phần mở đầu, những nội dung chính được trình bày bao gồm: sự cần thiết thực hiện nghiên cứu của đề tài; mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu; phạm vi nghiên cứu về đối tượng, không gian và thời gian; ý nghĩa về mặt khoa học, thực tiễn và chính sách của đề tài. Sự cần thiết của đề tài 1. Sự cần thiết về mặt lý luận Xuất khẩu là một trong những con đường vững chắc mang lại thịnh vượng kinh tế (Krugman và ctv, 2015; World Bank, 2007). Tăng trưởng xuất khẩu các mặt hàng nông nghiệp liên quan đến sinh kế của nhiều người lao động phổ thông và các nông hộ là một nhân tố rất quan trọng giúp giảm nghèo bền vững cũng như các tiến bộ khác ở khu vực nông thôn (Krumm và Kharas, 2004).
Tuy nhiên, trong tiến trình hội nhập thương mại quốc tế, duy trì và mở rộng tăng trưởng xuất khẩu là một thách thức lớn đối với các quốc gia (Perkins và ctv, 2009). Đặc biệt là với lĩnh vực xuất nghiệp, xuất khẩu thường xuyên đối diện với các cú sốc ngoại sinh như do w n loadkhẩu thnông yj uy i pl a luan van full moi nhat z z vb htj mk gmail biến động kinh tế, chính trị, thuế quan; các biện pháp vệ sinh dịch tễ và hàng rào kỹ thuật của các quốc gia nhập khẩu; những yêu cầu ngày càng cao về các chứng nhận, chất lượng sản phẩm; và áp lực cạnh tranh lớn từ nhiều quốc gia xuất khẩu khác. Do đó, các nghiên cứu đóng góp vào lý thuyết cũng như thực tiễn liên quan đến tăng trưởng xuất khẩu, tính bền vững của hoạt động sản xuất hàng xuất khẩu của một nền kinh tế nói chung và của những mặt hàng xuất khẩu nông nghiệp chủ lực của một quốc gia nói riêng là rất cần thiết. Các quốc gia, đặc biệt là những nước đang phát triển ngày càng chú trọng nhiều hơn đến hoạt động đa dạng hóa xuất khẩu (McIntyre và ctv, 2018; Newfarmer, 2009).
Đa dạng hóa xuất khẩu đóng vai trò như một tấm đệm giúp lĩnh vực xuất khẩu chống lại, giảm nhẹ tác động của những cú sốc ngoại sinh (Haddad và ctv, 2012); trong khi đó khả năng chống chịu của xuất khẩu trước những cú sốc ngoại sinh khác nhau là rất quan trọng đối với tăng trưởng xuất khẩu bền vững (Laskiene và Vitalija, 2014). Đồng thời, một quốc gia hay một ngành khi tiến hành đa dạng hóa xuất khẩu thì lĩnh vực xuất khẩu còn có cơ hội thu được nhiều lợi ích kinh tế quan trọng khác 2 như mở rộng cơ hội xuất khẩu, tận dụng năng lực sản xuất dư thừa, nâng cao kỹ thuật công nghệ, cải thiện năng suất. Tầm quan trọng của đa dạng hóa xuất khẩu đối với hoạt động xuất khẩu đã được điều tra và nhấn mạnh trong nhiều nghiên cứu như Bodlaj và ctv (2020); Cieślik và ctv (2012); Lee và Yu (2018); Newfarmer (2009); Samen (2010b); Xuefeng và Yaşar, (2016). Do đó, đa dạng hóa xuất khẩu được kỳ vọng là một chính sách hữu hiệu giúp thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu (Cadot và ctv, 2011; Reis và Farole, 2012).
Tuy nhiên, đa dạng hóa xuất khẩu vẫn là một chủ đề tranh luận trong thương mại quốc tế (Cieślik và ctv, 2012). Lý thuyết lợi thế so sánh cho biết tăng trưởng xuất khẩu đạt được thông qua tập trung vào một số thị trường và/hoặc một vài sản phẩm xuất khẩu. Nghiên cứu của Felbermayr và Kohler (2006) cho biết tăng trưởng xuất khẩu của nhiều quốc gia trên thế giới diễn ra trong biên độ tập trung. Ngoài ra, phần lớn các nghiên cứu về vai trò của đa dạng hóa xuất khẩu đối với hoạt động xuất khẩu nói chung và tăng trưởng xuất khẩu nói riêng đều được thực hiện ở phương diện xuất khẩu của một quốc gia, một ngành gộp hay xuất khẩu của các doanh nghiệp; nghiên cứu ở khía cạnh xuất khẩu của một mặt hàng còn chưa được quan tâm.
