ISSN 1859 - 1124 alate ate Š THANG 02/2015 NĂM THỨ 26 -SO 2 TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH Phattrienkinhte Tổng biên tập Phó Tổng biên tập DƯƠNG THỊ BÌNH MINH ĐINH PHI HỒ Thư ký Toà soạn NGUYÊN TRUNG ANH TÔN CHÍ & MỤC ĐÍCH Tạp chí Phát triển Kinh tế (PTKT) của Trường Đại học Kinh tế TP.Hồ Chí Minh được xuất bản từ năm 1990 với mã số ISSN 1859-1124, phát hành từ ngày 01 đến ngày 05 hàng tháng. Tạp chí PTKT được xây dựng theo các tiêu chí của một tạp chí nghiên cứu khoa học hàn lâm quốc tễ. Mục tiêu của tạp chí PTKT là góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu của các nhà khoa học kinh tẾ, các chuyên gia và các nhà quản lý kinh tế, giảng viên đại học kinh tế, nghiên cứu viên kinh tế; công bố và phổ biến các kết quả nghiên cứu khoa học kinh tế ở trong vả ngoài nước.
Phạm vi nghiên cứu của tạp chí bao gồm các vấn đề về lý thuyết và thực tiễn trong các lĩnh vực phát triển kinh tế của Việt Nam và thế giới: kinh tế học, quản trị kinh doanh, tài chính ngân hàng, tăng trưởng và phát triển kinh tế vĩ mô và vi mô theo hướng phát triển bền vững và hội nhập kinh tế quốc tế. Những bài viết nghiên cứu gửi đến tạp chí sẽ được phản biện bởi các chuyên gia kinh tế đầu ngành, những nhà khoa học nghiên cứu kinh tế có uy tín ở trong vả ngoài nước nhằm đảm bảo chuân mực và tăng cường giá trị nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm của các bài báo khoa học kinh tế. Tạp chí PTKT hợp tác, liên kết với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước về các lĩnh vực: phản biện, viết bài, trao đôi học thuật, trợ giúp kỹ thuật và phát hành. HOI DONG BIEN TAP Jonathan Batten, Dai hoc Monash, Uc Fariborz Moshirian, Institute of Global Finance, Sydney, Uc Ramaprasad Bhar, UNSW Australian Trần Hoàng Ngân, Đại học Kinh tế TP.HCM Business School, Sydney, Uc Phạm Duy Nghĩa, Đại học Kinh tế TP.HCM Hoàng Thị Chỉnh, Đại học Kinh tế TP.HCM Phan Thị Bích Nguyệt, Đại học Kinh tế TP.HCM Mai Ngọc Cường, Đại học Kinh tế Quốc dân Nguyễn Đông Phong, Đại học Kính tế TP.HCM Shelomentsev Andrey Gennadyevich, Viện Kinh tế S.Senanayake, Đại học Colombo (Sri Lanka) thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Nga, CHLB Nga Peter G.
Szilagyi, CEU Business School, Nguyễn Trọng Hoài, Đại học Kinh tế TP.HCM Dai hoc Central European (Hungary) Đinh Phi Hổ, Đại học Kinh tế TP.HCM Trương Ba Thanh, Đại học Đà Nẵng Hồ Đức Hùng, Đại học Kinh tế TP.HCM Sử Đình Thành, Đại học Kinh tế TP.HCM Eric Iksoon Im, Dai hoc Hawaii - Hilo, My Nguyễn Xuân Thắng, Viện Hàn Lâm Khoa học xã hội VN Pierre Lefebvre, Dai hoc Quebec- Montreal, Canada Nguyễn Đình Thọ, Đại học Kinh tế TP. Malyadri, Government Degree College, Trần Ngọc Thơ, Đại học Kinh tế TP.HCM Osmania University, Ẩn Độ Võ Thanh Thu, Đại học Kinh tế TP.HCM Dương Thị Bình Minh, Đại học Kinh tế TP.HCM Đoàn Thị Hồng Vân, Đại học Kinh tế TP.HCM Mazyrin Vladimir Moiseevich, Dai hoc Téng hợp Tam Bang Vu, Dai hoc Hawaii - Hilo, My Lomonosov, CHLB Nga Thomas Wolke, Đại học Kinh tế - Luật Berlin, CHLB Đức Pháttrlên kinhfté ISSN 1859 - 1124 Năm xuất bản số đầu tiên: 1990 Năm thứ hai mươi sau, thang 02/2015 Tạp chí phát hành ngày l hằng tháng Năm thứ 26 - Số 2 Tháng 02/2015 www. Nguyễn Thị Cành & Nguyễn Thị Diễm Hiền Thực trạng hoạt động và mức độ lành mạnh của các ngân hàng thương mại VN 26. Tran Hoàng Ngân, Trần Phương Thảo & Nguyễn Hữu Huân Anh hưởng của tái câu trúc đến hiệu quả hoạt động các ngân hàng thương mại VN 48.
