Luận văn: Thạch luận đá peridotit Núi Nưa và quặng hoá cromit Cổ Định

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu thạch luận các đá peridotit núi nưa và mối quan hệ với quặng hoá cromit vùng cổ định thanh hóa, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất

Chuyên ngành

Địa chất học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sỹ khoa học

2014

76
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Đặc điểm địa chất và địa lý vùng Cổ Định Thanh Hóa

Vùng Cổ Định, Thanh Hóa nằm ở phía bắc Việt Nam, thuộc khu vực có điều kiện địa chất phức tạp và đa dạng. Khu vực này được đặc trưng bởi sự hiện diện của các khối đá siêu maficquặng cromit có giá trị kinh tế cao. Địa hình bị chia cắt bởi các hệ thống sông suối và núi đồi, tạo điều kiện lý tưởng cho hoạt động khai thác khoáng sản. Vùng Cổ Định được cấu tạo bởi các tổ hợp ophiolit phức tạp, phản ánh quá trình kiến tạo và tiến hóa địa chất từ thời kỳ cổ. Sự kết hợp giữa các yếu tố địa lý và địa chất tạo nên khả năng tập trung cao của các khoáng sản có giá trị.

1.1. Đặc điểm địa lý tự nhiên

Vùng Cổ Định nằm trong khu vực núi non hiểm trở, với độ cao dao động từ 300-1000m so với mực nước biển. Khí hậu là kiểu nhiệt đới, có mưa phong phú, thuận lợi cho các quá trình trầm tích và hi風hóa. Mạng lưới sông suối phát triển, chứa nguồn nước dồi dào. Sinh thái tự nhiên đa dạng với rừng trà xanh phủ phía trên các khối đá peridotit.

1.2. Bối cảnh kiến tạo và tectonic

Đá peridotit Núi Nưa được hình thành trong bối cảnh kiến tạo ophiolit điển hình của ranh giới mảng cửa. Các khối siêu mafic này là sản phẩm của quá trình phân chảy magma và biến đổi địa chất. Bối cảnh kiến tạo chứng tỏ sự hoạt động mạnh mẽ của các tectonic plate trong quá khứ, tạo ra các điều kiện thuận lợi cho sự hình thành quặng hóa cromit.

II. Đặc điểm thạch học khoáng vật của đá Peridotit Núi Nưa

Đá peridotit là loại đá siêu mafic chứa hàm lượng cao các khoáng vật mafic như olivinpyroxen. Tại Núi Nưa, các đá peridotit được phân loại thành harzburgitlherzolith dựa trên thành phần khoáng vật. Olivin chiếm thành phần chính, với hàm lượng từ 60-80%, trong khi pyroxen (cả orthopyroxen và clinopyroxen) chiếm 20-40%. Các khoáng vật này mang những đặc điểm địa hoá quan trọng, bao gồm tỷ số Mg# cao, phản ánh quá trình phân chảy magma sâu. Cromit xuất hiện dưới dạng hạt disseminated, tạo nên tiềm năng khai thác.

2.1. Khoáng vật olivin và pyroxen

Olivin trong đá harzburgit Núi Nưa có thành phần rich-Mg, với Fo 90-92. Khoáng vật này thường bị tác động bởi các quá trình serpentinization, tạo thành chrysotile và lizardite. Pyroxen bao gồm orthopyroxen (enstatite) với Mg# cao (89-91) và clinopyroxen diopside. Cả hai loại pyroxen đều thể hiện dấu hiệu của biến đổi ductile và brittle.

2.2. Cromit trong hệ thống peridotit

Cromit (FeCr₂O₄) xuất hiện như khoáng vật phụ, có hàm lượng từ 0.5-2% trong các đá peridotit. Cromit được đặc trưng bởi Cr# cao (0.55-0.70) và Mg# từ 0.45-0.55, chỉ ra nguồn gốc từ magma mantle. Các hạt cromit thường có hình thái euhedral đến subhedral, bị giới hạn bởi nứt nẻ từ quá trình cold deformation.

