Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, việc hoàn thiện thể chế chính trị - xã hội đặt ra nhiều yêu cầu cấp thiết. Ấn phẩm số 138 (6-2018) của Tạp chí Cộng sản, dưới sự chỉ đạo của Ban Biên tập do PGS. TS. Đoàn Minh Huấn phụ trách, đã tập hợp những công trình nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn mang tính chiến lược của Đảng và Nhà nước.

Tài liệu giải quyết đồng thời ba khoảng trống lớn trong lý luận và thực tiễn quản trị quốc gia. Thứ nhất là bài toán tháo gỡ điểm nghẽn của chính sách đãi ngộ lao động thông qua Đề án cải cách tiền lương theo Nghị quyết số 27-NQ/TW. Thứ hai là phương thức kế thừa, phát huy giá trị của tư tưởng thi đua ái quốc trong bối cảnh mới. Thứ ba là yêu cầu tái cấu trúc mô hình đào tạo nhân lực báo chí và nâng cao hiệu quả phản biện chính sách trong kỷ nguyên số.

Ấn phẩm tiếp cận vấn đề thông qua phương pháp kết hợp giữa nghiên cứu lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với khảo sát xã hội học thực nghiệm và phân tích chính sách công. Đây là nguồn tư liệu chuẩn mực, cung cấp cơ sở khoa học vững chắc cho việc hoạch định đường lối phát triển bền vững đất nước.


Nội dung chi tiết

Cơ sở lý luận về thi đua ái quốc và định hướng phát triển thể chế kinh tế - xã hội

Chủ nghĩa yêu nước là dòng chủ lưu trong tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Trải qua các thời kỳ cách mạng, tư tưởng thi đua ái quốc do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi xướng ngày 11-6-1948 đã chuyển hóa lòng yêu nước trừu tượng thành hành động cách mạng cụ thể. Từ các phong trào lịch sử như "Diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm", "Gió Đại Phong", "Sóng Duyên Hải" cho đến phong trào "Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới", thi đua yêu nước luôn gắn liền với nhiệm vụ chính trị của từng giai đoạn.

Về mặt lý luận, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có bước phát triển sáng tạo khi kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với truyền thống văn hóa dân tộc. Thi đua không đơn thuần là phương thức tăng năng suất lao động, mà còn là công cụ tôi luyện con người mới xã hội chủ nghĩa. Quán triệt Chỉ thị số 34-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XI, công tác thi đua - khen thưởng hiện nay đòi hỏi phải đổi mới toàn diện. Trọng tâm của quá trình này là tập trung hướng về cơ sở, gắn liền với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và học tập phong cách Hồ Chí Minh.

Bên cạnh đó, việc tổ chức phong trào phải bảo đảm nguyên tắc công khai, minh bạch và kịp thời. Công tác thi đua cần thực hiện đồng bộ ở cả bốn khâu: phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân rộng điển hình tiên tiến. Mục tiêu cốt lõi là lấy nhân tố tích cực để đẩy lùi tiêu cực, tạo sự đồng thuận xã hội và khơi dậy khát vọng phát triển đất nước.

Đột phá cải cách chính sách tiền lương theo Nghị quyết số 27-NQ/TW và quản trị nguồn nhân lực công

Chính sách tiền lương là bộ phận đặc biệt quan trọng trong hệ thống chính sách kinh tế - xã hội, tác động trực tiếp đến quan hệ cung - cầu lao động và hiệu lực bộ máy nhà nước. Qua 4 lần cải cách tiền lương kể từ năm 1960, hệ thống tiền lương Việt Nam đã đạt nhiều kết quả nhưng vẫn bộc lộ bất cập lớn. Tiền lương khu vực công còn mang nặng tính bình quân cào bằng, chưa phản ánh đúng giá trị sức lao động theo vị trí việc làm. Đáng chú ý, cơ cấu phụ cấp chiếm tới 40% tổng thu nhập, làm sai lệch bản chất đòn bẩy kinh tế của tiền lương cơ bản.

