CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI VỀ GIẢM NGHÈO CỦA NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ THỰC TIỄN CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI GIẢM NGHÈO Ở VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ 1.1 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu 1.1 Cách tiếp cận lý thuyết hệ thống Lý thuyết hệ thống Thuyết hệ thống trong công tác xã hội bắt nguồn từ lý thuyết hệ thống tổng quát của Bertalanffy(Toseland và Rivas, 1998). Thuyết này dựa trên quan điểm của lý thuyết sinh học cho rằng mọi tổ chức hữu cơ đều là những hệ thống, được tạo nên từ các tiểu hệ thống cũng là một phần của hệ thống lớn hơn. Lý thuyết này đưa ra một số quan điểm chính như sau: - Hệ thống: là bất cứ đơn vị, tổ chức nào có những giới hạn xác định được với những bộ phận tương tác, những đơn vị, tổ chức này có thể mang tính vật chất, tính xã hội, mang tính kinh tế hoặc mang tính lí luận. Nói cách khác, hệ thống là tập hợp các thành tố được sắp xếp có trật tự và liên hệ với nhau để hoạt động thống nhất.
Một hệ thống có thể gồm nhiều tiểu hệ thống. Tiểu hệ thống là hệ thống thứ cấp hoặc hệ thống hỗ trợ. Các tiểu hệ thống được phân biệt với nhau bởi các ranh giới. Đồng thời hệ thống đó cũng là một bộ phận của hệ thống lớn hơn.
- Bản thân mỗi cá nhân cũng là một hệ thống và hệ thống cá nhân này lại bao gồm các tiểu hệ thống như: hệ thống sinh lý, hệ thống nhận thức, hệ thống tình cảm, hành động và các hệ thống phản ứng 14 - Theo Pincus và Minahan (năm 1970) thì Hệ thống mà nhân viên CTXH làm việc là những hệ thống rất đa dạng: gia đình, cộng đồng, hệ thống xã hội, môi trường văn hoá mà con người hiện đang tồn tại. Các hệ thống luôn có sự tác động lên các cá nhân. Có thể đó là sự tác động tích cực hoặc tiêu cực. Tuy nhiên sự phân biệt trên chỉ mang tính tương đối vì với cá nhân này hệ thống trợ giúp có thể là hệ thống chính thức nhưng với cá nhân khác lại là hệ thống xã hội.
Vì thế cách phân chia trên chỉ mang tính tương đối. Hoặc có thể đối với cá nhân một là hệ thống chính thức, nhưng đối với cá nhân khác đó lại là hệ thống xã hội. Lý thuyết hệ thống sinh thái Thuyết hệ thống sinh thái dựa trên quan điểm của Germain & Gitterman và Germain (1980) cho rằng con người ảnh hưởng lẫn nhau và ảnh hưởng tới môi trường. Ngược lại môi trường cũng ảnh hưởng đến con người.
Nguyên tắc cơ bản của sinh thái là mỗi cơ thể sống có quan hệ qua lại liên túc với các thành phần khác tạo nên môi trường của chúng (những hệ thống sinh thái là một khoa học khác với khoa học môi trường). Lý thuyết hệ thống sinh thái được coi như là mô hình về cuộc sống. Mô hình này chủ yếu được xây dựng trên lý thuyết sinh thái. Mô hình này còn có tên gọi là “con người trong môi trường” (Person In Environment PIE), trong đó người ta tác động lẫn nhau và tác động vào môi trường sống.
Mục tiêu của CTXH là làm thế nào để con người phù hợp với môi trường sống của họ. [21] Vận dụng lý thuyết hệ thống và sinh thái trong nghiên cứu, giúp tác giả đưa ra một số định hướng sau: Thứ nhất, người nghèo ở tại địa bàn nghiên cứu là một hệ thống nằm trong những hệ thống khác lớn hơn như: Hệ thống các làng, xã; hội; hệ thống các chính sách có liên quan đến người nghèo. và chịu sự tác động của những hệ thống đó. Vì vây, khi trợ giúp người nghèo nhân viên công 15 tác xã hội cần tác động và huy động sự trợ giúp từ nhiều hệ thống để tạo nêntổng sức mạnh trợ giúp cho người nghèo vươn lên thoát nghèo, chẳng hạn: huy động sự trợ giúp từ hệ thống chính sách liên quan đến vốn tín dụng, chính sách liên quan đến bảo hiểm y tế, sự hỗ trợ từ hội phụ nữ, hội thanh niên.
Tuy nhiên, tùy vào khả năng của từng hộ gia đình và năng lực của từng cá nhân mà khả năng tiếp cận của họ đối với các hệ thống là khác nhau. Do đó, khi làm việc với thân chủ (người nghèo), nhân viên công tác xã hội cần có những cách thức tiếp cận và hỗ trợ khác nhau. Thứ hai, người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng sâu, vùng xa nên ít có cơ hội tiếp xúc với các hệ thống khác, có xu hướng giữ vững những gì trong hệ thống sẵn có, ít tiếp thu, chịu ảnh hưởng từ các hệ thống bên ngoài khác. Do đó giữa các hệ thống ít có sự trao đổi với nhau, có cũng là một phần nguyên nhân khiến vấn đề nghèo đói tồn tại dai dẳng ở cộng đồng người dân tộc thiểu số.
Thứ ba, môi trường sống cũng là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến cuộc sống và khả năng thích nghi của những hộ nghèo. Môi trường ở đây xét theo góc độ môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Chính vì vậy, để trợ giúp các hộ nghèo, nhân viên công tác xã hội cần quan tâm đến việc tạo ra sự thay đổi về môi trường sống của các hộ nghèo. Chẳng hạn, giúp người nghèo cải thiện về môi trường không bị ô nhiễm; cải thiện việc thực hiện các chính sách hỗ trợ; tư vấn sử dụng vốn, đất sản xuất cho hộ nghèo.
