CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT CỦA LUẬN VĂN VÀ TƯ LIỆU KHẢO SÁT 1.Một số vấn đề về ngôn ngữ cử chỉ 1.Khái niệm “ngôn ngữ cử chỉ” Ngôn ngữ cử chỉ hay ngôn ngữ cơ thể có thể được hiểu là cách con người truyền tải thông tin qua việc sử dụng các bộ phận trên cơ thể, như cách cử động chân tay, dáng người, khuôn mặt, kết hợp với các yếu tố về phục trang, lựa chọn khoảng cách và không gian khi giao tiếp. Yếu tố phi lời theo Đỗ Hữu Châu (2007) là: “Cử chỉ, khoảng không gian, tiếp xúc cơ thể, tư thế cơ thể và định hướng cơ thể, vẻ mặt, ánh mắt. Cũng được tính là ngôn ngữ phi lời các tín hiệu âm thanh như tiếng gõ, tiếng kéo bàn, tiếng xô ghế, tiếng huýt sáo, tiếng còi… Có thể kể cả vào đây trang phục, bài trí của thoại trường tức những tín hiệu âm thanh không nằm trong hệ thống ngữ âm, âm vị học của một ngôn ngữ”. Nói cách khác, các yếu tố tham gia vào giao tiếp nhưng không phải những yếu tố ngôn ngữ (ngôn ngữ ở đây được hiểu hẹp bao gồm các đơn vị từ vựng và các đơn vị ngữ pháp) được gọi là yếu tố kèm lời và yếu tố phi lời.
Trong đó yếu tố kèm lời có vai trò thể hiện nghĩa ngữ dụng của phát ngôn bằng lời. Đó là các yếu tố mà chúng ta quen gọi với cái tên “siêu đoạn tính” gồm có ngữ điệu, trọng âm, cường độ, độ dài, đỉnh giọng. Yếu tố kèm lời thực chất là các yếu tố mà chúng ta quen gọi với cái tên “siêu đoạn tính” gồm có ngữ điệu, trọng âm, cường độ, độ dài, đỉnh giọng. Các yếu tố này có vai trò thể hiện nghĩa ngữ dụng của phát ngôn bằng lời.
Tác giả Đỗ Hữu Châu đã phân ra các tín hiệu phi lời gồm:1/ Các yếu tố cơ thể, vận động được tiếp nhận bằng thị giác; 2/ Những yếu tố tĩnh như diện mạo, trang phục… cung cấp những thông tin về giới tính, tuổi tác, dân tộc, thành phần xã hội và trong chừng mực nhất định cả tính cách của người đối thoại; 3/ Các tín hiệu về không gian tương tác như tư thế của những người hội thoại, khoảng cách của họ cũng quan trọng đối với diễn biến của cuộc tương tác. 9 Tác giả cũng khẳng định rằng: Trong hội thoại những yếu tố phi lời cùng những yếu tố kèm lời có vai trò quan trọng và không thể bị loại bỏ khi giao tiếp bằng lời. Trần Thị Nga (2005), trong công trình “Nghiên cứu đặc điểm văn hóa ngôn ngữ cử chỉ của người Việt” đã đưa ra định nghĩa khá khái quát về ngôn ngữ cử chỉ : “Thuộc về ngôn ngữ cử chỉ điệu bộ của con người là tất cả những điệu bộ, cử chỉ mà con người đã sử dụng 1 cách cố ý hay không cố ý trong khi giao tiếp với người khác. Do tính độc lập và tính hiệu quả mạnh của phương tiện này nên khác với các phương tiện đi kèm khác trong giao tiếp, trong nhiều điều kiện cụ thể của giao tiếp, cử chỉ điệu bộ có thể dùng độc lập không có ngôn ngữ bằng lời đi kèm nhưng vẫn có nội dung tương tự như khi hiển ngôn hóa bằng lời.
