MỞ ĐẦU. Lí do chọn đề tài. Mục đích nghiên cứu. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn.
2 CHƢƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và tài nguyên thiên nhiên khu vực nghiên cứu. E rror! Bookmark not defined. Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên.
E rror! Bookmark not defined. Vị trí địa lý. E rror! Bookmark not defined. Điều kiện địa chất- thổ nhưỡng.
Điều kiện khí hậu- thủy văn. Tình hình kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu. Hiện trạng đa dạng sinh học. Khái quát về ong xã hội bắt mồi.
Tình hình nghiên cứu về ong bắt mồi trên thế giới và ở Việt Nam. Tình hình nghiên cứu ong bắt mồi trên thế giới. Tình hình nghiên cứu ong bắt mồi ở Việt Nam. 15 CHƢƠNG II: ĐỐI TƢỢNG, ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu.1 Đối tượng nghiên cứu. Thời gian nghiên cứu………………………………………………….Error! Bookmark not defined. Địa điểm nghiên cứu. E rror! Bookmark not defined.
Nội dung nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu. Phương pháp thu mẫu ngoài thực địa. Phương pháp xử lý mẫu vật trong phòng thí nghiệm.
Phương pháp quan sát mẫu vật. Phương pháp định loại ………………………………………………. Phương pháp xử lí số liệu……………………………………….20 CHƢƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN. Thành phần và mức độ phổ biến của các loài ong xã hội bắt mồi ở khu vực Đông Bắc.
Thành phần các loài ong xã hội bắt mồi ở khu vực Đông Bắc. Mức độ phổ biến của các loài ong xã hội bắt mồi ở khu vực Đông Bắc. Vị trí số lượng của các loài ong tại khu vực nghiên cứu. Sự phân bố các loài ong xã hội bắt mồi ở các đai độ cao khác nhau ở khu vực Đông Bắc.
Sự phân bố của các loài ong xã hội bắt mồi ở các đai độ cao khác nhau của khu vực Đông Bắc. Các loài ong chiếm ưu thế về số lượng tại các đai độ cao khác nhau của khu vực Đông Bắc. So sánh tính đa dạng của các loài ong xã hội bắt mồi ở các đai độ cao khác nhau của khu vực Đông Bắc. Độ tương đồng thành phần loài ong xã hội bắt mồi ở các đai độ cao khác nhau của khu vực Đông Bắc.
So sánh chỉ số đa dạng của các loài ong xã hội bắt mồi ở các đai độ cao khác nhau của khu vực Đông Bắc. 43 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ. 48 TÀI LIỆU THAM KHẢO. Tài liệu tiếng việt.
E rror! Bookmark not defined. Tài liệu tiếng anh. Tài liệu Internet. 51 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN….
Lí do chọn đề tài Các loài ong thuộc họ Vespidae được biết đến như là nhóm bắt mồi quan trọng, một số loài được sử dụng trong phòng trừ sâu hại như Polistes olivaceus (DeGeer), một số loài có vai trò thụ phấn cho thực vật như Polistes japonicus de Saussure, Polistes sagittarius de Saussure (Khuất Đăng Long và nnk. Hơn thế nữa, do nhạy cảm với những tác động của môi trường nên chúng được sử dụng như những loài chỉ thị sinh học cho môi trường. Tuy nhiên, gần đây một số loài thuộc giống Vespa như V. soror du Buysson, V.
