phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận án gồm 3 chương được bố cục như sau: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận Chƣơng 2: Đặc điểm cấu tạo và phƣơng thức tạo thành thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt Chƣơng 3: Đặc điểm ngữ nghĩa và định danh của thuật ngữ mĩ thuật tiếng Việt 6 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN "Mĩ thuật học là một môn khoa học nghiên cứu những vấn đề lí luận về mĩ thuật" [16; 5]. Loại hình nghệ thuật này có quan hệ đến sự cảm thụ bằng mắt và sự tạo thành các hình tượng lấy từ thế giới vật chất bên ngoài để đưa lên mặt phẳng hoặc một không gian nào đấy. "Mĩ thuật là một trong những bộ môn nghệ thuật ra đời sớm nhất của loài người, khởi đầu bằng sự khai thác và phát huy tác dụng của các nhân tố không gian như hình khối, đường nét, màu sắc,.để diễn đạt và truyền cảm. Nó bao gồm nhiều thể loại, tựu trung lấy việc kiến tạo các quan hệ không gian làm phương tiện diễn đạt và lấy việc gây cảm hứng thị giác làm mục đích truyền đạt.
Do đó mĩ thuật được liệt vào loại nghệ thuật thị giác hay nghệ thuật không gian" [87, tr. Các nhà nghiên cứu cho rằng: "nếu nói một cách chính xác hơn, nên dùng danh từ "nghệ thuật tạo hình". Trên thế giới, danh từ "nghệ thuật tạo hình" đã trở nên phổ cập và được chính thức đưa vào bách khoa toàn thư, từ điển" [16; 5]. Như vậy, thuật ngữ "nghệ thuật tạo hình" đồng nghĩa với thuật ngữ "mĩ thuật".
Tuy nhiên để đảm bảo tính nhất quán, trong luận án này chúng tôi chỉ sử dụng thuật ngữ "mĩ thuật". Tổng quan tình hình nghiên cứu thuật ngữ ở nước ngoài và ở Việt Nam 1. Tình hình nghiên cứu thuật ngữ ở nước ngoài Theo những nghiên cứu và tổng kết của Hà Quang Năng [86, 80 - 86], việc nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới đã sớm bắt đầu ngay từ thế kỉ 18. Các nghiên cứu về thuật ngữ ở thời kì này đều tập trung vào nội dung tạo lập thuật ngữ, xác định các nguyên tắc cho việc xây dựng một hệ thống thuật ngữ riêng cho từng ngành khoa học.
Đi tiên phong trong công tác nghiên cứu thuật ngữ ở thời kì này là các nhà khoa học như: Carl von Linné (1736); Beckmann (1780); A. Carl von Linné (1707 - 1778) có thể được coi là người xác lập công tác nghiên cứu thuật ngữ, trong đó gồm có việc nêu quy tắc tạo thuật ngữ, xác định chuẩn mực của thuật ngữ và lập kế hoạch xây dựng các hệ thuật ngữ khoa học. Bởi vì chỉ từ khi tác phẩm Fundamenta botanica (1736) của ông ra đời thì người ta mới có thể nói đến một hệ thuật ngữ thực vật học được xác định theo quy tắc nhất định. Có đến gần 1000 thuật ngữ đã được ông giải thích ý nghĩa và chỉ rõ cách sử dụng chúng rất tỉ mỉ.
Trong khi Linné dựa vào ngôn ngữ khoa học đang được sử dụng ở châu Âu thời bấy giờ là tiếng Latinh để xây dựng thuật ngữ khoa học, thì ngay từ giữa thế kỉ 18, M. Lomonosov đã đưa ra một hệ thống thuật ngữ lí - hoá riêng của tiếng Nga, trong đó ông sử dụng tối đa các thuật ngữ bằng tiếng Nga và chỉ sử dụng các thuật ngữ ngoại lai khi không thể tìm ra các tương đương trong tiếng Nga. Thời kì này ở nước Pháp người ta cũng nỗ lực xây dựng hệ thuật ngữ hoá học. de Fourcroy đã xây dựng được một hệ thuật ngữ gọi tên các chất hoá học trong công trình Méthode de nomenclature chimique xuất bản năm 1787.
