CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Một số thuật ngữ 1. Người cao tuổi Khái niệm người cao tuổi có thể khác nhau giữa các quốc gia và nền văn hóa khác nhau. Ở nhiều quốc gia phát triển, như Liên minh Châu Âu, người cao tuổi là những người từ 65 tuổi trở lên [11].
Liên hợp quốc [12] cũng chọn 65 tuổi để xác định người cao tuổi ở các nước phát triển. Tuy nhiên, ở các nước đang phát triển, nơi tuổi thọ thấp hơn và dân số có các điều kiện kinh tế xã hội và sức khỏe khác nhau, định nghĩa về người cao tuổi có thể khác nhau. Ở Việt Nam, Luật người cao tuổi đã được ban hành theo quyết định số 39/2009/QH12 ngày 23 tháng 11 năm 2009 trong đó quy định rõ Người cao tuổi là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên [13]. Người bệnh cao tuổi Theo Luật số 40/2009/QH12 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 23 tháng 11 năm 2009, người bệnh là người sử dụng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh [14].
Do vậy, thuật ngữ người bệnh cao tuổi trong báo cáo này được hiểu là người cao tuổi sử dụng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh. Người bệnh cao tuổi có thể tự chăm sóc và cần dự phòng các nguy cơ đe dọa tới sức khỏe. Những người cao tuổi bị các bệnh cấp và/hoặc mạn tính (mà ở người cao tuổi thường là đa bệnh lý) có thể bị hạn chế khả năng thể chất, tâm sinh lý, khả năng nhận thức và/hoặc các chức năng xã hội. Từ đó làm giảm hoặc mất khả năng thực hiện các hoạt động cơ bản của cuộc sống hàng ngày.
Người bệnh cao tuổi cần được phục hồi chức năng, thể chất, tâm lý và / hoặc chăm sóc xã hội để tránh tiếp tục suy giảm hoặc mất hoàn toàn các khả năng, chức năng đó [15, 16]. Phép đo nhân trắc Theo Tổ chức Y tế thế giới, các phép đo nhân trắc là một loạt các phép đo định lượng của cơ, xương và mô mỡ được sử dụng để đánh giá thành phần 4 của cơ thể. Thành phần cơ bản của phép đo nhân trắc là chiều cao, cân nặng, chỉ số khối cơ thể (BMI, được tính bằng cân nặng (kg)/chiều cao 2 (m)), số đo các vòng (eo, hông và tứ chi) và bề dày lớp mỡ dưới da. Các phép đo này rất quan trọng vì đây là các yếu tố trong tiêu chuẩn chẩn đoán suy dinh dưỡng, thừa cân/béo phì- yếu tố làm tăng đáng kể nguy cơ mắc các bệnh như bệnh tim mạch, tăng huyết áp, đái tháo đường và nhiều bệnh khác.
Ngoài ra, các phép đo nhân trắc có thể được sử dụng làm cơ sở để tính toán trong can thiệp và sự đáp ứng của các can thiệp thể chất [17]. Phép đo nhân trắc là phép đo không xâm lấn. Các phép đo nhân trắc thường nhanh, dễ tiến hành, sử dụng công cụ đo tương đối rẻ tiền và đơn giản, và có thể được thực hiện mà không đòi hỏi kỹ năng chuyên sâu. Để diễn giải kết quả đo nhân trắc, phép đo đơn thuần hoặc kết hợp một vài phép đo được so sánh với những giá trị tham chiếu, với tuổi và giới, và những giá trị tham chiếu này không phải giá trị chung cho các quần thể đối tượng với những độ tuổi khác nhau [18].
Phép đo nhân trắc cho phép so sánh với quần thể chuẩn hoặc so sánh trên cùng một cá thể tại các thời điểm khác nhau [18]. Cân nặng Cân nặng là một phép đo nhân trắc cơ bản trong thực hành lâm sàng. Trong thực hành lâm sàng, thuật ngữ cân nặng được hiểu theo nhiều cách: - Cân nặng đo được: là cân nặng được xác định khi đối tượng được đo có thể tự đứng được trên bàn cân, quần áo tối thiểu, cởi bỏ giày và những vật dụng ảnh hưởng tới kết quả cân. Trước khi bước lên bàn cân, dụng cụ (cân) được chỉnh về 0 và đối tượng bước lên cân với chân đặt ở vị trí xác định trên cân, đứng cân đối trên bàn cân mà không có sự hỗ trợ từ bên ngoài.
