách, đặc biệt là sự bắt buộc thi hành đều được thông báo. Về đặc điểm ngôn ngữ, theo Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hòa, loại văn bản này mang tính chính xác, minh bạch, tính nghiêm khắc khách quan và tính khuôn mẫu cao.
Vũ Thị Sao Chi (2012) [1] trong đề tài cấp Bộ của mình đã chỉ ra những đặc điểm của văn bản hành chính về từ ngữ, câu, cách sử dụng dấu câu,… để từ đó đưa ra một số giải pháp và kiến nghị trong việc xây dựng Luật ngôn ngữ ở Việt Nam. Bởi theo tác giả Vũ Thị Sao Chi, cùng với sự phát triển của đất 20 nước, các văn bản pháp luật và văn bản hành chính tăng lên không ngừng. Cũng chính từ sự phát triển ấy, tiếng Việt nói chung và tiếng Việt hành chính nói riêng cần phải được chuẩn hóa mới có thể đáp ứng được khả năng biểu đạt chính xác, nhất là trong các hoạt động pháp luật và hành chính. Phạm Thị Ninh (2014) [31] trong luận án “Phong cách ngôn ngữ hành chính” đã mô tả các phương tiện ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản hành chính ở các cấp độ: từ ngữ, câu, văn bản; đúc rút được những tính chất cơ bản hay đặc trưng của phong cách ngôn ngữ hành chính; từ đó đề xuất việc áp dụng những kết quả nghiên cứu về phong cách hành chính và công tác chuẩn hóa tiếng Việt hành chính.