Chương 1: Một số vấn đề chung về đa dạng hóa loại hình kinh doanh của Ngân hàng thương mại 1. Năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại Trước hết chúng ta cùng tìm hiểu khái niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, theo WEF (1997) báo cáo về khả năng cạnh tranh toàn cầu thì năng lực cạnh tranh được hiểu là khả năng , năng lực mà doanh nghiệp có thể duy trì vị trí của nó một cách lâu dài và có ý chí trên thị trường cạnh tranh, bảo đảm thực hiện một tỷ lệ lợi nhuận ít nhất bằng với tỷ lệ đòi hỏi tài trợ những mục tiêu của doanh nghiệp, đồng thời đạt được những mục tiêu của doanh nghiệp đặt ra. Năng lực cạnh tranh có thể chia làm 3 cấp: - Năng lực cạnh tranh quốc gia: là năng lực của một nền kinh tế đạt được tăng trưởng bền vững, thu hút được đầu tư, đảm bảo ổn định kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân.
- Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: là khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong và ngoài nước. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện qua hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, lợi nhuận và thị phần mà doanh nghiệp đó đạt được. - Năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ: được đo bằng thị phần của sản phẩm dịch vụ thể hiện trên thị trường. Khả năng cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ phụ thuộc vào lợi thế cạnh tranh của nó.
Nó dựa vào chất lượng, tính độc đáo của sản phẩm, dịch vụ, yếu tố công nghệ chứa trong sản phẩm dịch vụ đó. z 8 Cũng giống như mọi doanh nghiệp, Ngân hàng thương mại cũng là một doanh nghiệp và là một doanh nghiệp đặc biệt, vì thế Ngân hàng thương mại cũng tồn tại vì mục đích cuối cùng là lợi nhuận. Do vậy, các Ngân hàng thương mại cũng tìm đủ mọi biện pháp để cung cấp sản phẩm, dịch vụ có chất lượng cao với nhiều lợi ích cho khách hàng, với mức giá và chi phí cạnh tranh nhất, bên cạnh sự đảm bảo về tính chính xác, độ tin cậy và sự tiện lợi nhất nhằm thu hút khách hàng, mở rộng thị phần nhằm đạt được lợi nhuận cao nhất cho ngân hàng. Do vậy, cạnh tranh trong Ngân hàng thương mại cũng là sự tranh đua, giành giật khách hàng dựa trên tất cả những khả năng, tiềm lực, lợi thế mà ngân hàng có được để đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng thông qua việc cung cấp những sản phẩm dịch vụ có chất lượng cao, mang tính đặc trưng riêng của mình so với các Ngân hàng thương mại khác trên thị trường, tạo ra lợi thế cạnh tranh, làm tăng lợi nhuận ngân hàng, tạo được uy tín, thương hiệu và vị thế trên thương trường.
Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại là khả năng của ngân hàng đó tạo ra, duy trì và phát triển liên tục những lợi thế nhằm mục đích tối đa hóa lợi ích của cổ đông trên cơ sở mở rộng thị phần, đạt được những mức lợi nhuận cao hơn mức trung bình ngành đồng thời đảm bảo được sự hoạt động kinh doanh an toàn, lành mạnh và có khả năng chống đỡ rủi ro cao và vượt qua những biến động bất lợi trong môi trường kinh doanh. Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thương mại 1. Năng lực tài chính: Năng lực tài chính của Ngân hàng thương mại được thể hiện qua các yếu tố sau: Vốn tự có: z 9 Về mặt lý thuyết, vốn điều lệ và vốn tự có đang đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động ngân hàng. Vốn điều lệ cao sẽ giúp ngân hàng tạo được uy tín trên thị trường và tạo lòng tin nơi công chúng.
Vốn tự có thấp đồng nghĩa với sức mạnh tài chính yếu và khả năng chống đỡ rủi ro của ngân hàng thấp. Quy mô và khả năng huy động vốn: Khả năng huy động vốn là một trong những tiêu chí đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh của các ngân hàng. Khả năng huy động vốn còn thể hiện tính hiệu quả, năng lực và uy tín của ngân hàng đó trên thị trường. Khả năng huy động vốn tốt cũng có nghĩa là ngân hàng đó sử dụng các sản phẩm dịch vụ, hay công cụ huy động vốn có hiệu quả, thu hút được khách hàng.
Khả năng thanh khoản: Theo chuẩn mực quốc tế, khả năng thanh toán của ngân hàng thể hiện qua tỷ lệ giữa tài sản “có” có thể thanh toán ngay và tài sản “nợ” phải thanh toán ngay. Chỉ tiêu này đo lường khả năng ngân hàng có thể đáp ứng được nhu cầu tiền mặt của người tiêu dùng. Khi nhu cầu về tiền mặt của người gửi tiền bị giới hạn, thì uy tín của ngân hàng đó bị giảm một cách đáng kể, kết quả là ngân hàng đó sẽ bị phá sản nếu để điều này xảy ra. Khả năng sinh lời: Khả năng sinh lời là thước đo đánh giá tình hình kinh doanh của Ngân hàng thương mại.