Do đó, nghiên do w n loadcứuthvaiyjtròuy i pl a luan van full moi nhat z z vb htj mk gmail của đa dạng hóa xuất khẩu đối với tăng trưởng xuất khẩu của một mặt hàng nói chung và ở một mặt hàng nông nghiệp nói riêng là rất hữu ích. Kết quả nghiên cứu không chỉ đóng góp vào thực tiễn mà còn cả về cơ sở lý thuyết về vai trò, tầm quan trọng của đa dạng hóa xuất khẩu đối với hoạt động xuất khẩu. Trong tiến trình hội nhập thương mại quốc tế, xuất khẩu nông nghiệp của các quốc gia đang phát triển chỉ có thể mở rộng và duy trì tăng trưởng khi sản phẩm xuất khẩu đáp ứng được các tiêu chuẩn nghiêm ngặt về an toàn thực phẩm và đạt chứng nhận quốc tế về sản xuất bền vững. Điều này là vì tự do hóa thương mại có thể dẫn đến động cơ gia tăng các rào cản phi thuế quan ở các quốc gia, điển hình là các hàng rào kỹ thuật và các biện pháp vệ sinh dịch tễ trong thương mại đối với nông thủy sản nhập khẩu (Kareem, 2016).
Đồng thời, để tiếp cận được thị trường xuất khẩu, đặc biệt là những nước phát triển, ngoài các tiêu chuẩn rất cao về an toàn thực phẩm do chính phủ quốc gia nhập khẩu yêu cầu thì sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu còn phải đạt một/nhiều chứng nhận quốc tế liên quan đến sản xuất bền vững về xã hội và môi trường như Thực hành Nông nghiệp Tốt Toàn cầu (GlobalGap), Hội đồng Quản lý 3 Nuôi trồng Thủy sản (ASC) do các tổ chức phi chính phủ thúc đẩy (Tran và ctv, 2013; VASEP, 2020). Sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu đạt chứng nhận sản xuất bền vững sẽ có cơ hội bán được giá cao hơn, có nhiều thị trường xuất khẩu sinh lợi hơn (Alam, 2016; Pham và ctv 2018). Tuy nhiên, chuỗi cung ứng xuất khẩu nông nghiệp của các nước đang phát triển thường khởi đầu từ rất nhiều các nông hộ sản xuất nhỏ lẻ và phần lớn trong số họ không có đủ nguồn lực cần thiết cũng như khả năng tiếp cận tín dụng hạn chế để đầu tư, thực hành sản xuất đáp ứng các yêu cầu cao về sản phẩm nguyên liệu xuất khẩu (Tveteraas, 2015). Một trong những trở ngại chính khi các nông hộ thực hiện những chương trình chứng nhận quốc tế là sự phức tạp trong việc thực hành và chi phí sản xuất cao hơn dành cho việc đầu tư, tuân thủ các yêu cầu sản xuất khắt khe (Little và ctv, 2017).
Do vậy, giá bán cho người tiêu dùng hay giá xuất khẩu cao hơn khi sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu đạt các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm và chứng nhận quốc tế nếu không được truyền dẫn đầy đủ và tức thời về cho người nông dân sản xuất ở đầu chuỗi cung ứng, hay sự truyền dẫn giá là bất đối xứng thì nó sẽ làm do w n loadgiảm yj năng thkhả uy các i plnông a hộ luan van tiếp cận, cũng nhưmoi full có được lợi íchztương nhat z vbxứng. htjKếtmk quả gmail là vốn không được phân bổ một cách hiệu quả và công bằng cho người nông dân ở đầu chuỗi để họ có nguồn lực và động lực đáp ứng những tiêu chuẩn sản phẩm của thị trường xuất khẩu. Hệ quả của diễn tiến này là xuất khẩu sẽ bị ảnh hưởng tiêu cực trong việc duy trì cũng như mở rộng sự tăng trưởng. Ở phương diện lý thuyết, giá cả đóng một vai trò quan trọng trong lý thuyết kinh tế học tân cổ điển.