Nhằm giải quyết triệt để vấn đề này, Nghị quyết số 27-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 7 khóa XII đề ra hệ thống quan điểm chỉ đạo mang tính đột phá. Nguyên tắc cốt lõi là: trả lương đúng là đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực. Nghị quyết xác định cơ cấu tiền lương mới cho khu vực công gồm: lương cơ bản chiếm khoảng 70%, các khoản phụ cấp chiếm tối đa 30%, cùng quỹ tiền thưởng bằng khoảng 10% tổng quỹ lương năm.

Hệ thống tiền lương mới bãi bỏ mức lương cơ sở và hệ số lương cũ để ban hành 5 bảng lương bằng số tiền cụ thể:

  • 01 bảng lương chức vụ áp dụng cho cán bộ giữ chức vụ lãnh đạo trong hệ thống chính trị.
  • 01 bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ theo ngạch công chức và chức danh nghề nghiệp viên chức.
  • 03 bảng lương dành riêng cho lực lượng vũ trang nhân dân (sĩ quan quân đội/công an, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng/công an).

Đối với khu vực doanh nghiệp, Nhà nước tôn trọng quyền tự chủ thương lượng tiền lương giữa người lao động và người sử dụng lao động theo cơ chế thị trường. Nhà nước chỉ quy định mức sàn lương tối thiểu vùng theo tháng và theo giờ để bảo vệ nhóm lao động yếu thế. Lộ trình thực hiện được chia làm nhiều giai đoạn rõ ràng: từ việc hoàn thiện khung vị trí việc làm, tinh giản biên chế, đến việc đảm bảo mức lương thấp nhất khu vực công phải tiệm cận và vượt mức bình quân khu vực doanh nghiệp.

Đổi mới căn bản mô hình đào tạo và phát huy vai trò phản biện của báo chí truyền thông

Trước làn sóng của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, báo chí truyền thông đang đối mặt với sự thay đổi căn bản về phương thức truyền dẫn và tiếp nhận thông tin. Xu hướng hội tụ truyền thông và mạng xã hội tạo ra áp lực cạnh tranh thông tin gay gắt. Tình trạng chạy theo thị hiếu tầm thường, thương mại hóa báo chí và suy thoái đạo đức nghề nghiệp của một bộ phận người làm báo đã đặt ra yêu cầu cấp bách phải tái cấu trúc công tác đào tạo.

Để đáp ứng thực tiễn, các cơ sở đào tạo báo chí cần chuyển dịch từ mô hình phân tách loại hình đơn lẻ sang mô hình tích hợp đa phương tiện. Sinh viên ngành báo chí phải được trang bị kiến thức liên ngành, kỹ năng công nghệ số, làm chủ các phòng thực hành mô phỏng tòa soạn hội tụ. Quan trọng hơn cả, việc giáo dục bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm xã hội phải được đặt lên hàng đầu nhằm đào tạo nên những người làm báo chân chính.

Không chỉ thực hiện chức năng thông tin, báo chí còn đóng vai trò là cầu nối phản biện xã hội, tham gia trực tiếp vào quy trình xây dựng đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước. Kết quả điều tra xã hội học chỉ ra rằng, chức năng tham gia hoàn thiện chính sách của báo chí nhận được sự đánh giá cao nhất từ công chúng (3,12 điểm). Thông qua các bài viết phân tích chuyên sâu, tọa đàm và điều tra thực tế, báo chí phản ánh trung thực tâm tư nhân dân, phát hiện các điểm nghẽn thể chế để cơ quan lập pháp kịp thời điều chỉnh. Điển hình như các đóng góp trong sửa đổi Hiến pháp năm 2013, hoàn thiện Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư.


Ai nên đọc tài liệu này?

  • Cán bộ lãnh đạo, quản lý và công chức, viên chức trong hệ thống chính trị: Giúp nắm vững định hướng cải cách tiền lương theo vị trí việc làm, quy chế phân phối thu nhập và phương thức tổ chức phong trào thi đua hiệu quả tại cơ quan, đơn vị.
  • Nhà nghiên cứu lý luận, giảng viên khoa học xã hội và chính trị học: Cung cấp nguồn tư liệu học thuật chính thống về tư tưởng Hồ Chí Minh, lịch sử phong trào thi đua cách mạng và các luận điểm xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
  • Chuyên gia nhân sự và lãnh đạo doanh nghiệp: Giúp định hình chiến lược tiền lương, quy chế trả lương gắn với năng suất lao động và thực hiện đúng các quy định về thỏa ước lao động tập thể.
  • Giảng viên, sinh viên và phóng viên báo chí truyền thông: Nắm bắt xu thế chuyển đổi số trong báo chí, phương pháp tác nghiệp tại tòa soạn hội tụ và nâng cao đạo đức nghề nghiệp truyền thông.

