CHƯƠNG 1 0 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA 1 NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 123doc 1 1.1 10 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái niệm: 18 Ngân hàng thương mại (NHTM) đã hình thành, tồn tại và phát triển hàng trăm năm, gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hóa. Sự có mặt của NHTM trong hầu hết các hoạt động kinh tế, xã hội đã chứng minh rằng “Ở đâu có một hệ thống ngân hàng thương mại phát triển thì ở đó có sự phát triển cao của nền kinh tế xã hội và ngược lại”. Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về NHTM. Ngân hàng thương mại là loại hình giao dịch trực tiếp với các công ty, xí nghiêp, tổ chức kinh tế và cá nhân, bằng cách nhận tiền gửi, tiền tiết kiệm, rồi sử dụng số vốn đó để cho vay, chiếc khấu, cung cấp các phương tiện thanh toán và cung ứng dich vụ ngân hàng cho các đối tượng nói trên.
Theo Luật các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010 nêu rõ: Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản,…nhằm mục tiêu lợi nhuận. Qua các khái niệm trên chúng ta có thể rút ra một số nhận xét sau: NHTM là một loại hình doanh nghiệp vì nó có cơ cấu, tổ chức bộ máy, cấu trúc tài chính giống như một doanh nghiệp. Bên cạnh đó, hoạt động của NHTM là hoạt động kinh doanh vì mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận. Tuy nhiên, NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt bởi vì: Lĩnh vực kinh doanh của NH là tiền tệ, tín dụng và dịch vụ NH.
Đây là lĩnh vực rất “nhạy cảm” vì nó liên quan trực tiếp đến tất cả các ngành cũng như mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội. Chất liệu kinh doanh của NH là tiền tệ - một công cụ được nhà nước sử 123doc 2 dụng để quản lý vĩ mô nền kinh tế và quyết định đến sự phát triển hay suy thoái của nền kinh tế nên được nhà nước kiểm soát rất chặt chẽ. Nguồn vốn chủ yếu mà ngân hàng sử dụng trong kinh doanh là vốn huy động từ bên ngoài, trong khi đó vốn riêng của ngân hàng lại chiếm tỷ trọng rất thấp trong tổng nguồn vốn kinh doanh. Tài sản hữu hình chiếm tỷ lệ rất thấp trong tổng tài sản của ngân hàng, chủ yếu là tài sản vô hình.
Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại chịu sự chi phối rất lớn bởi chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương. NHTM là một một trung gian tín dụng, đóng vai trò một tổ chức trung gian huy động các nguồn tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế rồi biến nguồn vốn đó để cấp tín dụng đáp ứng các nhu cầu vốn cho kinh doanh, đầu tư và tiêu dùng của nền kinh tế.2 Phân loại 19 - Dựa vào hình thức sở hữu có thể phân loại gồm: Ngân hàng thương mại quốc doanh: là các ngân hàng kinh doanh bằng vốn cấp phát của ngân sách Nhà nước. Ngân hàng thương mại cổ phần: là những ngân hàng hoạt động bằng nguồn vốn ban đầu do các cổ đông đóng góp. Ngân hàng thương mại liên doanh: có vốn được góp bởi một bên là ngân hàng Việt Nam, và bên còn lại là ngân hàng nước ngoài, có trụ sở đặt tại Việt Nam và hoạt động theo luật pháp Việt Nam.
Chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài: là ngân hàng được thành lập theo vốn và luật pháp nước ngoài, được phép mở chi nhánh tại Việt Nam và chi nhánh này hoạt động theo luật pháp Việt Nam. 123doc 3 Ngân hàng thương mại nước ngoài: là những ngân hàng được thành lập Việt Nam bằng vốn của các chủ thể nước ngoài và hoạt động theo luật pháp Việt Nam. - Dựa vào sản phẩm cung cấp cho khách hàng có thể phân thành: Ngân hàng bán buôn: số lượng sản phẩm cung cấp cho khách hàng không nhiều nhưng giá trị của từng sả phẩm là rất lớn. Khách hàng chủ yếu của các ngân hàng này là các công ty, xí nghiệp quy mô lớn, các tập đoàn kinh tế, tổng công ty.