Phép đo nên thực hiện vào buổi sáng, sau khi đối tượng đã đại/tiểu tiện và được ghi lại với độ chính xác 0,1cm [19]. Trong trường hợp người bệnh không thể đứng được thì cần sử dụng cân ngồi hoặc cân nằm, nhưng những loại cân này thường không sẵn có ở đa số cơ sở y tế tại Việt Nam vì đắt tiền, việc đo cần sự tham gia của nhiều người và cần được đào tạo về kỹ thuật sử dụng cân. 5 - Cân nặng hỏi lại: là cân nặng do đối tượng nhớ lại trong lần đo trước đó, thường đi kèm một khoảng thời gian (cách đây vài ngày hoặc vài tháng) hoặc thu thập thông tin từ người nhà, người chăm sóc. - Cân nặng thường có: là cân nặng do đối tượng nhớ lại về khoảng cân nặng ổn định và duy trì trong một thời gian dài.
- Cân nặng ước tính: là cân nặng được ước đoán dựa vào các công thức ước tính, được xây dựng trên cơ sở mối tương quan tuyến tính giữa cân nặng và một số chỉ số của cơ thể như vòng bắp chân, bề dày lớp mỡ dưới da [20, 21]… - Cân nặng lý tưởng: là cân nặng so với chiều cao ở mức nguy cơ tử vong thấp nhất. Thuật ngữ này là kết quả của các nghiên cứu trong hàng thế kỷ về mối liên hệ giữa các đặc điểm giải phẫu và sức khỏe, và có thể được tính bằng các công thức dự đoán. Tùy thuộc vào môi trường hoặc tiêu chuẩn thực hành của cơ sở chăm sóc sức khỏe mà sử dụng các công thức (mô hình) tính toán khác nhau [22]. - Cân nặng hiệu chỉnh: là cân nặng được điều chỉnh dựa trên số đo của cân nặng đo được để phù hợp cho việc tính toán nhu cầu dinh dưỡng trong một số trường hợp đặc biệt như béo phì, phù, bệnh thận mạn… [23] - Cân nặng khô, hay còn gọi là cân nặng khi không phù: là cân nặng được tính bằng cân nặng đo được trừ đi lượng dịch phù/cổ chướng.
Trong trường hợp người bệnh được lọc máu, cân nặng khô được hiểu là cân nặng sau khi lọc máu [24]. Tuy nhiên, trong những trường hợp người bệnh chưa có chỉ định hoặc chưa được lọc máu, cân nặng khô có thể được tính toán bằng các phương pháp ước tính [25]. Khi tính toán được trọng lượng khô, thực hành lâm sàng cần hiệu chỉnh cân nặng khô này trong tính toán nhu cầu dinh dưỡng, do đó có một số khái niệm như cân nặng khô hiệu chỉnh khi không phù, cân nặng hiệu chỉnh dịch phù ngoại bào, cân nặng hiệu chỉnh dịch cổ chướng [26]. Chiều cao Tương tự cân nặng, chiều cao cũng là một thuật ngữ cơ bản trong thực hành.
- Chiều cao đo được: là chiều cao được xác định bằng thước đo chiều cao tiêu chuẩn có chia vạch tối thiểu 1mm và đặt trên nền cứng, bằng phẳng, vuông góc với bề mặt đặt thước. Để có kết quả chính xác, đối tượng đo cần thực hiện đúng tư thế. Đối tượng cần bỏ mũ/buộc tóc và tựa lưng vào thước với 5 điểm chạm (chẩm, vai, mông, bắp chân và gót chân), mắt nhìn thẳng theo mặt phẳng Frankfurt và hít sâu, kết quả được ghi với độ chính xác 1mm [19, 27]. - Chiều cao hỏi lại: là chiều cao đối tượng tự trả lời từ kết quả đo chiều cao mà họ nhớ được lần gần nhất trước đó hoặc thu thập thông tin từ người nhà, người chăm sóc.
