Chương I: Đông Nam Á - Vị trí chiến lược thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Chương II: Pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài ở một số nước Đông Nam Á: Indonexia, Thái Lan, Malaysia, Philippin, Việt Nam. Chương III: Tình hình thực hiện đầu tư trực tiếp nước ngoài 6 các nước- Một số giải pháp hoàn thiện luật đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam. CHUONG I: ĐÔNG NAM A - VI TRÍ CHIẾN LUGC THU HUT CAC NGUON VON DAU TU NUGC NGOAI: 1.
Vai trò đầu tu nước ngoài — khái niệm môi trường dau tu: 1. Vai trò đầu tư nước ngoài. Tính tất yếu cho sự ra đời của hoạt động đầu tư nước ngoài: Với những thành tựu to lớn thu được từ 2 cuộc CMKH - KT lần thứ I và thứ II đã tạo động lực cho sự phát triển như vũ bão của nền kinh tế thế giới. Cùng với nó là sự phân tầng thành nhữvới nền kinh tế phát triển khác nhau về trình độ cũng như những thành tựu đạt được.
Đó là những nước với nền kinh tế với nền kinh tế rất phát triển phải kể đến như Mỹ, Nhật, Pháp. và bên cạnh đó là những nước có nền kinh tế còn lạc hậu chậm phát triển như các nước ở Châu Phi, Trung A. Nếu như ở các nước có nền kinh tế phát triển ở trình độ cao, với rất nhiều những ứng dụng của thành tựu KHKT làm tiền đề đã tạo ra một số lượng rất lớn của cải vật chất trong đó phải kể đến là nguồn vốn dồi dào và trình độ công nghệ hiện đại. Tuy nhiên do những giới hạn về nguồn nhân lực và tài nguyên thiên nhiên gần như cạn kiệt vì bị khai thác với trữ lượng rất lớn là một hạn chế rất lớn ngăn cản sự phát triển kinh tế trong tương lai của những nước này.
Trong khi đó ở những nước chậm phát triển mặc dù họ rất giàu có về tài nguyên thiên nhiên và nhân lực thì lại thiếu trầm trọng công nghệ khoa hoc và vốn — một thứ công cụ duy nhất và hữu hiệu để khai thác tiềm năng, phát triển kinh tế đa quốc gia trong hiện tại và tương lai. Và chính trong hoàn cảnh này, sự trao đổi quốc tế đã diễn ra như một sự tất yếu. Các nước có nền kinh tế phát triển với sự giàu có về vốn và công nghệ đầu tư vào các nước chậm phát triển đã tạo ra nguồn cung cấp cần thiết cho các nước này. Và đổi lại họ có nguồn tài nguyên thiên nhiên và sức lao động từ các nước chậm phát triển để tiếp tục phát triển kinh tế.
Xu hướng quốc tế hoá diễn ra như một quy luật khi nền kinh tế thế giới đã ở một trình độ phát triển nhất định với một phương thức sản xuất nhất định. Lúc này, sự trao đổi quốc tế được hiểu theo nghĩa hẹp, ở một khía cạnh chính là hoạt động đầu tư. Hoạt động đầu tư vốn và công nghệ, linh kiện phát triển được gọi là hoạt động đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên nói như thế không có nghĩa chỉ trong trường hợp một nước phát triển đầu tư vào nước chậm phát triển mới có hoạt động đầu tư nước ngoài, mà nó có thể là hoạt động đầu tư giữa hai nước phát triển hay đang phát triển.
Đây là hiện tượng xuất phát từ lợi thế so sánh giữa các quốc gia trong từng lĩnh vực cụ thể hoặc lợi thế của từng công ty cụ thể. Ngoài ra hoạt động đầu tư nước ngoài ra đời như một sự tất yếu do những lợi thế là cách thức xâm nhập vào thị trường nước ngoài nhằm tránh hàng rào thuế quan đối với hàng hoá thông thường. Hay cũng có thể sự xuất hiện của hoat động đầu tư nước ngoài mang màu sắc chính trị, khi một nước lớn muốn chi phối một nước nhỏ bằng việc đâu tư phát triển kinh tế coi đó là phương thức tao lên sự phụ thuộcchính tri.Vai trò của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài: Sự xuất hiện của hoạt động đầu tư nuoc ngoài là một tất yếu và cũng như sự xuất hiện của mọi hiện tượng xã hội, nó mang trong đó bao gồm cả mặt tích cực cũng như ảnh hưởng tiêu cực đối với nền kinh tế — Xã hội nói chung. Trong hoạt động đầu tư nước ngoài, đầu tư trực tiếp nước ngoài là một hình thức rất quan trọng trong đầu tư quốc tế.
Nó mang lại nguồn lợi đáng kể không chỉ cho nước tiếp nhận đầu tư mà còn cho cả người trực tiếp đầu tư. Ở đây FDI được xem là nguồn lực cứu cánh, là quốc sách để phát triển kinh tế quốc nội. Nước chủ nhà với nguồn FDI tràn vào là một nguồn lớn với đầu tư lớn trong sự phát triển kinh tế quốc gia mà không phải lo trả nợ. Đối với chủ đầu tư, để thu lợi nhuận cao, họ sẽ du nhập những công nghệ tiên tiến và những kinh nghiêm quản lý sản xuất kinh doanh cùng một lượng vốn đầu tư rất lớn.