Ngân hàng bán lẽ: số lượng sản phẩm ngân hàng cung cấp cho khách hàng rất nhiều nhưng giá trị của từng sản phẩm thường không lớn. Hoạt động của ngân hàng này chủ yếu là huy động vốn từ mọi thành phần kinh tế, và cho vay để giải quyết vấn đề tiêu dùng hoặc các dự án sản xuất với quy mô nhỏ và vừa. Ngân hàng vừa bán buôn vừa bán lẽ: Là dạng ngân hàng bao gồm cả hai hoạt động nêu trên. Ngân hàng nhắm vào tất cả các dạng khách hàng từ nhỏ đến lớn.
- Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động: Ngân hàng chuyên doanh: loại hình ngân hàng này chỉ hoạt động kinh doanh chuyên môn hóa trong một lĩnh vực nào đó hoặc một vài nghiệp vụ của Ngân hàng. Ngân hàng đa năng, kinh doanh tổng hợp: loại ngân hàng này hoạt động ở mọi lĩnh vực kinh tế và thực hiện bất kỳ nghiệp vụ nào được phép hoạt động của một ngân hàng thương mại.3 Chức năng của ngân hàng thương mại 20 1.1 Chức năng trung gian tín dụng 53 Trung gian tín dụng là chức năng quan trọng và cơ bản nhất của NHTM. Với chức năng này, NHTM đóng vai là người trung gian đứng ra tập trung, huy động các nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế (bao gồm tiền tiết kiệm của các tầng lớp dân cư, vốn bằng tiền của các đơn vị, tổ chức kinh tế, …) biến nó thành nguồn 123doc 4 vốn tín dụng để cho vay (cấp tín dụng) đáp ứng các nhu cầu vốn kinh doanh và vốn đầu tư cho các ngành kinh tế và nhu cầu vốn tiêu dùng của xã hội. Chức năng trung gian tín dụng được minh họa qua sơ đồ sau đây: Thu nhận Cấp Công ty Công ty Tiền gửi, tiết kiệm Ngân tín Xí nghiệp Xí nghiệp hàng Tổ chức kinh tế thương Tổ chức kinh tế Phát hành kỳ phiếu, mại dụng Hộ gia đình Cá nhân Cá nhân Trái phiếu 1.2 Chức năng trung gian thanh toán 54 NHTM đứng ra làm trung gian thanh toán để thực hiện các khoản giao dịch thanh toán giữa các khách hàng, giữa người mua, người bán…để hoàn tất các quan hệ kinh tế thương mại giữa họ với nhau, là nội dung thuộc chức năng trung gian thanh toán của NHTM.