Chúng là những phù hiệu trong hoạt động giao tiếp và luôn gắn liền với ngôn ngữ bằng lời” [ Dẫn theo 23,19]. Quan niệm của Trần Thị Nga thiên về hướng làm rõ cách thức sử dụng ngôn ngữ cử chỉ trong mối quan hệ với ngôn ngữ bằng lời. Theo Nguyễn Quang “Cử chỉ là các chuyển động của tay, chân, thân thể được ta sử dụng độc lập hoặc đi kèm ngôn từ khi giao tiếp với người khác nhằm nhấn mạnh hay thay thế ngôn từ, kìm nén hay biểu lộ thái độ tình cảm và nhằm diễn tả suy tư của ta” [ 24, 26]. Theo Nguyễn Quang “Giao tiếp phi ngôn từ là toàn bộ các bộ phận kiến tạo nên giao tiếp không thuộc mã hóa ngôn từ, có nghĩa là không được mã hóa bằng từ ngữ, nhưng có thể thuộc về cả hai kênh ngôn thanh và phi ngôn thanh.
Nó bao gồm các yếu tố cận ngôn như tốc độ, cường độ, ngữ lưu,… và các yếu tố ngoại ngôn thuộc ngôn ngữ thân thể như cử chỉ, dáng điệu, hiện diện…, thuộc ngôn ngữ vật thể như áo quần, trang sức,…và thuộc ngôn ngữ môi trường như khoảng cách đối thoại, địa điểm giao tiếp”. Qua hai định nghĩa của Nguyễn Quang, ta thấy cách hiểu của tác giả về ngôn ngữ cử chỉ hẹp hơn rất nhiều so với cách hiểu của các tác giả nước ngoài 10 đã kể tên ở trên cũng như cách hiểu của Đỗ Hữu Châu. Theo Nguyễn Quang, ngôn ngữ cử chỉ chỉ là một phần nhỏ, một biểu hiện của ngôn ngữ phi lời. Xét theo mục đích, luận văn nghiên cứu đặc điểm của ngôn ngữ cử chỉ đã được mô tả hóa bằng ngôn từ nghệ thuật trong các tác phẩm văn chương, cụ thể là tập truyện ngắn Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư.
Chúng tôi lựa chọn cách hiểu ngôn ngữ cử chỉ theo nghĩa hẹp của tác giả Nguyễn Quang: Ngôn ngữ cử chỉ là một hệ thống các kí hiệu được thực hiện trên cơ sở cử động của chân, tay, thân thể được ta sử dụng độc lập hoặc đi kèm ngôn từ khi giao tiếp với người khác nhằm nhấn mạnh hay thay thế ngôn từ, kìm nén hay biểu lộ thái độ tình cảm và nhằm diễn tả suy tư của ta. Một số đặc điểm của ngôn ngữ cử chỉ 1. Đặc điểm về cơ chế hoạt động Để giải thích cho sự biểu hiện cảm xúc ở con người, trong các công trình nghiên cứu của mình Darwin đã đưa ra ba nguyên lí rất hữu dụng trong việc tìm hiểu về ngôn ngữ phi lời: Nguyên lí thứ nhất là về những thói quen liên tưởng đã có từ lâu của con người. Theo Darwin, một số hành động ban đầu được thực hiện một cách có chủ ý, nhưng lâu dần, nó trở thành phản xạ do sự tác động giữa hai yếu tố thói quen và sự liên tưởng.
Chúng ta sẽ gật đầu khi đồng ý hoặc tâm đắc một điều gì đó, chúng ta sẽ tỏ thái độ không tán thành khi lắc đầu và xua tay. Hành động mút tay hay gãi đầu đã thể hiện rõ được thái độ bối rối, ngượng ngùng, thiếu tự tin khi giao tiếp. Vì vậy, bất cứ một cảm xúc nào đều dẫn tới sự biểu lộ ra ngoài của các cơ quan vận động tương ứng. Trải qua thời gian, những vận động này cũng được mở rộng ra trong những tình huống giống hoặc tương tự như thế.
