ĐẶT VẤN ĐỀ Trên Thế giới có khoảng 14 triệu ha rừng với trên 500 loài tre nứa, phân bố chủ yếu ở vùng Nam và Đông Nam Á, Việt Nam là một trong những trung tâm phân bố tre nứa của Thế giới, với gần 800.000 ha rừng tre nứa thuần loại, hơn 700.000 ha rừng tre nứa hỗn giao và hơn 2000 tỉ cây tre nứa phân tán theo ở các vùng như: Đông Bắc, Tây Bắc, Đồng Bằng Sông Hồng, Bắc Trung Bộ, Duyên Hải Miền Trung,… Do có nhiều đặc tính quý nên tre nứa đã được sử dụng trong đời sống hằng ngày cũng như trong thủ công nghiệp và công nghiệp hiện đại. Đã thống kê được hơn 30 công dụng của tre nứa, trong đó những công dụng chính là làm hàng thủ công, mỹ nghệ, làm vật liệu xây dựng, làm nguyên liệu trong công nghiệp giấy sợi và sản xuất măng tre làm thức ăn tươi hoặc khô. Theo chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam, đến năm 2010, nước ta sẽ sản xuất 2-2,5 triệu tấn giấy/năm; trong đó 30% nguyên liệu giấy có nguồn gốc từ tre nứa; như vậy phải cần khoảng 3-4 triệu tấn tre nứa/ năm, để đáp ứng cho riêng ngành công nghiệp giấy (5-6 kg tre nứa tươi cho 1 kg bột giấy). Ngoài ra còn cần rất nhiều tre nứa để sản xuất các mặt hàng mới như: sản xuất đũa, tăm tre, sản xuất ván ghép thanh, ván ép… Măng tre được sử dụng từ lâu đời; măng trúc, măng mai, măng giang, măng nứa…là các món ăn quen thuộc của mỗi người dân Việt Nam từ thành thị đến nông thôn.
Măng tre không chỉ được dùng trong nước mà còn là mặt hàng xuất khẩu ngày càng được ưa chuộng và yêu cầu với số lượng ngày càng tăng. Như vậy tre nứa là nhóm cây có sợi quan trọng bậc nhất. Trong kế hoạch hành động Lâm sản ngoài gỗ của bộ Nông nghiệp và PTNT đang soạn thảo cũng coi việc phát triển tre nứa là một trong những mục tiêu trọng tâm của Lâm sản ngoài gỗ trong thời gian tới. 4 Việc nghiên cứu, gây trồng và khai thác sử dụng nguồn nguyên liệu Lâm sản ngoài gỗ hiện nay đang được ngành Lâm nghiệp nói chung và ngành Chế biến lâm sản nói riêng quan tâm sâu sắc.
Đặc biệt trong công nghệ ván nhân tạo luôn mong muốn tạo ra những loại sản phẩm từ nguồn nguyên liệu này để đáp ứng nhu cầu sử dụng ngày càng tăng của thị trường. Vì vậy việc nghiên cứu sử dụng nguồn nguyên liệu tre nứa trong công nghiệp ván nhân tạo, làm vật liệu xây dựng và đồ mộc sẽ góp phần giải quyết vấn đề về nguyên liệu cho sản xuất, thúc đẩy khai thác có hiệu quả nguồn nguyên liệu và góp phần đa dạng hóa loại hình sản phẩm. Qua phân tích, đánh giá chung về tài nguyên và tình hình sử dụng tre nứa ở nước ta đã khẳng định vai trò to lớn của nó trong đời sống kinh tế xã hội. Hiện nay một số loài tre như Mai, Luồng, Vầu đã và đang được sử dụng chế biến các sản phẩm được sản xuất ở qui mô công nghiệp như ván sàn tre, chiếu tre, đũa tre, tăm hương, xiên thịt, chủ yếu để xuất khẩu.
