Đặt vấn đề Việt Nam là một trong các quốc gia được ưu tiên cho bảo tồn toàn cầu. Sự đa dạng về địa hình, cảnh quan và khí hậu đã tạo nên sự đa dạng của các hệ sinh thái, các loài sinh vật và nguồn gen. Hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên bao gồm 164 khu rừng đặc dụng; 16 Khu bảo tồn biển và 48 Khu bảo tồn đất ngập nước nội địa; 2 Khu di sản thiên nhiên thế giới; 4 Vườn di sản ASEAN; 2 Khu Ramsar và 9 Khu dự trữ sinh quyển thế giới (Tổng Cục Môi trường, 2010. Báo cáo công tác bảo tồn đa dạng sinh học giai đoạn 2005 – 2010 và phương hướng giai đoạn 2011 - 2015).
Theo Quyết định 1976/QĐ-TTg (2014), hiện nay diện tích của các khu bảo tồn thiên nhiên là 1. Các khu bảo tồn thiên nhiên đã góp phần duy trì diện tích rừng tự nhiên, bảo tồn và phát triển bền vững các hệ sinh thái tự nhiên quan trọng, giá trị cảnh quan, di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh và các loài sinh vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm hoặc có giá trị cao về kinh tế trong hệ thống rừng đặc dụng. Một trong số các giải pháp đã đặt ra là tăng cường giám sát tài nguyên rừng, nghiên cứu khoa học góp phần nâng cao công tác quản lý bảo vệ cũng như bảo tồn rừng. Rừng tự nhiên hỗn loài nhiệt đới được hình thành bởi nhiều loài cây gỗ có những đặc tính sinh học khác nhau.
Bên cạnh đó, các loài cây gỗ của rừng mưa tự nhiên nhiệt đới phân bố không đồng đều theo không gian (Nguyễn Văn Trương, 1984; Thái Văn Trừng, 1999; Nguyễn Văn Thêm, 2002). Từ đó hình thành nên những quần xã thực vật (QXTV) có hình thái và cấu trúc khác nhau. Ngoài ra, sự phân bố của các loài cây gỗ cũng chịu ảnh hưởng của những điều kiện tự nhiên (vị trí địa lý, khí hậu, địa hình, đất) và hoạt động của con người. Vì thế, nghiên cứu những đặc điểm lâm học và đa dạng loài cây gỗ của các QXTV thuộc những kiểu rừng khác nhau là một vấn đề cấp thiết.
Kết quả nghiên cứu không chỉ là cơ sở để 2 phân tích và đánh giá đặc tính sinh thái của rừng, mà còn xây dựng những biện pháp quản lý rừng, bảo tồn rừng và những phương thức lâm sinh. Khu Bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Bình Châu – Phước Bửu thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu là khu bảo tồn thiên nhiên ven biển duy nhất còn lại ở Nam Bộ. Tổng diện tích của KBTTN Bình Châu – Phước Bửu là 10. Rừng phân bố chủ yếu trên 3 loại đất chính là đất nâu đỏ (804,1 hay chiếm 7,4%); đất nâu vàng (5.405,5 hay chiếm 49,7%) và đất vàng nhạt (3.
Những loại đất khác như đất cát đỏ, cát trắng ven biển, đất phèn ngập nước và các bưng có diện tích 1. Hệ sinh thái rừng ở KBTTN Bình Châu – Phước Bửu có hệ thực vật rất phong phú và đa dạng, bao gồm 750 loài của 123 họ; trong đó có nhiều loài cây gỗ quý, hiếm và có giá trị cao về kinh tế như Cẩm lai (Dalbegia oliveri), Gõ đỏ (Afzelia xylocarpa), Gõ mật (Sindora siamensis var siamensis), Giáng hương (Pterocarpus pedatus), Bình linh nghệ (Vitex ajugaeflora), Dầu cát (Dipterocarpus insularis) (Phân viện Điều tra – Quy hoạch rừng II, 2000). Ngoài ra, Khu Bảo tồn thiên nhiên này còn có vai trò bảo vệ bờ biển, phòng chống cát bay, bảo vệ và nuôi dưỡng nguồn nước ngọt và phòng thủ quốc gia. Trong lâm học, những vấn đề được đặt ra không chỉ bao gồm thành phần loài cây gỗ và trữ lượng gỗ, mà còn cả kết cấu loài cây gỗ, cấu trúc quần thụ, tái sinh tự nhiên và diễn thế rừng.