III. Quặng hóa Cromit vùng Cổ Định

Quặng hóa cromit tại vùng Cổ Định, Thanh Hóa là kết quả của sự tập trung và phong hoá của cromit từ các đá peridotit mẹ. Tiềm năng khoáng sản cromit ở đây rất lớn, đặc biệt là tại các khu vực phía Tây Bắc nơi tính chất siêu mafic được bảo toàn tốt. Quặng cromit Núi Nưa đạt độ tinh khiết cao, phù hợp với các ứng dụng công nghiệp. Quá trình khai thác đã tiến hành lâu dài, nhưng lượng trữ lượng khác còn lớn. Mối liên quan giữa quặng hóa với bối cảnh magma magmatic differentiation và rồi metasomatic enrichment là chìa khóa để hiểu tiềm năng kinh tế này.

3.1. Cơ chế hình thành quặng cromit

Quặng hóa cromit được hình thành thông qua hai cơ chế chính: (1) Magmatic concentration - tích lũy cromit từ magma magmatic differentiation trong điều kiện mantle; (2) Metasomatic enrichment - sự tập trung lại từ các quá trình biến đổi. Cromit tại Núi Nưa phần lớn được di chuyển và tập trung trong các zonespecific, tạo nên các lớp quặng.

3.2. Đặc điểm địa hoá quặng và ứng dụng

Quặng cromit Cổ Định có hàm lượng Cr₂O₃ từ 45-52%, Al₂O₃ từ 15-20%, và Fe₂O₃ từ 20-25%. Tỷ lệ Cr₂O₃/Al₂O₃ cao, phù hợp với tiêu chuẩn quặng metallurgical-grade. Ứng dụng chính bao gồm sản xuất ferrochrome, refractories, và các sản phẩm hóa học chứa chromium.

IV. Bối cảnh kiến tạo và ý nghĩa khoa học

Sự tồn tại của tổ hợp ophiolit chứa đá peridotit Núi Nưaquặng cromit Cổ Định cung cấp bằng chứng quan trọng về quá trình subductionobduction trong lịch sử địa chất Đông Nam Á. Các phân tích địa hoá về Mg#, Cr#, và nguyên tố hiếm vết trong khoáng vật chỉ ra rằng peridotit này đã trải qua partial melting ở độ sâu mantle. Bối cảnh kiến tạo được hiểu là liên quan đến đới hấp dụng (subduction zone), nơi magma được tạo ra và sau đó bị đẩy trồi lên phía trên. Mức độ nóng chảy và nhiệt độ của magma có thể được ước tính từ thành phần olivinpyroxen, cho thấy các điều kiện hình thành ở khoảng 1200-1300°C.

4.1. Kiến tạo subduction zone ophiolit

Đá peridotit Núi Nưa phản ánh điều kiện hình thành trong subduction zone forearc điển hình. Các dạng quặng hóa cromit cũng thường xuất hiện trong các bối cảnh tương tự trên thế giới. Phân tích trace element patterns chuẩn hóa với mantle nguyên thuỷ cho thấy sự tương thích với mantle peridotite. Bằng chứng về cold deformationserpentinization cho thấy quá trình kiến tạo phức tạp.

4.2. Ý nghĩa khoa học và kinh tế

Nghiên cứu đá peridotitquặng cromit vùng Cổ Định giúp mở rộng hiểu biết về địa chất ophiolit Đông Nam Á. Giá trị kinh tế từ khai thác cromit rất lớn, góp phần phát triển công nghiệp khoáng sản. Đồng thời, các phát hiện địa hoá và địa tectonic mang ý nghĩa khoa học cao, giúp hoàn thiện lý thuyết về tectonic plate dynamicsmantle evolution.

21/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT VÙNG CỔ ĐỊNH, THANH HOÁ 1.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên 1.1 Vị trí địa lý khu vực nghiên cứu Vùng Cổ Định thuộc địa phận ba huyện Nông Cống, Tr iệu Sơn và Như Xuân, nằm trong khoảng toạ độ 105 o30’ đến 105o47’ kinh độ đông và 19o34’ đến 19o49’ vĩ độ bắc (Hình 1). Chiều dài 17 km theo phương tây bắc (315o), rộng từ 4 đến 6km, diện tích khoảng 10 km 2.2 Địa hình Địa hình khu vực nghiên cứu có xu hướng thấp dần từ phía tây bắc về phía đông nam, đỉnh cao nhất nằm ở khối Núi Nưa với độ cao 472m. Nhìn chung Núi bị phân cắt mạnh, hàng loạt khe rãnh, thung lũng tạo nên những bậc địa hình phức tạp. Bao quanh Núi Nưa về phía tây bắc, tây nam và một ít ở đông nam là những dãy đồi thấp, có một vài đồi sót nằm giữa đồng bằng ven Núi.3 Mạng Sông suối Trong vùng Cổ Định mạng lưới sông suối phát triển khá mạnh.