Một số loài tre khác, trong đó có tre Lộc ngộc, mặc dù có một số ưu điểm về đặc điểm cấu tạo, kích thước… nhưng chưa được nghiên cứu đưa vào sử dụng. Để góp phần vào việc xác định dạng sản phẩm và công nghệ chế biến loài tre này, được sự phê duyệt của Khoa Chế biến, Trường ĐHLN, chúng tôi đã thực hiện đề tài nghiên cứu của Khoá luận tốt nghiệp “Nghiên cứu thử nghiệm công nghệ tạo chi tiết dạng thanh ép từ tre Lộc ngộc” 5 Chƣơng 1 MỤC TIÊU, PHƢƠNG PHÁP, NỘI DUNG NGHIÊN CỨU VÀ PHƢƠNG THỨC TIẾN HÀNH 1.1 Mục tiêu nghiên cứu Xác định được một số yếu tố công nghệ tạo chi tiết dạng thanh ép từ tre Lộc ngộc.2 Phƣơng pháp nghiên cứu. - Phương pháp thư viện: Tìm hiểu thu thập các tài liệu về nghiên cứu và sản xuất các sản phẩm từ tre nứa, song mây ở Việt Nam và các nước trong khu vực. - Phương pháp thực hành: Thử nghiệm để xác định một số yếu tố công nghệ tạo chi tiết dạng thanh ép từ tre Lộc Ngộc.3 Nội dung nghiên cứu.
- Tìm hiểu, đánh giá tình hình nghiên cứu, sản xuất các sản phẩm từ tre nứa, song mây. - Xác định sơ đồ xẻ thanh, tương ứng với đường kính và chiều dày vách ống tre. - Xác định một số tính chất công nghệ của tre Lộc Ngộc. - Quá trình gia công thanh.
- Công nghệ tạo thanh ép. - Đánh giá một số chỉ tiêu chất lượng thanh ép từ tre Lộc ngộc.4 Phƣơng thức tiến hành và qúa trình thực hiện 1.1 Phương thức tiến hành Dưới sự hướng dẫn của TS Trần Tuấn Nghĩa, nhóm sinh viên chúng tôi gồm 4 người, đã thực hiện các đề tài nghiên cứu của Khoá luận và Chuyên đề tốt nghiệp, cụ thể cho từng người như sau: 6 1. Nguyễn Văn Chính, với đề tài: Nghiên cứu thử nghiệm công nghệ tạo chi tiết dạng thanh ép từ tre Lộc ngộc. Nguyễn Sỹ Giáp, với đề tài: Khảo sát đánh giá đặc điểm, hình dạng và kích thước bên ngoài của tre Lộc Ngộc theo cấp đường kính.
Lê Văn Soạn, với đề tài: Khảo sát đánh giá sự biến động chiều dày thành ống của tre Lộc Ngộc theo cấp đường kính. Nguyễn Minh Đức, với đề tài: Khảo sát xác định công suất và đánh giá chất lượng nan chẻ từ tre Lộc Ngộc bằng máy chẻ nan Chin Yong Hàn Quốc. Đây là các vấn đề nghiên cứu có liên quan với nhau, thuộc một nội dung của một đề tài nghiên cứu chế biến tổng hợp tre Lộc ngộc. Cho nên thầy hướng dẫn đã chỉ đạo chúng tôi thực hiện theo nhóm trong việc thu thập tài liệu, số liệu và viết phần tổng quan và nhóm cũng được duy trì trong quá trình thực hiện các nội dung nghiên cứu.
Vì vậy phần tổng quan là kết quả nghiên cứu chung của 4 thành viên trong nhóm. Chúng tôi đã xác định Trường ĐHLN và Viện KHLNVN là hai cơ sở chủ yếu có thể thu thập các tài liệu, số liệu cho nội dung nghiên cứu này. Sau khi đã có được các tài liệu, số liệu thiết yếu, chúng tôi đã tiến hành lựa chọn, phân loại, sắp xếp, lập giàn bài và phân công mỗi người viết một phần. Tiếp theo chúng tôi tập hợp lại, thảo luận, bổ sung, hoàn thiện và nộp cho thầy hướng dẫn, sửa chữa lần cuối cùng.2 Quá trình thực hiện Phòng N/C Chế biến lâm sản, Viện KHLNVN là cơ sở để chúng tôi tiến hành thực hiện các thử nghiệm, thí nghiệm theo đề cương nghiên cứu đã được phê duyệt.
Chèm – Từ Liêm – Hà Nội, khu vực kinh doanh tre cây tươi được lựa chọn làm hiện trường đo đếm các kích thước và đặc điểm của đối tượng nghiên cứu – tre Lộc ngộc. 7 Thời gian thực tập tốt nghiệp từ 5/3 đến 20/4/2008. Các công cụ, dụng cụ được chuẩn bị để đo đếm kích thước và đặc điểm của tre Lộc ngộc gồm: - Thước cuộn kim loại, 5m. - Thước kẹp đo đường kính tre.