Hệ thống thuật ngữ này đã thể hiện rõ các mối quan hệ qua lại trong các kết hợp của các chất (ví dụ ở các kết hợp với lưu huỳnh: sulphite, sulphate, sulphurate v.) để tạo ra một hệ thuật ngữ thống nhất và bao quát được toàn bộ hệ thống tên gọi các chất hóa học. Một bước quan trọng tiếp theo được Johann Beckmann (1739 - 1811) thực hiện với việc lập ra một hệ thuật ngữ công nghệ. Ông đã xây dựng hệ thống thuật ngữ kĩ thuật trong lĩnh vực thủ công. Beckmann biết rõ trong các nghề thủ công người ta sử dụng rất nhiều các thuật ngữ khác nhau nhưng chúng lại không thống nhất giữa các ngành.
Có nhiều thuật ngữ rất khác nhau lại được dùng để gọi tên những quá trình hay những phương tiện kĩ thuật giống nhau. Những người thợ thủ công đã không thể dùng tiếng Latinh, thứ 8 tiếng của các học giả thời đó, để đặt thuật ngữ cho ngành nghề của mình. Còn các ngôn ngữ quốc gia lại rất khó khăn để có thể diễn đạt được đầy đủ và rõ ràng các thuật ngữ chuyên ngành trong lĩnh vực kĩ thuật. Theo tinh thần đó, Beckmann cho rằng để có một hệ thuật ngữ công nghệ được quy định thống nhất thì, một mặt, "phải loại bỏ đi các từ đồng nghĩa, mặt khác, phải dần tiếp nhận một lượng từ ngữ mới”.
Tuy nhiên, những chỉ dẫn về việc chuẩn hoá thuật ngữ của Beckmann phải mãi 150 năm sau mới được thực hiện đối với hệ thống thuật ngữ về kĩ thuật. Công tác nghiên cứu và xây dựng một hệ thuật ngữ mang tính hệ thống bằng tiếng mẹ đẻ của mỗi một dân tộc hay bằng ngôn ngữ quốc gia chỉ được tiến hành mãi sau chiến tranh thế giới thứ nhất và đạt được đỉnh điểm của nó vào đầu những năm 30 của thế kỉ 20. Ý tưởng về một khoa học thuật ngữ phải đến đầu thế kỉ 20 mới hình thành, việc nghiên cứu thuật ngữ mới có được định hướng khoa học và được công nhận là một hoạt động quan trọng về mặt xã hội. Từ những năm 1930, việc nghiên cứu thuật ngữ thực sự diễn ra một cách đồng thời với những công trình nghiên cứu thuật ngữ của các học giả Liên Xô cũ, Cộng hòa Tiệp Khắc và Áo.
Việc nghiên cứu thuật ngữ ở thế kỉ 20 thực sự diễn ra từ những năm 1930 một cách đồng thời nhưng độc lập bởi các học giả người Áo, Liên Xô cũ và Tiệp Khắc. Những nghiên cứu này được coi là nền tảng cho sự khởi đầu của ngành thuật ngữ học trên thế giới. Đây là ba cái nôi nghiên cứu thuật ngữ tiêu biểu và lớn nhất trên thế giới tạo thành ba trường phái nghiên cứu thuật ngữ. Trường phái nghiên cứu thuật ngữ của Áo gắn liền với tên tuổi của E.
Ông không chỉ được coi là người đầu tiên đặt nền móng cho công tác nghiên cứu và phát triển thuật ngữ hiện đại ở thế kỉ 20 mà còn là người có ảnh hưởng rất lớn đến việc nghiên cứu thuật ngữ của nhiều học giả sau này. Các phương pháp nghiên cứu thuật ngữ của trường phái này 9 chủ yếu dựa theo những nguyên tắc được trình bày rất rõ ràng trong tác phẩm Lí luận chung về thuật ngữ của Wuster (1931). Trong tác phẩm này, Wuster đã đề cập đến những phương diện ngôn ngữ học của công tác nghiên cứu thuật ngữ liên quan đến hệ thống tên gọi các khái niệm, đối tượng trong lĩnh vực kĩ thuật. Ông đã xác lập được các phương pháp nghiên cứu thuật ngữ, đưa ra một số nguyên tắc xây dựng thuật ngữ và xác định các phương pháp xử lí ngữ liệu thuật ngữ.