velutina Lepeletier gây tác hại nghiêm trọng do chúng tấn công các đàn ong mật được người dân địa phương nhân nuôi, làm sụt giảm số lượng ong trong đàn hay phá tan đàn. Biện pháp phòng chống các loài này chưa được nghiên cứu. Vùng Đông Bắc nước ta mặc dù có tính đa dạng sinh học cao và đang lưu giữ nhiều nguồn gen quý hiếm, độc đáo, không chỉ có giá trị về mặt khoa học mà còn có ý nghĩa kinh tế, nhưng tài nguyên thiên nhiên ở đây chưa được khai thác một cách hiệu quả và bền vững, diện tích rừng tự nhiên ngày càng giảm do nạn phá rừng làm nương rẫy và khai thác gỗ, thêm vào đó, việc khai thác khoáng sản không được kiểm soát làm xói mòn và thoái hóa đất, thiếu và ô nhiễm nguồn nước dẫn đến việc sút giảm đa dạng sinh học Nhằm nghiên cứu tính đa dạng, làm nền tảng cho việc bảo tồn đa dạng sinh học, làm cơ sở nghiên cứu chỉ thị sinh học và tìm ra các loài có giá trị kinh tế, có khả năng nhân nuôi, giúp phát triển nền kinh tế địa phương, tôi lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu sự đa dạng của các loài ong xã hội bắt mồi thuộc họ ong Vàng (Hymenoptera: Vespidae) ở các đai độ cao khác nhau của khu vực Đông Bắc”. Vũ Thị Vân Cao học K18 Trang 1 2.
Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu sự đa dạng của các loài ong xã hội bắt mồi thuộc họ ong Vàng ở khu vực Đông Bắc, so sánh sự đa dạng của chúng ở các đai độ cao khác nhau, làm cơ sở cho những nghiên cứu về sinh học sinh thái, sử dụng các loài ong bắt mồi làm chỉ thị sinh học và ứng dụng trong phòng trừ sinh học. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn - Ý nghĩa khoa học: Nghiên cứu nhằm đưa ra những dẫn liệu mới về thành phần và sự đa dạng của các loài ong xã hội bắt mồi thuộc họ ong Vàng ở khu vực Đông Bắc, làm cơ sở cho những nghiên cứu về sinh học sinh thái, sử dụng các loài ong làm chỉ thị sinh học và ứng dụng trong phòng trừ sinh học. - Ý nghĩa thực tiễn: Đề xuất những giải pháp bảo tồn sự đa dạng của các loài ong. Điểm mới Đây là nghiên cứu đầu tiên về sự đa dạng thành phần của các loài ong xã hội bắt mồi thuộc họ ong Vàng ở các đai độ cao khác nhau thuộc khu vực Đông Bắc Việt Nam.
Vũ Thị Vân Cao học K18 Trang 2 CHƢƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và tài nguyên thiên nhiên khu vực nghiên cứu. Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên 1. Vị trí địa lý Vùng Đông Bắc (20043’- 23024’vĩ độ Bắc, 10303’ -108007’ kinh độ Đông) được giới hạn về phía bắc và đông bởi đường biên giới Việt -Trung, phía đông nam trông ra vịnh Bắc Bộ, phía nam giới hạn bởi dãy núi Tam Đảo và vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, phần phía tây, được giới hạn bởi thung lũng sông Hồng và thượng nguồn sông Chảy[13].
Địa hình Đây là vùng núi và trung du với nhiều khối núi và dãy núi đá vôi hoặc núi đất, cao hơn, được cấu tạo bởi đá granit, đá phiến và các cao nguyên đá vôi. Những đỉnh núi cao của vùng Đông Bắc đều tập trung ở đây, như Tây Côn Lĩnh, Kiêu Liêu Ti. Phần phía bắc sát biên giới Việt-Trung là các cao nguyên (sơn nguyên) lần lượt từ tây sang đông gồm: cao nguyên Bắc Hà, cao nguyên Quản Bạ, cao nguyên Đồng Văn. Hai cao nguyên đầu có độ cao trung bình từ 1000–1200 m.
Cao nguyên Đồng Văn cao 1600 m. Sông suối chảy qua cao nguyên tạo ra một số hẻm núi dài và sâu. Cũng có một số đồng bằng nhỏ hẹp, đó là Thất Khê, Lạng Sơn, Lộc Bình, Cao Bằng. Phía đông, từ trung lưu sông Gâm trở ra biển, thấp hơn có nhiều dãy núi hình vòng cung quay lưng về hướng Đông lần lượt từ Đông sang Tây là vòng cung Sông Gâm, Ngân Sơn- Yên Lạc, Bắc Sơn, Đông Triều.