Đây là yếu tố có tác dụng thúc đấy việc nâng cao trình độ công nghệ và quản lý của đất nước. Mặt khác, sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài trong nền kinh tế quốc dân của nứơc chủ nhà có tác dụng tạo ra áp lực cạnh tranh với khu vực kinh tế trong nước. Sự cạnh tranh này diễn ra là điều kiện rất tốt tạo sự phát triển của khu vực kinh tế này theo chiều hướng tích cực. Trong xu hướng quốc tế hoá, sự giao lưu kinh tế qua hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài cho các nước đã thúc đẩy sự phát triển các mối quan hệ kinh tế quốc tế của nước chủ nhà vào quá trình hội nhập kinh tế thế giới.
Và là một vai trò quan trọng đặc biệt phải kể đến của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài là đã góp phần vào thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, vào chuyển dịch cơ cấu và thực hiện các mục tiêu kinh tế và xã hội của nước chủ nhà. Tuy nhiên bên cạnh vai trò to lớn của nó là những ảnh hưởng tiêu cực cần trách. Đó là sự hạn chế của việc chạy theo lợi nhuận của nhà đầu tư. Họ chỉ chú trọng đến các lĩnh vực, các vùng có điều kiện thuận lợi và nhanh chóng thu hồi vốn.
Điều này dẫn đến sự mất cân đối trong cơ cấu kinh tế quốc dân ở nứơc được đầu tư nếu nhà nước đó không có những chính sách nhằm ngăn chặn và nếu như trong sự cạnh tranh đầu tư nước ngoài và đầu tư trong nước tỏ ra yếu kém tự thân nó sẽ sinh ra sức ép đè bẹp sự phát triển kinh tế, là nguy cơ có thể bóp chết sản xuất trong nước. Một hạn chế có thể thấy rõ là do không am hiểu môi trường kinh doanh, các nhà đầu tư nước ngoài có thể vấp phải những sai lầm trong quyết định đầu tư và đi đến phá sản. Sự đổ vỡ của các doanh nghiệp này có thể gây những hậu quả xã hội nghiêm trọng cho nền kinh tế. Một vấn đề được đặt ra cho nước chủ nhà lúc này là phải khắc phục những hạn chế, phát huy vai trò tích cực của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài, với mục tiêu cuối cùng là tăng trưởng nền kinh tế quốc dân.
Khái niệm môi trường đầu tu: Bên cạnh những khái niệm đầu tư nước ngoài dự án, liên doanh, liên kết được nhắc đến nhiều không chỉ trong khoa học pháp lý chuyên ngành mà trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Môi trường đầu tư cũng không phải là trường hợp cá biệt. Nếu hiểu môi trường là những yếu tố xung quanh bao bọc, ảnh hưởng tới một đối tượng nhất định thì có thể hiểu môi trường đầu tư là tổng hoà các yếu tố chính tri, kinh tế, văn hoá xã hội có liên quan tác động đến hoạt động đầu tư của các tổ chức, cá nhân nước ngoài tại một nước. Hay nói cách khác, hoạt động đầu tư chỉ diễn ra trong những điều kiện nhất định mà sự có mặt của môi trường đầu tư phản ánh sự quy tụ các yếu tố cần và đủ của hoạt động đầu tư, cũng chính trong môi trường này các nhu cầu mang tính khách quan được chuyển hoá thành các hành vi thực tế thành sự sáng tạo mang tính đặc thù.
Một môi trường đầu tư thuận lợi là một môi trường trong đó bản thân từng yếu tố cấu thành phải thuận lợi vào sự vận hành giữa các yếu tố đó phải ăn khớp với nhau để tạo thành một chỉnh thể thống nhất, trong đó tính đồng bộ được xem như một yêu cầu không thể thiếu. Tạo thành môi trường đầu tư có nhiều yếu tố, nhưng chưa hết phải kể đến sự ổn định ¥é chính trị, đây là đòi hỏi đầu tiên, quyết định nhất bởi các nhà đầu tư đều mong muốn hướng công cuộc đầu tư của họ vào đất nước ổn định về chính trị, các ngân hàng cũng phải đánh giá tính chất chấp nhận được của các mạo hiểm về chính trị khi lựa chọn có nên hay không để tiến hành chuyển giao giữa những khoản vay nợ do các dự án đầu tư nước ngoài yêu cầu. Đây là một điều hoàn toàn có lý bởi một khi chính trị đã không vững chắc thì kinh tế một yếu tố của hạ tầng cơ sở ít nhiều cũng bị chi phối. Yếu tố thứ hai phải kể đến có tính chất quyết định sự lành mạnh của môi trường đầu tư là tình hình kinh tế trong nước không ngừng được cải thiện.
Đây là đòi hỏi khách quan rõ ràng không thể phát triển trên một cơ sở thiếu thốn, chắp vá không thể cạnh tranh trên trường quốc tế chỉ với lòng yêu nước, đức tính cần cù chăm chỉ mà cần phải có sức mạnh cần thiết đó là vốn, là khoa học công nghệ, là trình độ quản lý, là kiến thức thị trường. Mặc dù điều đó có thể làm được nhờ vào hoạt động đầu tư nước ngoài nhưng tự thân nền kinh tế trong nước cũng phải đạt đến mức độ nhất định bởi nếu chỉ dựa vào hoạt động đầu tư nước ngoài thì nền kinh tế sẽ không có thực lực vững chắc và cho dù đầu tư nước ngoài có đạt đến quy mô nào thì cũng chỉ là một bộ phận cấu thành công cuộc đầu tư. Một yếu tố cần phải kể đến là một quan hệ chính trị đối ngoại được mở rộng tạo thế chính trị vững chắc của quốc gia trên trường quốc tế. Tạo thành môi trường đầu tư, cung với các yếu tố trên thì vấn đề luật pháp và tổ chức quản lý cũng là vấn đề rất quan trọng.