Hoàng Thị Chỉnh Những vấn đề đặt ra với nông nghiệp VN và các giải pháp đề xuất 65. Dinh Phi [lỗ & Đông Đức Tác động tín dụng chính thức đến thu nhập của nông hộ ở VN 83. Bui Duc Hung & Hoang Hong Hiệp Mô hình tăng trương vùng Nam Trung bộ VN giai đoạn 2001—2012: Một nghiên cứu thực nghiệm 100. Nguyễn Thị Bích Thủy & Phạm Thị Lan Hương Hình anh nhận thúc và hình anh cảm xúc: Nghiên cứu so sảnh giữa hai điểm đến du lịch Đà Năng và Nha Trang [hư và bài xin gởi về tòa soạn: Giá: 50.000 đồng Lào Thị Minh Huyền Tòa soạn Tạp chí Phát triển Kinh tế 59C Nguyễn Dình Chiêu.
38229253 (tiếng Anh) Email: ptkU@uch.vn Giấy phép số 242/GP-BVHTT cấp ngày 08/05/2001. In tại Công ty In Kinh té- Trung Dai hoe Kinh té TRUCM Nguyễn Thị Cành & Nguyễn Thị Diễm Hiển. Tạp chí Phát triển kinh tê, 26(2), 02-25 Thực trạng hoạt động và mức độ lành mạnh của các ngân hàng thương mại Việt Nam NGUYÊN THỊ CẢNH Trường Đại học Kinh tế-Luật, Đại học Quốc gia TP.HCM - canhnt@uel.vn NGUYEN THI DIEM HIEN Truong Dai hoc Kinh tế-Luật, Dai hoc Quéc gia TP.HCM - hienntd@uel.vn Ngày nhận: Tóm tắt 06/01/2015 Bài nghiên cứu áp dụng khung phân tích CAMELS đánh giá tình hình Ngày nhận lại: hoạt động và mức độ lành mạnh của các ngân hàng thương mại 22/01/2015 (NHTM) VN. Dựa trên số liệu báo cáo tài chính của các NHTM VN Ngày duyệt đăng: giai đoạn 2005/2008-2013, kết quả phân tích đã chỉ ra các NHTM VN đã tăng lên vẻ quy mô tông tai san va vốn chủ sở hữu.
Tuy nhiên, hiệu 30/01/2015 quả hoạt động của các NHTM VN chưa cao và có xu hướng giảm dần. Mã số: Tỉ lệ chỉ phí/đoanh thu cao trên 80%, khả năng sinh loi - ROA bình quân khoảng I%, đặc biệt ROA giảm mạnh trong năm 2012 va 2013, 0115-G21-V0I tương ứng 0,77% và 0,56%, tương tự ROE cũng có xu hướng giảm dần vào năm 2012 (7,42%) và năm 2013 (5,84%). Khả năng sinh lời của các NHTM nhà nước (NHTMNN) cao hơn các NHTM cô phần tư nhân NHTMCP). Mức độ rủi ro cao do tỉ lệ nợ xấu cao (khoảng 4%), tính thanh khoản thấp (tí lệ dư nợ/vốn huy động trung bình trên dưới 90%).
Trên cơ sở các kết quả phân tích, tác giá đã đưa ra một số kiến nghị nhằm tăng hiệu quả hoạt động và giảm thiểu rủi ro cho các NHTM VN. Abstract The research applies CAMELS rating system to evaluate performance and soundness of Vietnam's commercial banks. Results of analysis of data from bank financial statements in 2005/2008-2013 period show that equity capital and total assets of Vietnam’s commercial banks increased remarkably. Their performance, however, was not high and tended to fall gradually.
Their expense-to-revenue ratio was higher than 80% while return on assets stayed around 1% (this ratio fell Từ khóa: sharply in 2012 and 2013 to 0.56% respectively) and return Khung phân tích on equity fell steadily in 2012 (7. Profitability CAMELS, ngan hang in state-owned banks was higher than those in private banks. Risk thuong mai VN, ngan degree was high because of huge bed debt (some 4%) and low hàng thương mại nhà liquidity (loan-to-deposit ratio was around 90%). Analysis results nước, ngân hàng thương allow authors to offer some recommendations that aim at improving mại cô phần tư nhân.
business performance and reducing risk for commercial banks. Nguyễn Thị Cảnh & Nguyễn Thị Diễm Hiện Tạp chi Phat triển kinh tế, 26(2). Giới thiệu Có thê nói nền kinh tế VN đang ngày càng hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới. Tuy nhiên, hệ thông tài chính - ngân hàng mới bắt đầu mở cửa.