Chức năng trung gian thanh toán được thể hiện qua sơ đồ sau: Lệnh Giấy Người trả tiền Người thụ Người mua trả tiền Ngân báo hưởng (Công ty, XN, hàng Người bán thương (Công ty, XN,tổ tổ chức kinh qua tài khoản mại có tế,cá nhân) chức kinh tế, cá nhân) 1.3 Chức năng cung ứng dịch vụ tài chính 55 Hiện nay, các NHTM cung ứng dịch vụ ngân hàng vừa đa dạng vừa tiện lợi, đáp ứng đầy đủ nhu cầu của khách hàng. Các dịch vụ này cũng đã mang đến cho NHTM những khoản thu nhập không nhỏ như: Dịch vụ ngân quỹ và chuyển tiền nhanh quốc nội; Dịch vụ kiều hối và chuyển tiền nhanh quốc tế; Dịch vụ ủy thác (bảo quản, thu hộ, 123doc 5 chi hộ…mua bán hộ…); Dịch vụ môi giới (chứng khoán, tiền tệ); Dịch vụ tư vấn đầu tư; cung cấp thông tin; Dịch vụ cho thuê két sắt; Dịch vụ ngân hàng điện tử (E- Banking), … 1.4 Các nghiệp vụ chủ yếu của ngân hàng thương mại 21 1.1 Nghiệp vụ nguồn vốn (Tài sản nợ): 56 Nghiệp vụ huy động nguồn vốn là hoạt động tiền đề có ý nghĩa đối với bản thân ngân hàng cũng như đối với xã hội. Trong nghiệp vụ này, NHTM được phép sử dụng những công cụ và biện pháp cần thiết mà luật pháp cho phép để huy động các nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội làm nguồn vốn tín dụng để cho vay đối với nền kinh tế. Thành phần nguồn vốn của ngân hàng thương mại gồm:Vốn điều lệ (Statutory Capital), Các quỹ dự trữ (Reserve funds), Vốn huy động (Mobilized Capital), Vốn đi vay (Borrowed Capital), Vốn tiếp nhận (Trust capital), Vốn khác (Other Capital).
Vốn điều lệ và các quỹ: ¾ Vốn điều lệ : là nguồn vốn ban đầu khi ngân hàng mới bắt đầu đi vào hoạt động và được ghi vào bản điều lệ của ngân hàng và phải đạt mức tối thiểu theo quy định của pháp luật. Tùy tính chất sở hữu của mỗi NHTM mà vốn điều lệ được ngân sách nhà nước cấp phát hoặc do các cổ đông đóng góp, nguồn vốn này trước hết được dùng để xây dựng trụ sở, văn phòng làm việc, mua sắm tài sản, trang thiết bị nhằm tạo cơ sở vật chất đảm bảo cho hoạt động của ngân hàng, số còn lại để đầu tư, liên doanh, cho vay trung và dài hạn. ¾ Các quỹ dự trữ của ngân hàng: Đây là các quỹ bắt buộc phải trích lập trong quá trình tồn tại và hoạt động của ngân hàng, các quỹ này được trích lập theo tỷ lệ qui định trên số lợi nhận ròng của ngân hàng, bao gồm: Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, Quỹ dự phòng tài chính, Quỹ đầu tư phát triển nghiệp vụ, Quỹ khen thưởng phúc lợi, Lợi nhuận không chia (lợi nhuận ròng còn lại sau khi đã trích lập các quỹ theo quy định) 123doc 6 Vốn điều lệ và các quỹ được gọi là vốn tự có của ngân hàng, được xem là yếu tố tài chính quan trọng, nó vừa cho thấy quy mô của ngân hàng, là tấm đệm chắn đỡ hoạt động kinh doanh cũng như quyết định quy mô huy động vốn, quy mô tài sản có. Vốn huy động Ðây là nguồn vốn chủ yếu của các ngân hàng thương mại, thực chất là tài sản bằng tiền của các chủ sở hữu mà ngân hàng tạm thời quản lý và sử dụng nhưng phải có nghĩa vụ hoàn trả kịp thời, đầy đủ khi khách hàng yêu cầu.
Nguồn vốn huy động là nguồn tài nguyên to lớn nhất, bao gồm: tiền gửi không kỳ hạn của các tổ chức- cá nhân, tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn, tiền phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, các khoản tiền gửi khác,… Vốn đi vay: khi vốn tự có và vốn huy động không đủ đáp ứng nhu cầu kinh doanh khi NHTM có thể đi vay từ ngân hàng nhà nước, các NHTM khác hay vay của các tổ chức tài chính, tín dụng quốc tế… Vốn tiếp nhận: Là nguồn vốn tài trợ của Chính phủ, của các tổ chức tài chính tiền tệ, các tổ chức đoàn thể-xã hội để tài trợ cho các chương trình dự án về phát triển kinh tế-xã hội, cải tạo môi trường sinh thái…và được chuyển qua NHTM thực hiện.