Những thông tin về kết cấu loài cây gỗ và cấu trúc quần thụ là cơ sở để phân chia nhỏ kiểu rừng thành những kiểu QXTV. Những kiến thức về tái sinh rừng và diễn thế rừng là cơ sở để xây dựng những phương thức lâm sinh và điều chế rừng. Ngày nay, do nhiều hệ sinh thái rừng đã bị suy thoái, nên nhiều loài sinh vật đã bị tuyệt chủng hoặc có nguy cơ tuyệt chủng. Vì thế, bảo vệ rừng và đa dạng sinh vật là những vấn đề được các nhà khoa học và các nhà quản lý hết sức quan tâm.
Theo hệ thống phân loại rừng của Thái Văn Trừng (1999), Khu BTTN Bình Châu - Phước Bửu bao gồm một số kiểu rừng khác nhau; trong đó chủ yếu là rừng kín thường xanh hơi ẩm nhiệt đới (Rkx). Kiểu rừng này phân bố ven biển và ở độ 3 cao dưới 300 m so với mặt biển. Trước đây đã có một số công trình nghiên cứu về đặc điểm lâm học của Rkx ở Khu BTTN Bình Châu - Phước Bửu. Nói chung, ngoài những khảo sát về hệ thực vật và trữ lượng gỗ, cho đến nay vẫn còn rất ít những công trình nghiên cứu về những đặc tính của Rkx ở Khu BTTN Bình Châu - Phước Bửu.
Khi nghiên cứu về rừng, lâm học thường tập trung làm rõ những điều kiện môi trường hình thành rừng, kết cấu loài cây gỗ, cấu trúc quần thụ, sinh trưởng và phát triển của cây cá thể và quần thụ, quá trình tái sinh và diễn thế. Khi nghiên cứu về đa dạng loài cây gỗ, các nhà sinh thái học và lâm học thường quan tâm đến thành phần loài và chỉ số phong phú về loài, chỉ số đồng đều về độ phong phú của các loài và chỉ số đa dạng. Nghiên cứu này tập trung trả lời bốn câu hỏi sau đây: (1) Kiểu Rkx ở khu vực nghiên cứu có kết cấu loài cây gỗ như thế nào? (2) Cấu trúc quần thụ của kiểu Rkx ở khu vực nghiên cứu như thế nào? (3) Tình trạng tái sinh tự nhiên có đảm bảo cho kiểu Rkx ở khu vực nghiên cứu tồn tại ổn định theo thời gian hay không? (4) Đa dạng loài cây gỗ và những yếu tố ảnh hưởng đến đa dạng loài cây gỗ của kiểu Rkx ở khu vực nghiên cứu như thế nào? Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu chung Phân tích đa dạng loài cây gỗ đối với kiểu rừng kín thường xanh hơi ẩm nhiệt đới để làm cơ sở cho quản lý rừng và bảo tồn đa dạng sinh vật. Mục tiêu cụ thể (a) Xác định kết cấu loài cây gỗ, cấu trúc quần thụ và tình trạng tái sinh tự nhiên đối với những trạng thái rừng khác nhau.
(b) Phân tích đa dạng loài cây gỗ và những yếu tố ảnh hưởng. Đối tượng và điều kiện tự nhiên của khu vực nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là những trạng thái rừng khác nhau thuộc Rkx tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu. 4 Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu có tổng diện tích là 10.880,3 ha (100%); trong đó rừng tự nhiên là 8.017,27 ha (73,7%), rừng trồng là 1.292,54 ha (11,9%), đất chưa có rừng là 1. Độ che phủ của rừng là 85,6%.