Các sông lớn là sông Mực và sông Nhà Lê. Hai con sông này chịu ảnh hưởng của thủy triều, mùa mưa thường gây ra lũ lụt. Các suối đổ vào các thung lũng ở phía đông bắc và tây nam của Núi thường ngắn và thẳng, có độ dốc khá lớn, lượng nước thay đổi theo mùa. Mùa khô lượng nước rất nhỏ, ở thượng lưu nhiều suối hầu như không có nước.

Mùa mưa lượng nước thường lớn, khi mưa to nước suối dâng lên rất nhanh có thể gây ra lũ. Các suối phát triển ở sườn đông của Núi Nưa hầu hết là suối nhỏ và suối cạn. Những suối này đều bắt nguồn từ sườn và phía bắc Núi Nưa nên hầu hết đổ vào vùng hồ và đầm lầy tạo thành tuyến kéo dài sát chân Núi.4 Khí hậu Vùng Cổ Định có chế độ nhiệt đới gió m ùa với đặc trưng là nhiệt độ và độ ẩm cao. Ngoài ra, vùng còn chịu ảnh hưởng của gió Lào tạo nên khí hậu khô nóng.

1 Nhìn chung trong một năm khí hậu của vùng có thể chia ra hai mùa rõ rệt. - Mùa mưa: từ tháng 5 đến tháng 11, lượng mưa tập trung trong các tháng 8, 9, 10 thường gây ra lũ lụt. Lượng mưa trung bình hàng năm từ 421 đến 1057mm, lớn nhất tới 2778mm, nhỏ nhất 72 đến 528mm. Nhiệt độ t ương đối cao, trung bình từ 25 đến 30°C, có khi lên tới 41°C.

- Mùa khô: từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. M ùa này ít mưa và thường mưa nhỏ, mưa phùn hay có mây mù, nhi ệt độ thấp, trung bình 15 đến 17°C đôi khi xuống tới 5°C.2 Đặc điểm kinh tế nhân văn 1.1 Đặc điểm dân cư, kinh tế Kinh tế trong vùng kém phát triển, chủ yếu là một nền kinh tế nông – lâm nghiệp và khai thác khoáng sản. Các huyện xung quanh vùng Núi Nưa đều có trường cấp I, II, III, nhà trẻ mẫu giáo. Các xã đều có trạm xá, nhà hộ sinh song cơ sở vật chất còn thiếu thốn.

Gần trung tâm huyện lỵ, thị trấn có hiệu sách nhân dân, 20 – 30% số xã trong vùng đã có hệ thống loa truyền thanh. Đa số dân cư là người Kinh, ngoài ra còn có người Mường, Thái sống rải rác ở các thung lũng phía tây Núi Nưa. Ngoài số dân sống lâu năm ở vùng này còn có đồng bào từ huyện miền xuôi lên tham gia xây dựng kinh tế - văn hóa miền Núi.2 Giao thông vận tải Đường bộ: Có thể đi từ thành phố Thanh Hoá đến vùng nghiên cứu, các thị trấn, huyện lỵ trong vùng bằng ô tô. Các đường ô tô được rải đá và một số nơi được rải bê tông, nhựa.

Ở phía Tây và phía tây bắc Núi Nưa, mặc dù địa hình có hiểm trở hơn song đường sá cũng được mở mang và phát triển. Đường xe lửa: từ vùng nghiên cứu ra ga Thanh Hoá khoảng 30km gặp tuyến đường sắt bắc nam có khả năng vận chuyển rất tốt. Nhìn chung việc đi lại trong vùng khá thuận tiện (Hình 1. 1 Khu vực nghiên cứu Hình 1.1 Vị trí địa lý vùng Cổ Định – Thanh Hóa 1.3 Đặc điểm địa chất 1.