Thị trường tài chính còn sơ khai, hệ thống ngân hàng đang trong quá trình tái cấu trúc lại và phát triển theo hướng đa dạng hóa hình thức sở hữu, áp dụng các loại sản phẩm mới. Hội nhập kinh tế quốc tế vừa mang đến cho hệ thống tài chính - ngân hàng VN những cơ hội phát triển, đồng thời cũng đặt ra những thách thức lớn. Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện chưa thật sự hồi phục cũng đã tác động xấu tới nền kinh tế VN, đặc biệt có tác động tiêu cực đến hệ thống tài chính - ngân hàng. Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước VN (NHNN).
tính đến hết năm 2014 số lượng NHTM hoạt động tại VN là 47 ngân hàng, trong đó có: 5 NHTMNN (Nông nghiệp, BIDV, VietcomBank, VietinBank và MHB); 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài (ANZ, HSBC, Standard Chartered, Shinhan, và Hong Leong); 4 ngân hàng liên doanh (VID Public bank, Indovina, VinaSiam, Viét Nga); 33 NHTMCP; và 52 chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Tổng tài sản các NHTM đang nắm giữ là 180,5 tí USD. Trong đó, NHTMNN nắm 68. NHTM nước ngoài 5.5 tỉ USD, và các NHTMCP là 106,7 tỉ USD.
Số tài sản của các NHTM năm giữ tại VN chiếm gần 2 lần GDP của VN. Tuy nhiên, những dấu hiệu hoạt động kém hiệu quả và nguy cơ rủi ro cao đang đặt ra cho các NHTM VN, đó là chất lượng tải sản có xu hướng xấu đi và thanh khoản kém (Chất lượng tai san xấu thẻ hiện qua tiêu chí nợ xấu). Theo báo cáo mới đây của NHNN, 6 tháng đầu năm 2014. tỉ lệ nợ xấu ở mức trên 4% so với tông dư nợ.
Chỉ số thanh khoản thể hiện qua tiêu chí tỉ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động. Cụ thẻ, tỉ lệ tín dụng/huy động vốn năm 2013 của toàn bộ hệ thống các NHTM là 91,9%; đến tháng 6/2014 là trên 89%. Từ thực tế trên, trong giới hạn bài viết này, tác giả trình bày thực trạng mức độ lành mạnh của các NHTM VN hiện nay. Để có cơ sở đánh giá mức độ lành mạnh của các NHTM, tác giả áp dụng khung phân tích CAMELS để xem xét mức độ lành mạnh của từng NHTM riêng lẻ, cũng như tính trung bình cho toàn ngành, hoặc toàn bộ các NHTM khảo sát.
Khung phân tích này do các chuyên gia Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) nghiên cứu và thiết lập, sau đó đã được nhiều nghiên cứu cũng như nhiều quốc gia vận dụng làm căn cứ để đánh giá mức độ lành mạnh của hé thong NHTM. 4 Nguyễn Thị Cành & Nguyễn Thị Diễm Hiền. Tạp chí Phát triển kinh tế, 26(2), 02-25 2. Tổng quan về khung phân tích CAMELS và lựa chọn các chỉ số áp dụng đánh giá mức độ lành mạnh của NHTM VN Các chỉ số về tình trạng sức khỏe của hệ thống tài chính - ngân hàng trước tiên được xem xét từ việc tổng hợp các chỉ số sức khỏe của các định chế tài chính riêng lẻ.
Khung phân tích chung nhất để đánh giá sức khoẻ của các định chế tài chính riêng lẻ là khung phân tích CAMELS, trong đó liên quan đến phân tích 6 nhóm các chỉ tiêu có tác động đến sức khỏe của các định chế tài chính, bao gồm: (1) Đảm bảo vốn đầy đủ hay an toàn vốn (Capital Adequacy-C); (2) Chất lượng tài san (Asset Quality-A); (3) Quản trị lành manh (Management Soundness-M) ; (4) Thu nhap (Earnings-E); (5) Tính thanh khoản (Liquydity-L); và (6) Độ nhạy rủi ro thi truong (Sensitivity to Market Risk-S).