Tọa độ địa lý: 10037’57’’ đến 10037’46’’ vĩ độ Bắc, 107024’31’’ đến 107036’07’’ kinh độ Đông. Khu bảo tồn có ranh giới về phía Bắc giáp Ban quản lý rừng Xuyên Mộc; phía Nam giáp Biển Đông; phía Đông giáp huyện Hàm Tân thuộc tỉnh Bình Thuận và phía Tây giáp sông Hỏa và tỉnh lộ 328. Khu vực này nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa. Hàng năm có hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô.
Mùa mưa kéo dài 6 tháng từ tháng 5 đến tháng 10. Mùa khô kéo dài từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau. Tổng lượng mưa trung bình năm là 1. Độ ẩm không khí trung bình năm là 85,2%; trong đó độ ẩm trung bình thấp nhất là 36% (thàng 12 và tháng 1).
Nhiệt độ bình quân 25,80C, cao nhất 380C và thấp nhất 190C. Chế độ gió tại khu vực bao gồm gió Tây Nam thổi vào mùa mưa và gió Đông Bắc thổi vào mùa khô. Hệ thống sông suối trong khu bảo tồn nhìn chung không đáng kể, chỉ có suối cát và suối đá. Mực nước ngầm tương đối thấp.
Rải rác trong khu bảo tồn cũng có các bàu và hồ như bàu Nhám, bàu Tròn, hồ Cốc, hồ Linh có nước quanh năm. Khu Bảo tồn nằm trên 3 nền địa chất là đá macma chứa granit, bazan và trầm tích phù sa cổ. Đất bao gồm 3 loại đất chính. Đất nâu đỏ phát triển trên đa bazan, tầng đất dày, thành phần cơ giới thịt nhẹ, hàm lượng NPK cao.
Đất nâu vàng phát triển trên phù sa cổ có tỷ lệ cát khá cao (60 – 70%), hàm lượng NPK thấp. Đất vàng nhạt phát triển trên đa macma-granit và trầm tích, thành phần cơ giới nhẹ (cát chiếm 40 – 60%), tầng đất sâu, tầng mùn mỏng, hàm lượng NPK thấp. Phạm vi nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu của đề tài là đa dạng loài cây gỗ và những yếu tố ảnh hưởng. Ngoài ra, đề tài cũng phân tích kết cấu loài cây gỗ, cấu trúc quần thụ và tình trạng tái sinh tự nhiên đối với Rkx.
Sở dĩ luận án chỉ nghiên cứu 4 vấn đề này là vì đây là những đặc tính quan trọng của rừng. Tính quan trọng biểu hiện ở chỗ đa dạng loài cây gỗ là căn cứ để xác định những biện pháp bảo tồn đa dạng sinh vật và 5 tuyển chọn những loài cây gỗ trong kinh doanh rừng. Kết cấu loài cây gỗ không chỉ là căn cứ để xác định mục tiêu sử dụng rừng, mà còn để tuyển chọn những loài cây gỗ trong nuôi dưỡng và phục hồi rừng trên những khu vực đã mất rừng. Những thông tin về cấu trúc quần thụ và tái sinh tự nhiên của rừng là căn cứ để xác định tính ổn định của rừng và những biện pháp xử lý rừng.
Địa điểm nghiên cứu được đặt tại KBTTN Bình Châu – Phước Bửu thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng tàu. Thời gian nghiên cứu từ năm 2013 – 2018. Ý nghĩa nghiên cứu Về lý luận, luận án cung cấp những thông tin để so sánh đa dạng loài cây gỗ và những đặc tính của kiểu Rkx ở mức địa phương, vùng và quốc gia. Về thực tiễn, luận án cung cấp những thông tin để làm cơ sở khoa học cho quản lý rừng và bảo tồn đa dạng loài cây gỗ.
Những kết quả mới của đề tài (1) Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng số họ và số loài cây gỗ bắt gặp trong rừng kín thường xanh hơi ẩm nhiệt đới tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu ở trạng thái rừng nghèo (32 họ và 103 loài) cao hơn so với trạng thái rừng trung bình (32 họ và 89 loài) và trạng thái rừng giàu (31 họ và 83 loài). Kiểu rừng này bắt gặp 22 loài cây gỗ ở mức cực kỳ hiếm, 6 loài ở mức rất hiếm và 34 ở mức hiếm.