Địa tầng Trên bản đồ địa chất và khoáng sản vùng Núi Nưa tỷ lệ 1:50.000 thành lập theo tài liệu bản đồ địa chất 1:200.000 nhóm tờ Thanh Hóa của L ê Duy Bách, Đặng Trần Quân (1995) địa tầng trong v ùng bao gồm các trầm tích có tuổi từ Neoproterozoi đến Mezozoi với diện lộ thường hẹp kéo dài theo phương đông bắc – tây nam, phần lớn chúng bị phủ bởi trầm tích Đệ tứ. GIỚI PALEOZOI HỆ CAMBRI, THỐNG GIỮA Hệ tầng Sông Mã (2 sm) Hệ tầng do Trần Văn Trị, Phạm Kim Ngân (trong Trần Văn Trị v à nnk, 1977) xác lập năm 1977. Các đá của hệ tầng Sông Mã lộ thành dải hẹp kéo dài phương tây bắc – đông nam. Thành phần chủ yếu của hệ tầng là đá phiến thạch anh – sericit – chlorit, đá phiến thạch anh – felspat – sericit – chlorit, đá phiến thạch anh – sericit màu xám, xám xanh phân lớp mỏng xen cát kết dạng quarzit v à ít đá vôi phân dải, đá vôi hoa hoá.

Tổng chiều dày của hệ tầng là 630m. Quan hệ trên và dưới của hệ tầng trong vùng chưa quan sát được. Dựa vào các hóa đá Bọ ba thuỳ (Inouyia sp.) tìm thấy trong các lớp đá vôi phân lớp mỏng 1 của hệ tầng ở Hoằng Hoá, hệ tầng đ ược định tuổi Cambri giữa. HỆ CAMBRI, THỐNG TRÊN – HỆ ORDOVIC, THỐNG DƯỚI Hệ tầng Hàm Rồng (3 – O1 hr) Hệ tầng Hàm Rồng được coi như tương ứng với khối lượng hệ tầng trầm tích Cambri trên do E.

Đovjicop và nnk, (1965) đ ã mô tả. Trong phạm vi vùng nghiên cứu, các đá của hệ tầng này phân bố rải rác ở Hà Trung và tây nam Núi Nưa. Tại vùng Đông Sơn có thể quan sát mặt cắt của hệ tầng từ cầu H àm Rồng đến làng Đông Sơn dày 500 – 600m , gồm hai phần. Phần dưới: là cát kết, bột kết xen kẹp đá vôi phân lớp màu xám đen hoặc màu hồng, đôi khi xen sét vôi màu xám vàng chứa Billingsella sp., Obolus blackưelderi.

Chiều dày của phần này là 200 – 250m. Phần trên: là đá vôi phân lớp dạng dải, đôi khi bị hoa hoá, quarzit hạt mịn sáng màu chuyển lên cát kết xen ít đá phiến có hoá đá Conodonta: Oneotdus sp. tuổi Ordovic sớm do Phạm Kim Ngân phát hiện năm 1992. Chiều dày của phần này là 300 – 350m.

Hệ tầng Hàm Rồng nằm chỉnh hợp trên hệ tầng Sông Mã (2 sm) và cũng chỉnh hợp dưới hệ tầng Đông Sơn (O1 đs). Trên cơ sở hoá đá và quan hệ địa tầng nêu trên, hệ tầng được coi là có tuổi Cambri muộn – Ordovic sớm. HỆ DEVON, THỐNG TRÊN Hệ tầng Bản Cải (D3 bc) Hệ tầng Bản Cải do Nguyễn Xuân Bao (1969) xác lập theo mặt cắt ở th ượng nguồn Sông Mua (hạ lưu SôngĐà). Trong khu vực nghiên cứu, hệ tầng được đặc trưng bởi các đá phiến sét silic, đá vôi sét, vôi silic và đá vôi, dày 100 – 200m, lộ ra trên diện tích nhỏ ở phía Đông khối Núi Nưa.

Ở đây Tạ Hoà Phương phát hiện được hoá đá Răng nón Palmatolepis glabra, P. minuta, Polygnathus glabra, P, mar ginifera, Stachyodes aff. costulata tuổi Devon muộn. HỆ CARBON – HỆ PECMI Hệ tầng Bắc Sơn (C – P bs) 1 Hệ tầng Bắc Sơn do Phan Cự Tiến (1980) mô tả trên cơ sở loạt Bắc Sơn của Nguyễn Văn Liêm (1968) ở miền đông Bắc Bộ, bao gồm một hệ tầng đá vôi d ày có tuổi từ Carbon sớm đến Pecmi muộn.