Mức sinh lời được phân tích qua các thông số sau: (tỷ lệ thu nhập sau thuế trên vốn tự có – return on equity) ROE: thể hiện tỷ lệ thu nhập của một đồng vốn chủ sở hữu z 10 (tỷ lệ thu nhập sau thuế trên tổng tài sản – return on assets) ROA: thể hiện khả năng sinh lời trên tổng tài sản - đánh giá công tác quản lý của ngân hàng, cho thấy khả năng chuyển đổi tài sản của ngân hàng thành thu nhập ròng. Mức độ rủi ro: Mức độ rủi ro của ngân hàng thường được đo lường bằng 2 chỉ tiêu cơ bản sau: - Hệ số an toàn vốn (CAR: capital adequacy ratio): Chính là tỷ lệ giữa vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản có rủi ro chuyển đổi (theo ủy ban giám sát tín dụng Basel). Theo chuẩn quốc tế thì CAR tối thiểu phải phải đạt 8%. Tỷ lệ này càng cao cho thấy khả năng tài chính của ngân hàng càng mạnh, càng tạo được uy tín, sự tin cậy của khách hàng với ngân hàng càng lớn.
- Chất lượng tín dụng (tỷ lệ nợ quá hạn): Chất lượng tín dụng thể hiện chủ yếu thông qua tỷ lệ nợ quá hạn/tổng nợ. Nếu tỷ lệ này thấp cho thấy chất lượng tín dụng của Ngân hàng thương mại đó tốt, tình hình tài chính của ngân hàng đó lành mạnh và ngược lại thì tình hình tài chính của NHTM đó cần được quan tâm. Tính đa dạng của sản phẩm dịch vụ: Với đặc tính riêng của ngân hàng là các sản phẩm dịch vụ hầu như không có sự khác biệt thì các Ngân hàng thương mại phát huy khả năng cạnh tranh của mình không chỉ bằng những sản phẩm cơ bản mà còn thể hiện ở tính độc đáo, sự đa dạng của sản phẩm dịch vụ của mình. z 11 Một ngân hàng có thể tạo ra sự khác biệt riêng cho từng loại sản phẩm của mình trên cơ sở những sản phẩm truyền thống sẽ làm cho danh mục sản phẩm của mình trở lên đa dạng hơn, điều này sẽ đáp ứng được hầu hết các nhu cầu khác nhau của những khách hàng khác nhau, từ đó dễ dàng chiếm lĩnh thị phần và làm tăng sức cạnh tranh của ngân hàng.
Ngoài ra, các Ngân hàng thương mại còn sử dụng các sản phẩm dịch vụ bổ trợ khác để thu hút khách hàng, tạo thu nhập cho ngân hàng như cung cấp sao kê định kỳ, tư vấn tài chính…. Nguồn nhân lực: Trong một doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ như Ngân hàng thương mại thì yếu tố con người có vai trò quan trọng trong việc thể hiện chất lượng của dịch vụ. Đội ngũ nhân viên của ngân hàng chính là người trực tiếp đem lại cho khách hàng những cảm nhận về ngân hàng và sản phẩm dịch vụ của ngân hàng, đồng thời tạo niềm tin của khách hàng đối với mình. Đó chính là những đòi hỏi quan trọng đối với đội ngũ nhân viên ngân hàng, từ đó giúp ngân hàng chiếm giữ thị phần cũng như tăng hiệu quả kinh doanh để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.
Năng lực cạnh tranh về nguồn nhân lực của các Ngân hàng thương mại phải được xem xét trên cả hai khía cạnh số lượng và chất lượng lao động. Về số lượng lao động: Để có thể mở rộng mạng lưới nhằm gia tăng thị phần và phục vụ khách hàng, các Ngân hàng thương mại nhất định phải có lực lượng lao động đủ về số lượng. Tuy nhiên, cũng cần so sánh chỉ tiêu này trong mối tương quan với hệ thống mạng lưới và hiệu quả kinh doanh để nhìn nhận năng suất lao động của người lao động trong ngân hàng. Về chất lượng lao động: Chất lượng nguồn nhân lực trong ngân hàng thể hiện qua các tiêu chí: z 12 - Trình độ văn hóa của đội ngũ lao động: bao gồm trình độ học vấn và các kỹ năng hỗ trợ như ngoại ngữ, tin học, khả năng giao tiếp, thuyết trình, ra quyết định, giải quyết vấn đề,… Tiêu chí này khá quan trọng vì nó là nền tảng thể hiện khả năng của người lao động trong ngân hàng có thể học hỏi, nắm bắt công việc để thực hiện tốt kỹ năng nghiệp vụ.
- Kỹ năng quản trị đối với nhà điều hành, trình độ chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng thực hiện nghiệp vụ đối với nhân viên: đây là tiêu chí quan trọng quyết định đến chất lượng dịch vụ mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng. Ngân hàng thương mại cần một đội ngũ nhân viên với kỹ năng nghiệp vụ cao, có khả năng tư vấn cho khách hàng để tạo được lòng tin với khách hàng, qua đó tạo được ấn tượng tốt về ngân hàng. Như vậy, chất lượng nguồn nhân lực có vai trò quan trọng và quyết định đối với năng lực cạnh tranh của một Ngân hàng thương mại. Chất lượng nguồn nhân lực là kết quả của sự cạnh tranh trong quá khứ đồng thời lại chính là năng lực cạnh tranh của ngân hàng trong tương lai.
Có một đội ngũ cán bộ thừa hành và nhân viên giỏi, có khả năng sáng tạo và thực thi chiến lược sẽ giúp ngân hàng hoạt động ổn định và phát triển bền vững. Có thể khẳng định nguồn nhân lực đủ về số lượng và đầy đủ về chất lượng là một biểu hiện năng lực cạnh tranh cao của Ngân hàng thương mại. Năng lực công nghệ: Trong lĩnh vực ngân hàng thì việc áp dụng công nghệ là một trong những yếu tố tạo nên sức mạnh cạnh tranh giữa các Ngân hàng thương mại.