Giá cả thúc đẩy phân bổ nguồn lực và các quyết định sản xuất của những tác nhân kinh tế trên thị trường. Sự truyền dẫn giá là một trong những cơ chế chính mà thị trường, các tác nhân trong chuỗi được liên kết hay tích hợp (Goodwin và Holt, 1999; Meyer và von Cramon-Taubadel, 2004). Đồng thời, phân tích truyền dẫn giá là một trong những hình thức nghiên cứu phổ biến nhất về mối quan hệ giá giữa các thị trường, đo lường hoạt động và tính hiệu quả của thị trường dọc theo chuỗi (Lloyd, 2016; Nielsen và ctv, 2018). Việc không có sự truyền dẫn giá giữa các thị trường liên kết với nhau, hay truyền dẫn giá là không hoàn toàn hoặc bất đối xứng có thể ngụ ý rằng thị trường bị khiếm khuyết (Meyer và von Cramon- Taubadel, 2004) và dẫn đến hiệu quả Pareto thấp hơn trong phân bổ nguồn lực, gây 4 tổn thất phúc lợi cho xã hội (McLaren, 2015).
Thị trường khi đó có thể truyền tải thông tin không chính xác đến người sản xuất và/hoặc người tiêu dùng, dẫn đến phân bổ sai lệch các nguồn lực trong nền kinh tế. Bên cạnh đó, sự truyền dẫn giá giữa các thị trường liên kết theo chiều dọc cung cấp hiểu biết sâu sắc về hành vi của những chủ thể tham gia trong chuỗi, cấu trúc của thị trường, và những trở ngại đối với sự phát triển của chuỗi (Lloyd, 2016; Vavra và Goodwin, 2005). Phân tích truyền dẫn giá dọc theo chuỗi giúp khám phá mức độ và tốc độ truyền dẫn giá, tác nhân dẫn dắt về giá, và sự truyền dẫn giá có bất đối xứng hay không giữa các mắt xích của chuỗi. Từ những khám phá này có thể đưa ra các giải pháp nhằm cải thiện sự truyền dẫn giá, giúp gia tăng lợi ích cho một số tác nhân trong chuỗi cũng như sự phát triển của chuỗi.
Những điều trên cho thấy khi nghiên cứu về tăng trưởng xuất khẩu của một mặt hàng nông nghiệp của một quốc gia thì nghiên cứu sự truyền dẫn giá dọc theo chuỗi cung ứng xuất khẩu của mặt hàng này là rất cần thiết, nghiên cứu sẽ có cả giá trị thực tiễn và lý thuyết. Vì lý do đó, chủ đề này đã thu hút sự quan tâm của các nhà do w n loadkinhthtếyjnông uynghiệp i pl trong a luan năm qua. nhữngvan fullTuy moinhiên, trong z nhat lĩnh z vực vbthủy htjsản mk thì gmail phần lớn nghiên cứu về truyền dẫn giá dọc theo chuỗi cung ứng xuất khẩu được thực hiện ở các sản phẩm cá; tiêu biểu trong số đó là nghiên cứu mối quan hệ giữa giá bán tại tàu, giá bán lẻ và giá xuất khẩu của sản phẩm cá tuyết ở Na-uy của Asche và ctv (2002), nghiên cứu của Tveteras và Asche (2008) phân tích sự truyền dẫn giá trong chuỗi cung cá hồi từ Na Uy xuất khẩu sang Pháp, hay nghiên cứu của Pham và ctv (2018) phân tích sự truyền dẫn giá dọc theo các mắt xích của chuỗi cung xuất khẩu cá tra Việt Nam; nghiên cứu liên quan đến sản phẩm tôm nước lợ là còn thiếu hụt. Trong khi nuôi trồng và xuất khẩu tôm nước lợ ngày càng quan trọng đối với nhiều quốc gia như Việt Nam, Thái Lan, Ấn Độ.