Trong khu vực nghiên cứu, hệ tầng Bắc Sơn phân bố ở phía Đông khối Núi Nưa. Do hệ tầng lộ không liên tục nên không quan sát được mặt cắt đầy đủ của nó. Mặt cắt từ Chợ Nưa về ga Yên Thái gồm 3 phần. Phần dưới: silic màu xám đen phân lớp mỏng (3 – 10cm), bột kết màu tím, bột kết chứa silic màu xám đen.

Chiều dày của tập là 50m. Phần giữa: đá vôi xám phân lớp dày (0.7 – 1m) xen với silic màu phớt hồng, chứa San hô Lihostrotionidae gen. Chiều dày của tập là 125m. Phần trên: đá vôi xám đen, xám sáng, phân lớp dày, có chỗ phân lớp mỏng, chứa phong phú Trùng lỗ: Eostaffe sp., và Rugosa: Aulophyllidae gen.

Chiều dày của tập là 250m. Chiều dày chung của hệ tầng đạt tới 425m. HỆ PECMI, THỐNG TRÊN Hệ tầng Yên Duyệt (P2 yd) Hệ tầng do Phan Cự Tiến xác lập tr ên cơ sở những tài liệu hiệu đính loạt tờ bản đồ địa chất Tây Bắc Bộ (Phan Cự Tiến v à nnk, 1977) và những tài liệu đo vẽ tờ bản đồ địa chất Ninh Bình (Đinh Minh Mộng và nnk, 1978). Hệ tầng Yên Duyệt phân bố ở rải rác ở phía bắc và tây bắc khu vực nghiên cứu.

Thành phần của hệ tầng gồm: đá vôi màu xám đen, phân lớp dày, đá phiến sét vôi, cát kết hạt trung m àu xám xanh, sét kết chứa than màu nâu gụ, cát kết, sét kết màu xám đen… Chiều dày chung của hệ tầng 150m. Hệ tầng Yên Duyệt nằm chỉnh hợp trên hệ tầng Cẩm Thuỷ và có quan hệ kiến tạo với hệ tầng Cò Nòi (T1cn) nằm trên. GIỚI MESOZOI HỆ TRIAT, THỐNG GIỮA, BẬC ANISI Hệ tầng Đồng Trầu (T2a đt) Hệ tầng Đồng Trầu do A. Hệ tầng này phân bố rộng rãi ở phía tây nam của đứt gãy Sông Mã, chiếm hầu hết diện tích 1 đới Sầm Nưa.

Dựa trên đặc điểm thạch học có thể chia làm 2 phân hệ tầng. Phân hệ tầng dưới (T2a đt1) phân bố thành nhiều dải có phương chung tây bắc – đông nam. Phần dưới của mặt cắt lộ ra khá đầy đủ tr ên đường 15C, đoạn từ Núi Khê ra Đồng Cao, từ dưới lên có 4 tập. Tập 1: chủ yếu là kết tuf chứa ít cuội thạch anh, phần tr ên có một ít lớp mỏng cát kết.

Chiều dày của tập là 120m. Tập 2: cát kết tuf, phần dưới xen vài lớp mỏng màu đen, phần trên xen ít lớp silic. Chiều dày của tập là 500m. Tập 3: cuội kết, sạn kết, cát kết, ít lớp mỏng bột kết m àu xám, chứa di tích thực vật bảo tồn xấu.

Chiều dày của tập là 200m. Tập 4: cát kết thạch anh – felspat chứa mica hạt vừa, hạt nhỏ xen các lớp cát bột kết chứa hoá đá bảo tồn xấu. Chiều dày của tập là 250m. Phân hệ tầng trên (T2a đt2) Trên đoạn Đồng Hông - Bát Văn cũng của đường 15C lộ tiếp phân hệ tầng trên gồm từ tập 5 đến tập 8.

Tập 5: cát bột kết phân lớp mỏng xen cát kết hạt nhỏ đến vừa. Tập n ày dày 200m.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