Nguyên lí thứ hai là nguyên lí về “sự tương phản”. Nó nghiên cứu những cử chỉ vô thức gây ra bởi những trạng thái tinh thần mâu thuẫn. Darwin dẫn ra cử chỉ nhún vai như một dấu hiệu của sự tương phản đó, nó có thể là mong muốn vô thức được tấn công hay giải quyết hoàn cảnh bằng vũ lực, nhưng nó lại được thay thế bởi một ý thức về sự vô hiệu của bạo lực khi dùng để giải 11 quyết một vấn đề. Những cử chỉ đôi khi vượt lên trên cả sự tác động của lí trí, nó xuất hiện một cách tự nhiên, vô thức, phán ánh những suy nghĩ và cảm xúc trái ngược với lời nói của con người.Ví dụ, một chàng trai có nói với cô gái trước khi tạm biệt rằng “Anh đã có một buổi tối tuyệt vời” nhưng cái đầu của anh ta lại lắc lư qua lại, hay một học nói với thầy giáo của cậu ta “Em thật sự rất thích môn học này” trong khi đầu và mắt cậu ta không ngừng chuyển động, đó là dấu hiệu cho thấy chàng trai và bạn học sinh đang có những suy nghĩ trái ngược với lời nói của họ.
Nguyên lí thứ ba là về những cử chỉ gây ra bởi hệ thần kinh, cái mà có liên quan tới trung tâm điều khiển cảm xúc.Ví dụ, run rẩy là sự phản ứng lại của những kích thích trực tiếp, là hoạt động của mạng lưới thần kinh. Run rẩy bắt nguồn từ những tác nhân gây kích thích như: sợ hãi, tức giận hay thỏa mãn. Chúng ta hay nói về cái run rẩy vì sung sướng hay run rẩy vì lo lắng, sợ hãi, bị đe dọa,…Theo Darwin , sự kích thích mạnh mẽ tới hệ thần kinh sẽ làm gián đoạn dòng chảy đều đều của tác động thần kinh tới các cơ gây ra hiện tượng run rẩy. Sự cáu bẳn hay rõ rệt hơn là cơn tức giận sẽ kéo theo những dấu hiệu phi lời xuất hiện như: lỗ mũi giãn ra, răng siết chặt, tay nắm lại, thở khó nhọc.
Có lẽ, sự thừa nhận các loại trạng thái tinh thần khác nhau của con người, đem đến cho con người vị trí độc tôn với những tiềm năng lớn lao trong môi trường tự nhiên là đóng góp vĩ đại nhất của Darwin. Đặc điểm về tính chất Thứ nhất, ngôn ngữ cử chỉ có tính đồng nghĩa và tính đa nghĩa : Theo Nguyễn Đức Dân “Cử chỉ là kí hiệu. Và những tín hiệu này tạo thành một thứ ngôn ngữ đặc biệt: ngôn ngữ cử chỉ” [Dẫn theo 28,30]. Như chúng ta đã biết, đặc trưng cơ bản của tín hiệu ngôn ngữ là tính võ đoán.Tính võ đoán của ngôn ngữ được thể hiện ở quan hệ giữa cái được biểu đạt và cái biểu đạt.
Một cái được biểu đạt có thể được thể hiện bằng nhiều cái biểu đạt.Và ngược lại, một cái biểu đạt có thể truyền tải nhiều cái được biểu đạt khác nhau. Đó là cơ sở tạo nên 12 tính đa nghĩa và đồng nghĩa của ngôn ngữ bằng lời. Cũng tương tự như ngôn ngữ lời nói, ngôn ngữ cử chỉ cũng có tính đồng nghĩa và tính đa nghĩa. - Tính đa nghĩa của ngôn ngữ cử chỉ: một cử chỉ có thể biểu đạt nhiều ý nghĩa khác nhau.
Ví dụ: “Nói tới đây, Nhâm thảng thốt cúi đầu, tôi đã có lần điên vì tiền, lúc đó, con gái tôi đau nặng lắm.Hậu gật đầu miệng ờ ờ (như đã chứng kiến cảnh ấy rồi, đã biết tỏng rồi), nhưng chưa thôi dọa thêm, “ Nhâm không sợ thiệt sao?” ”[41,158]. Cái gật đầu của nhân vật Hậu đã thể hiện việc đồng tình, thừa nhận những điều mà Nhâm nói ở trên là hoàn toàn đúng. Ví dụ: “Cha tôi trù trừ nhưng rốt cuộc cũng gật đầu (với một thoáng giễu cợt), thật không nỡ chối từ một tấm lòng như thế. Cử chỉ gật đầu của Út Vũ , với một thoáng giễu cợt đã cho người đọc thấy rõ những ý nghĩa mới mẻ vừa hiện lên trong đầu ông.