phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được cấu trúc gồm 3 chương, 7 tiết. 9 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG CHỨC SẮC PHẬT GIÁO CỦA CHÍNH QUYỀN TỈNH 1. Chính quyền tỉnh và chức sắc Phật giáo 1. Chính quyền tỉnh – Khái niệm, cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn 1.
Khái niệm Khái niệm về chính quyền: Chính quyền là bộ máy điều hành, quản lý công việc của nhà nước. Chính quyền được phân thành chính quyền. trung ương và chính quyền. địa phương.
Theo đó, chính quyền. trung ương được hiểu là tập hợp tất cả các cơ quan. nhà nước ở trung ương. Chính quyền địa phương gồm có chính quyền.
cấp tỉnh, chính quyền cấp huyện, chính quyền cấp xã. Khái niệm về chính quyền tỉnh. Chính quyền tỉnh là cấp chính quyền địa phương ở tỉnh gồm có Hội đồng nhân dân tỉnh và Ủy ban nhân dân tỉnh. Cơ cấu tổ chức của chính quyền tỉnh Chính quyền địa phương ở tỉnh là cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân tỉnh và Ủy ban nhân dân tỉnh.
Chính quyền địa phương ở huyện là cấp chính quyền. gồm có Hội đồng nhân dân huyện và Ủy ban nhân dân huyện. Chính quyền địa phương ở xã là cấp chính quyền gồm có Hội đồng nhân. dân xã và Ủy ban nhân dân xã.
Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND: Hội đồng nhân dân gồm các đại biểu Hội đồng nhân dân do cử tri ở địa phương bầu ra, là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền 10 làm chủ của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. Hội đồng nhân dân quyết định các vấn đề của địa phương do luật định; giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của UBND: Ủy ban nhân dân do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu, là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương, Hội đồng nhân dân cùng cấp và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên. Ủy ban nhân dân gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các Ủy viên, số lượng cụ thể Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp do Chính phủ quy định.
Uỷ ban nhân dân tổ chức việc thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương; tổ chức thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân và thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nước cấp trên giao. Chức sắc Phật giáo - Khái niệm, vai trò và đặc điểm 1. Khái niệm Khái niệm về tín đồ. Theo Luật tín ngưỡng, tôn giáo: Tín.
đồ là người tin, theo một tổ chức tôn. giáo và được tổ chức tôn giáo đó thừa nhận [41. Khái niệm chức sắc. Chức sắc tôn giáo (Clergy) là thuật ngữ để chỉ những.
người lãnh đạo các tôn giáo nhất định. Thuật ngữ này bắt. nguồn từ khái niệm hopapos κλήpoςkleros, có nghĩa là “nhiều”, nói ẩn dụ là “di sản”. Tùy theo mỗi tôn giáo, chức sắc thường là những người có vai trò chủ trì, tổ chức các nghi lễ của tôn giáo, hoạt động truyền đạo và hướng dẫn tín đồ thực hành tôn giáo.
Chức sắc tôn giáo cũng giống và khác với “giới tu hành”. Giới tu hành (Priesthood): là tập hợp những linh mục, thầy saman hay những người có uy tín. Những người này có quyền năng tôn giáo đặc biệt. Thuật ngữ Priest (thầy tu) có nguồn gốc từ Hy Lạp, chỉ những người cao tuổi hoặc có thứ bậc cao, 11 thường được sử dụng để chỉ các chức sắc cụ thể.
Trong giới tu hành không, phải ai cũng là chức sắc, cho dù họ có vai trò rất quan trọng, mà họ chỉ được xem là chức sắc khi có vị trí lãnh đạo trong các tôn giáo. Vậy, chức sắc là một bộ phận của giới tu hành. Ở đây, có thể là khập khiễng trong sự so sánh, nhưng để dễ hình dung và phân biệt, thì nó cũng giống như trường hợp người dân phân biệt về các đảng viên của Đảng ta, khi gọi “đảng viên thường” - không có chức vụ, với “đảng viên có chức quyền”. Chức sắc tôn giáo cũng khác với nhà thần học.
Nhà thần học là những học giả tôn giáo và thần học, họ không nhất thiết phải là chức sắc tôn giáo. Một người bình thường (không là chức sắc tôn giáo) cũng có thể là một nhà thần học. Theo Luật tín ngưỡng, tôn. giáo: Chức sắc là tín đồ được tổ chức tôn.
giáo phong phẩm hoặc suy cử để giữ phẩm vị trong tổ chức [41. Theo đó, chức sắc tôn giáo cần. hội đủ 3 yếu tố: Một là, chức sắc trước hết phải là tín. đồ của một tôn.
giáo - là loại “tín đồ đặc biệt”. Hai là, họ phải là người có chức vụ nhất định. trong tổ chức tôn giáo. Bởi vì, tổ chức tôn giáo chính là nền “hành chính.