Cách tiếp cận dựa trên lý thuyết nhận thức hành vi Đại biểu của trường phái này là A.Ellis (1913-1970), Sheldon, và Beck. Trong Công tác xã hội, nếu như nhận thức là cách nhìn nhận của một người về một vấn đề nào đó theo hai chiều hướng tích cực hoăc tiêu cực thì trị liệu nhận thức là phương pháp tác động vào thân chủ làm thay đổi nhận thức tiêu cực của họ. Theo các nhà hành vi thì hành vi của con người là một cách trả lời, ứng xử với một tác nhận kích thích tương ứng. Nhưng trên thực tế thì hành vi của 16 con người còn phức tạp hơn nhiều chứ không phải đơn thuần là do những tác nhân kích thích.
Những nhà tâm lý học cho rằng con người có suy nghĩ rất phức tạp không thể quan sát và những suy nghĩ này có ảnh hưởng vô cùng lớn đến hành vi của các nhân. Họ cho rằng nhận thức sai lầm là tâm điểm của những hành vi sai lầm. Muốn thay đổi hành vi sai lầm, phải tạo ra một mô hình nhận thức mới hợp lí. Trị liệu nhận thức là một trường phái tư tưởng với chủ đề chính tập trung xung quanh khái niệm tư duy.
Sự tư duy của cá nhân được định hình bởi xã hội và hoàn cảnh trực tiếp của người ấy. Trên chiều cạnh này tư duy quyết định cảm xúc lẫn hành vi. Như vậy việc thực hiện chức năng xã hội của một cá nhân bị khiếm khuyết thì có nghĩa là tư duy của người ấy không hoàn hảo. Chính vì vậy, muốn hành vi của con người thay đổi thì phương thức tư duy cũng phải thay đổi theo.
Do đó, muốn biến đổi hành vi bất thường, phải tạo ra mô hình nhận thức mới hợp lí. Như vậy vận dụng lí thuyết này vào hoạt động công tác xã hôi với người nghèo NVXH phải giúp cho mọi người trong cộng đồng nhận ra những suy nghĩ không phù hợp của họ sau đó đưa ra những liệu pháp nhằm tạo ra những mô hình nhận thức mới tích cực hơn từ đó sẽ tạo những hành vi đúng đắn tương ứng. [11] Vận dụng lý thuyết nhận thức hành vi vào trong hoạt động công tác xã hội với người nghèo: Một trong những yếu tố quyết định đến việc giải quyết vấn đề nghèo đói đó chính là yếu tố con người. Bản thân đối tượng có muốn thoát nghèo hay không, hay là họ an phận ở lại cùng với nghèo đói để nhận được những nguồn lực hỗ trợ từ các chính sách của nhà nước.
Có rất nhiều những dự án của nhà nước, các tổ chức phi chính phủ nhằm hướng tới sự thoát nghèo cho người dân như các dự án về hỗ trợ về vốn, tín dụng. Nhưng trên thực tế thì hiều quả mang lại của các dự án này vô cùng hạn chế và cái nghèo vẫn dai dẳng bám 17 theo người dân. Nguyên nhân chính là đối tượng thụ hưởng không biết sử dụng nguồn vốn đã được vay ưu đãi vào trong hoạt động sản xuất, phát triển sinh kế. Xét về mặt lý thuyết hoạt động trợ giúp của công tác xã hội là cho “cần câu” chứ không cho “cá”.
Trên thực tế nếu hoạt động trợ giúp chỉ dừng lại ở việc cho “cần câu” thì chưa mang lại kết quảtriệt để. Bởi vì họ (thân chủ) có “cần câu” rồi nhưng không biết “câu” như thế nào. Do vậy, ngoài việc cho “cần câu”NVCTXH còn phải chỉ cho họ phương pháp“câu”,cùng với sự nỗ lực, lòng kiên nhẫn để chờ đợi thành quả. Đối với người dân tộc thiểu số (tại địa bàn nghiên cứu) việc thay đổi nhận thức cho họ là vô cùng quan trọng và tương đối khó khăn.
Với một cá nhân từ khi sinh ra sống trong một cuộc sống khó khăn, nghèo khó, và họ đã quen với cuộc sống như vậy, đó là điều bình sinh đối với họ. Nếu so sánh ý chí thoát nghèo giữa một người nghèo theo với tính chất“cha truyền con nối” với một người nghèo do các yếu tố khách quan (thiên tai) thì chắc chắc rằng ý chí thoát nghèo vượt qua hoàn cảnh của người nghèo do yếu tố khách quan sẽ mạnh hơn rất nhiều so với người nghèo “cha truyền con nối”. Do đó, muốn thoát nghèo hiệu quả, bền vững thì NVXH phải tạo cho họ một ý chí, niềm tin thoát nghèo, vượt qua hoàn cảnh hiện tại. Chỉ khi nào họ nhận thức thực sự sâu sắc về những thiệt thòi của mình do nghèo đói mang lại khi đó họ mới nỗ lực, tự thân, tìm kiếm nguồn lực để thoát nghèo, cùng với sự giúp đỡ từ bên ngoài (NVXH, các chính sách xã hội) hỗ trợ thì khi đó hoạt động xóa đói giảm nghèo cho người dân mới mang lại hiểu quả cao, bền vững.
Lý thuyết nhu cầu Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển. Tùy 18 theo trình độ nhận thức, môi trường sống, đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu khác nhau (Bách khoa toàn thư mở Wikipedia). Nhà tâm lý học người Mỹ Abraham Maslow được xem là cha đẻ của lý thuyết nhu cầu.