Công trình của ông đã được Leo Weisgeber (1975) đánh giá như là một cột mốc của ngôn ngữ học ứng dụng. Đặc điểm quan trọng nhất của trường phái nghiên cứu thuật ngữ Áo là tập trung vào các khái niệm và hướng việc nghiên cứu thuật ngữ vào chuẩn hóa các thuật ngữ và các khái niệm. Việc nghiên cứu của trường phái này nhằm phục vụ nhu cầu của các nhà kĩ thuật, các nhà khoa học là chuẩn hóa thuật ngữ trong lĩnh vực của họ để đảm bảo sự giao tiếp hiệu quả và có thể chuyển tải kiến thức trong lĩnh vực chuyên môn. Những nguyên tắc nghiên cứu thuật ngữ của trường phái này được trình bày cụ thể trong các tài liệu về chuẩn hóa từ vựng của thuật ngữ.
Đa số các nước vùng Trung Âu và Bắc Âu (Áo, Đức, Na Uy, Thụy Sĩ, Đan Mạch) đều nghiên cứu thuật ngữ theo hướng này. Trường phái thuật ngữ học của Tiệp Khắc với đại diện tiêu biểu là L. Drodz, một trong những người khởi xướng và phát triển công tác nghiên cứu thuật ngữ ở Tiệp Khắc từ cách tiếp cận ngôn ngữ học về mặt chức năng của Trường phái ngôn ngữ học Praha. Trong nghiên cứu, các nhà khoa học của trường phái này quan tâm đặc biệt đến việc miêu tả cấu trúc và chức năng của các ngôn ngữ chuyên ngành, trong đó thuật ngữ đóng vai trò quan trọng.
Theo quan niệm của Trường phái ngôn ngữ học Praha, thì các ngôn ngữ chuyên ngành mang đặc điểm của phong cách khoa học, tồn tại cùng với các loại phong cách chức năng khác như phong cách chính luận, phong cách hành chính - công vụ, phong cách văn học nghệ thuật và phong cách khẩu ngữ. Họ xem thuật ngữ như là những đơn vị tạo nên diện mạo của phong cách khoa 10 học. Mối quan tâm nhất của trường phái này là vấn đề chuẩn hóa ngôn ngữ và chuẩn hóa thuật ngữ. Trường phái nghiên cứu thuật ngữ của Nga - Xô Viết Theo tổng kết của các tác giả công trình "Thuật ngữ học - Những vấn đề lí luận và thực tiễn" [84], sự phát triển khoa học về thuật ngữ ở Nga và Liên Xô trải qua 4 thời kì.
- Thời kì chuẩn bị: Bắt đầu từ năm 1780 và kéo dài đến cuối thập niên 20 của thế kỉ 20. Đây là thời kì lựa chọn, xử lí sơ bộ các thuật ngữ và xác định các khái niệm chuyên biệt liên quan. Sự bắt đầu thời kì này được đánh dấu bằng việc dịch các thuật ngữ và biên soạn từ điển thuật ngữ học đầu tiên vào năm 1780. - Thời kì thứ nhất: từ năm 1930 đến năm 1960 của thế kỉ 20.
Đặc điểm cơ bản thời kì này là sự ra đời các lí thuyết về thuật ngữ học và những hoạt động thực tiễn về thuật ngữ học trên nền tảng giáo dục kĩ thuật của hai chuyên gia là D.Drezen, cũng như những đóng góp lớn lao cuả A. Trong các công trình khoa học của mình, D.Drezen đã đưa các quan điểm ngôn ngữ học vào việc tìm hiểu sự phát triển khoa học về thuật ngữ ở Nga. Đại diện tiêu biểu của trường phái nghiên cứu thuật ngữ Nga - Xô viết là Đ. Lotte (1898 -1950) với công trình Nguyên lí xây dựng hệ thuật ngữ khoa học kĩ thuật, ông được coi là người đứng đầu trong công tác phát triển hệ thuật ngữ hiện đại của Liên Xô.