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ cấu tiền lương mới theo Nghị quyết số 27-NQ/TW được thiết kế như thế nào?

Cơ cấu tiền lương mới cho khu vực công được thiết kế theo tỷ lệ chuẩn hóa gồm: lương cơ bản chiếm khoảng 70% tổng quỹ lương, các khoản phụ cấp chiếm tối đa 30%, cùng quỹ tiền thưởng định kỳ bổ sung bằng khoảng 10% tổng quỹ tiền lương cơ bản hàng năm (không tính phụ cấp).

2. Lộ trình triển khai cải cách chính sách tiền lương quốc gia gồm các bước nào?

Quá trình cải cách thực hiện qua 3 bước:

  • Giai đoạn chuẩn bị: Hoàn thiện danh mục vị trí việc làm, tinh gọn bộ máy biên chế và tạo nguồn ngân sách.
  • Giai đoạn ban hành: Bãi bỏ hệ số lương và mức lương cơ sở, áp dụng 5 bảng lương mới bằng số tiền cụ thể.
  • Giai đoạn điều chỉnh định kỳ: Tăng mức lương theo chỉ số giá tiêu dùng, tăng trưởng kinh tế và điều tiết lương khu vực công tương xứng với khu vực doanh nghiệp.

3. Tại sao cần phải bãi bỏ cách tính lương cũ dựa trên mức lương cơ sở và hệ số?

Cách tính lương cũ dựa trên mức lương cơ sở nhân hệ số đã tồn tại nhiều bất cập: mang tính bình quân cào bằng, không phản ánh đúng giá trị thực của sức lao động theo vị trí việc làm và khiến cơ cấu phụ cấp phình to làm mất đi vai trò đòn bẩy kinh tế của tiền lương.

4. Khi nào mô hình tòa soạn hội tụ cần được ứng dụng rộng rãi trong đào tạo báo chí?

Mô hình tòa soạn hội tụ cần được triển khai ngay khi công nghệ số và mạng xã hội làm thay đổi thói quen tiếp nhận tin tức của công chúng, đòi hỏi người làm báo phải thành thạo kỹ năng đa phương tiện (viết, chụp ảnh, xử lý audio/video) để tác nghiệp tức thời và đa nền tảng.

5. Báo chí tham gia vào quy trình xây dựng đường lối, chính sách của Nhà nước bằng cách nào?

Báo chí tham gia thông qua việc cung cấp thông tin thực tiễn nhiều chiều, phát hiện bất cập thể chế, tổ chức diễn đàn đối thoại lấy ý kiến nhân dân và đăng tải các bài phân tích phản biện xã hội sắc sảo, giúp cơ quan soạn thảo hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật sát với đời sống.


Kết luận

  • Đổi mới tư duy tiền lương: Trả lương theo vị trí việc làm, chức danh lãnh đạo và hiệu quả công tác là động lực giải phóng sức sản xuất của nguồn nhân lực.
  • Phát huy thi đua yêu nước: Tiếp tục vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện chuẩn hóa 4 khâu: phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân rộng điển hình tiên tiến.
  • Hiện đại hóa báo chí truyền thông: Chuyển đổi căn bản mô hình đào tạo theo hướng đa phương tiện, đề cao phẩm chất chính trị và đạo đức nghề nghiệp của người làm báo.
  • Tăng cường phản biện chính sách: Phát huy vai trò của báo chí như một kênh giám sát quyền lực độc lập và cầu nối vững chắc giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân.

Tài liệu là cẩm nang lý luận và thực tiễn giá trị cho công tác đổi mới quản trị quốc gia. Độc giả quan tâm có thể tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về hệ thống vị trí việc làm và các đề án cải cách hành chính liên quan để áp dụng hiệu quả vào thực tiễn công tác.