- Thước panme điện tử hiện số. - Thước kẻ, giấy, bút. Chúng tôi đã chọn ngẫu nhiên 30 cây tre Lộc ngộc theo 6 cấp đường kính (gốc) trong một lô tre tại hiện trường. Đầu tiên, đánh số thứ tự, đo chiều dài từng cây tre, đếm số lượng lóng tre và đo chiều dài các lóng của từng cây tre.
Tiếp theo, chia mỗi cây tre thành 10 đoạn bằng nhau, cắt ra và đo đường kính và chiều dày vách tre và ghi các số liệu đo đếm được vào các bảng theo mẫu dưới đây. Bảng 1: Đo đƣờng kính theo chiều dài thân cây tre. Đo đường kính (cm) tại các điểm H/10 (mm) TT H m D0 D1 D2 D3 D4 D5 D6 D7 D8 D9 D10 1 2 … 30 8 Bảng 2: Đo chiều dày các thành ống theo chiều dài thân tre Chiều dày thành các ống tre tại các điểm H/10 (mm) TT Hm S0 S1 S2 S3 S4 S5 S6 S7 S8 S9 S10 1 2 … 30 Bảng 3: Đo chiều dài các lóng của cây tre Chiều dài các lóng tre (m) TT H m 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11. 1 2 … 30 Các số liệu và nguyên liệu thu được là dữ liệu chung cho các thành viên trong nhóm xử lý, thử nghiệm theo các nội dung nghiên cứu của từng đề tài.
9 Chƣơng 2 TÌM HIỂU TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, SẢN XUẤT CÁC SẢN PHẨM TỪ TRE NỨA Ở TRONG VÀ NGOÀI NƢỚC 2.1 Tình hình nghiên cứu, chế biến các sản phẩm từ tre nứa ở nước ngoài. Có lẽ tác phẩm đầu tiên nghiên cứu tre trúc trên thế giới là của tác giả Munro được xuất bản vào năm 1868 với tựa đề: “Nghiên cứu về Bambusaceae”. Sau đó là tác phẩm của tác giả Gamble viết về “Các loài tre trúc ở Ấn Độ” được xuất bản vào năm 1896. Trong tác phẩm này, tác giả đã mô tả khá chi tiết về đặc điểm hình thái của 151 loài tre trúc phân bố ở Ấn Độ và một số loài tre trúc ở Pakisttan, Srilanca, Myanma, Malaysia và Indonesia, theo ý kiến của Gamble thì các loài tre trúc là loài thực vật chỉ thị rất tốt về các đặc điểm và độ phì nhiêu của đất.
Ví dụ: loài Bambusa polymorphe phân bố trong tự nhiên đã chỉ thị cho đặc điểm của đất đủ độ ẩm gần như quanh năm và có hàm lượng các chất dinh dưỡng khoáng tương đối cao hay đất tốt”, do đó nó phân bố trong kiểu rừng tự nhiên thường xanh, ẩm. Nhưng trái lại loài Dendrocalamus strictus phân bố trong tự nhiên lại chỉ thị cho điều kiện đất đai khô hạn, thuộc kiểu rừng tự nhiên thưa, rụng lá. Tre nứa là một nhóm cây có thân hóa gỗ, thuộc họ phụ tre (Bambusoideae), họ cỏ (Poaceea) với khoảng 1300 loài tre, thuộc 70 chi, phân bố trên toàn thế giới, phân bố tập trung nhiều nhât ở vùng Nam và Đông Nam Châu Á. Cho đến nay, đã thống kê được khoảng 14 triệu hecta rừng tre nứa phân bố trên thế giới.
Với diện tích lớn như vậy, tre nứa đã đóng vai trò quan trọng chỉ đứng sau gỗ với ngành Lâm Nghiệp ở các nước ở Châu Á, đặc biệt là các nước Đông Nam Á. Trên Thế giới có hơn một nửa dân số liên quan đến sử dụng, quản lý và phát triển tre nứa. Đến nay nhiều nước Châu Á đã nghiên cứu gây trồng và phát triển 10 rừng tre nứa thành những vùng cung cấp nguyên liệu cho chế biến thực phẩm (chủ yếu là măng) và công nghiệp.