- Chiều cao ước tính là chiều cao được ước đoán dựa vào các công thức ước tính, được xây dựng trên cơ sở hồi quy tuyến tính giữa chiều cao và một số chỉ số của cơ thể như chiều dài sải tay [28, 29] hoặc chiều cao đầu gối [6, 30]. Suy dinh dưỡng ở người cao tuổi tại bệnh viện Suy dinh dưỡng là phổ biến ở người cao tuổi và tăng lên khi NCT mắc bệnh và hoặc điều trị tại bệnh viện. Tác giả Phạm Ngọc Khái (2001) nghiên cứu và đưa ra một số nhận xét về tình trạng dinh dưỡng của người cao tuổi vùng đồng bằng bắc bộ, so sánh giữa nhóm ≥ 60 tuổi và nhóm 50-59 tuổi bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp, kiểm tra cân nặng, chiều cao, vòng bụng, vòng cánh tay duỗi theo kỹ thuật thường quy nhân trắc học và tính chỉ số BMI, định lượng hemoglobin. Kết quả cho thấy cân nặng, chiều cao đứng, vòng ngực trung bình, vòng bụng có xu thế giảm dần, tỷ lệ nghịch với sự gia tăng của tuổi thọ và tương đương nhau giữa các vùng sinh thái.
Tỷ lệ người gầy rất cao trong đó chủ yếu là gầy độ 2 và 3, ngược lại tỷ lệ người béo rất thấp. Tỷ lệ thiếu máu ở người có BMI ở mức gầy là 23,4%, ở người BMI bình thường có 13,2% thiếu máu, không gặp thiếu máu ở người béo [31]. Năm 7 2003, tác giả Trần Thị Minh Hạnh đã nghiên cứu tình trạng dinh dưỡng ở người cao tuổi ở Thành phố Hồ Chí Minh trên 899 người ≥ 60 tuổi. Tỉ lệ suy dinh dưỡng (BMI < 18,5) ở nam cao hơn nữ (lần lượt là 26,4 và 18%); ngoại thành cao hơn nội thành (28,3 so với 18,4) [32].
Tác giả Nguyễn Xuân Ninh (2004) nghiên cứu tình trạng dinh dưỡng, bệnh tật, một số yếu tố liên quan ở người cao tuổi tại một xã nông thôn đồng bằng bắc bộ. Tác giả nhận thấy người cao tuổi (50-75 tuổi) sống ở vùng nông thôn có tỷ lệ khá cao (38,5%) thiếu năng lượng trường diễn [33]. Tác giả Nguyễn Xuân Tú (2004) nghiên cứu trên 340 NCT ≥ 70 tuổi tại xã Tam Hưng, Thanh Oai, Hà Tây. Kết quả cho thấy 44,7% NCT thiếu năng lượng trường diễn (BMI< 18,5) [34].
Nhóm tác giả Phạm Duy Tường và Nguyễn Thị Cẩm Nhung (2013) nghiên cứu mối liên quan giữa chỉ số khối cơ thể và một số bệnh mạn tính ở người cao tuổi tại Viện lão khoa Trung ương trên 200 NCT ≥ 60 tuổi. Kết quả cho thấy tỷ lệ thiếu năng lượng trường diễn (Chronic energy deficiency- CED) là 15% trong đó có 4,5% là CED I và 2% là CED II và đều gặp ở nữ [34]. Nghiên cứu của tác giả Vũ Thị Thu Hà (2016) cho thấy theo phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng bằng chỉ số BMI, kết quả cho thấy có 21,5% đối tượng thiếu năng lượng trường diễn, 14,6% người bệnh có thừa cân béo phì; Theo phương pháp đánh giá dinh dưỡng tối thiểu (MNA), tỷ lệ suy dinh dưỡng là 43,4%. Tác giả Nguyễn Thị Quỳnh (2017) nghiên cứu tình trạng dinh dưỡng và thực trạng chăm sóc dinh dưỡng người cao tuổi từ 75 tuổi trở lên tại cộng đồng ở phường Phương Mai, quận Đống Đa, Hà Nội năm 2017.