Các dãy núi vòng cung này hầu như đều trụm đuôi lại ở Tam Đảo. Phía tây nam, từ Phú Thọ, nam Tuyên Quang, nam Yên Bái, và Thái Nguyên, thấp dần về phía đồng bằng. Người ta quen gọi phần này là "vùng trung du". Độ cao của phần này chừng 100–150 m, đặc trưng của vùng Trung du là có vùng Đồng Bằng khá rộng bị chia cắt bởi gò đồi[13].
Vũ Thị Vân Cao học K18 Trang 3 Dựa vào sự phân chia các vùng địa lý tự nhiên đồng thời kết hợp với việc phân vùng sinh thái lâm nghiệp, diện tích núi đá vôi ở Việt Nam được chia thành 5 vùng sinh thái (Nguyễn Huy Phồn và nnk. Trong đó khu vực Đông Bắc (bao gồm các tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Bắc Giang và Quảng Ninh) với vùng địa lý tự nhiên gồm bốn cánh cung là cánh cung sông Gâm, cánh cung Ngân Sơn, cánh cung Bắc Sơn và cánh cung Đông Triều được chia thành 2 vùng sinh thái như sau: - Vùng Cao Bằng – Lạng Sơn với hai vùng phụ chủ yếu là vùng phụ núi đá vôi Ngân Sơn – Trùng Khánh và vùng phụ núi đá vôi Bắc Sơn. Với diện tích 347.700 ha, đây là vùng có núi đá vôi tập trung lớn nhất trong cả nước. Hoạt động xâm nhập ở vùng Đông Bắc chủ yếu cũng tập trung vào miền này.
Vùng này ở vào vĩ độ cao của nước ta, mang dấu hiệu chuyển tiếp từ khí hậu nhiệt đới sang á nhiệt đới. Kiểu núi đá vôi ở đây là trung bình và thấp, bao gồm một số cao nguyên đá vôi khối uốn nếp có quá trình hoạt động Cacxtơ là kiểu địa mạo chủ yếu của vùng. - Vùng Tuyên Quang – Hà Giang với hai vùng phụ là vùng phụ núi đá vôi Quản Bạ - Phia Phương và vùng phụ cao nguyên đá vôi Bắc Hà. Vùng này có diện tích núi đá là 130.
Các loại đá vôi chiếm vai trò chủ yếu trong việc cấu tạo nên các núi trong vùng. Núi đá vôi tạo thành một dải không liên tục theo hướng Tây Bắc, tập trung chủ yếu ở phía Bắc và Đông Bắc, tạo thành từng khối lớn. Độ cao vùng này lớn hơn vùng Cao Bằng – Lạng Sơn, các dãy núi phía Bắc cao tới 1000m. Điều kiện địa chất- thổ nhưỡng *Điều kiện địa chất Cơ sở lục địa của miền đông bắc được hình thành từ liên đại Nguyên sinh cách đây gần 600 triệu năm.
Biển tiến và thoái liên tục cho đến chu kỳ tạo núi Indochina thì miền đông bắc thoát hẳn khỏi chế độ biển và bắt đầu chế độ lục địa. Vận động tạo núi Himalaya sau đó lan tới đây làm cho toàn miền được Vũ Thị Vân Cao học K18 Trang 4 nâng lên và cũng đồng thời tạo ra những đứt gãy. Đất bị phơi trần và chịu tác động của nắng, mưa và gió nên không ngừng bị phân hủy trong khi các đỉnh núi bị san mòn bớt[13] *Điều kiện thổ nhưỡng Xen kẽ giữa các thời kì lắng đọng trầm tích là các vận động nâng lên và đứt gãy có các hoạt động magma ở thể xâm nhập và phun trào tuổi trung sinh như các khối Riolit Tam Đảo, núi Nam Châu Lãnh, máng trũng Cao Bằng- Lạng Sơn…đá granit ở Phia Oắc một phần Móng Cái, đá bazan xâm nhập ở Cao Bằng.