đạo”, điều hành, quản lý toàn bộ hoạt động tôn. giáo và gắn. với đó là những vị trí cao thấp khác nhau (chức vụ) do mỗi người đảm. Ba là, họ có phẩm sắc trong tôn giáo, được tổ chức tôn.
giáo suy tôn, thừa nhận. và cho hưởng theo giáo lý, giáo luật chiểu theo công trạng, công lao tu tập, đạo hạnh, thời gian. tu tập và cống hiến của họ cho tôn giáo đó. Vì thế, khái niệm chức sắc tôn giáo như trên.
mới xuất phát từ phương diện quản lý nhà nước đối với tôn. giáo hiện nay ở nước ta, chưa đáp ứng được với công tác tôn. giáo nói chung và nhận thức về tôn giáo nói riêng. Mặt khác, bản thân mỗi tôn.
giáo lại có những quy định cụ thể về chức sắc của mình. 12 Ở nước ta, có Phật giáo Hòa Hảo, cũng là một tôn giáo lớn, nhưng ngay từ khi ra đời đã chủ trương không có chức sắc và hàng giáo phẩm, nên tôn giáo này chỉ có chức việc chứ không có chức sắc. Tuy nhiên, khái niệm chức sắc tôn giáo được định nghĩa như trên cũng chỉ mới xuất phát từ phương diện quản lý nhà nước đối với tôn giáo hiện nay ở nước ta. Nó chưa phải đã đáp ứng thực tế của công tác tôn giáo nói chung và nhất là của công tác vận động chức sắc tôn giáo nói riêng; cũng như chưa thể thỏa mãn đối với nhận thức của các nhà nghiên cứu về vấn đề tôn giáo.
Vì thế, khái niệm chức sắc tôn giáo chắc rằng sẽ còn có những cách định nghĩa khác nữa của các ngành khoa học liên quan đến tôn giáo, với ý nghĩa như là một sự tìm tòi, phát triển nhận thức về tôn giáo, rất đáng được khuyến khích. Đó là chưa nói, bản thân mỗi tôn giáo cũng lại có những quy định cụ thể về chức sắc của tôn giáo mình. Với tinh thần trên, Ngô Hữu Thảo, chủ nhiệm đề tài mã số B.09-23: “Thực trạng đội ngũ chức sắc một số tôn giáo lớn ở nước ta và những vấn đề đặt ra hiện nay”, năm 2009, Trung tâm nghiên cứu tín ngưỡng, tôn giáo, Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ chí Minh, đã đưa ra một định nghĩa nữa về khái niệm chức sắc tôn giáo. Đó là: Chức sắc tôn giáo là tín đồ tôn giáo, có vai trò, trọng trách to lớn trong các hoạt động tôn giáo, như truyền đạo, hành đạo và quản đạo, được cộng đồng giáo dân và tổ chức tôn giáo suy tôn, thừa nhận.
Với định nghĩa này, do nội hàm đã bớt đi dấu hiệu “phẩm sắc” nên ngoại diên của khái niệm chức sắc tôn giáo đã trở nên rộng hơn nhiều so với định nghĩa trong Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo trước đây. Theo định nghĩa này, chức sắc tôn giáo không chỉ bao gồm những người có chức vụ trong tôn giáo, mà còn có cả những ai có trọng trách trong hoạt động hành đạo, truyền đạo và quản đạo. Họ bao gồm tất cả những nhà tu hành và cả người không tu hành, như chức việc. Định nghĩa này trước hết đã phản ánh được một thực tế 13 của công tác tôn giáo ở nước ta, là có nhiều cán bộ, cơ quan làm công tác tôn giáo, đã rất đúng, khi luôn coi trọng tới chức sắc tôn giáo, xem đó là một đối tượng đặc biệt cần phải quan tâm thường xuyên và khi nói đến chức sắc tôn giáo, thường gộp cả người có phẩm sắc, nhà tu hành với chức việc tôn giáo.
Trong luận văn này, chúng tôi trong khi vẫn chủ yếu sử dụng cách hiểu chức sắc tôn giáo của Luật tín ngưỡng, tôn giáo, thì ở một số trường hợp, cũng vận dụng định nghĩa khái niệm chức sắc tôn giáo như trên. Với khái niệm này, nội hàm của khái niệm chức sắc tôn. giáo không chỉ bao gồm những người có chức vụ trong tôn giáo, mà còn có cả những người có trọng trách. trong hành đạo và truyền đạo.
Truyền đạo là bổn phận của mọi tín đồ, nhưng với tín. đồ không được đào tạo, không phải là nhà hoạt động tôn. giáo chuyên nghiệp và bán chuyên. thì những người tín đồ bình.
thường không thể có khả năng lớn như các vị chức sắc được. Theo định nghĩa này, chức sắc tôn giáo chính. là những đối tượng đặc biệt quan trọng mà công tác tôn. giáo phải có sự quan tâm thường xuyên.
Điều đó lý giải tại sao các cơ quan làm công tác tôn. giáo khi nói đến chức sắc tôn giáo thường bao gồm. cả chức việc tôn giáo và các nhà tu hành. Khái niệm về chức sắc Phật giáo.
Theo Nội quy Ban Tăng sự Trung ương khóa VIII (nhiệm. 15 Chương, 85 Điều, trong đó quy định. về chức sắc trong Giáo hội Phật giáo như sau: Hàng Giáo phẩm (chức sắc) bao gồm: Giáo phẩm Tăng: Hòa thượng, Thượng tọa; Giáo phẩm. Ni: Ni trưởng, Ni sư.
Hàng giáo phẩm. được suy tôn tại các kỳ Đại hội Phật giáo [7]. Theo đó, Hòa thượng là những tăng sĩ nam, có đủ 60 tuổi đời, 40 tuổi đạo; Thượng tọa là những tăng sĩ nam, có đủ 45 tuổi đời, 25 tuổi đạo; Đối với bên nữ (ni bộ): Ni sư có đủ 45 tuổi đời, 25 tuổi đạo; Ni trưởng có đủ 60 tuổi đời, 40 tuổi đạo. 14 Từ những định nghĩa khác nhau trên, tác giả rút ra định nghĩa sau: Chức sắc là tín đồ được tổ chức tôn.
giáo phong phẩm hoặc suy cử để giữ phẩm vị trong tổ chức.