CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Mục tiêu dạy học 1. Khái niệm mục tiêu Mục tiêu là một trong những yếu tố cơ bản của hành vi và hành động có ý thức của con người. Mục tiêu được coi như sự dự đoán trước kết quả của hành động.
Đó là cái đích thực tế cần phải hoàn thành. Con người tổ chức mọi hành động của mình xoay quanh những cái đích thực tế đó [10]. Mục tiêu giáo dục của một môn học là những đóng góp của việc học tập môn học trong sự hình thành nhân cách của HS. Việc cụ thể hóa các mục tiêu môn học Ở nước ta mục tiêu môn học được cụ thể hóa thành chuẩn kiến thức kĩ năng của môn học.
“ Chuẩn kiến thức kĩ năng là yêu cầu cơ bản, tối thiểu về kiến thức, kĩ năng môn học, hoạt động giáo dục mà học sinh cầm phải và có thể đạt được sau từng giai đoạn học tập” [10]. Những mức độ cần đạt ở từng nội dung. Các mức độ cần đạt này được mô tả theo những căn cứ sau: - Với những kiến thức thì căn cứ trên 6 cấp độ nhận thức của Bloom và Anderson: Nhận biết (Biết), Hiểu, vận dụng, phân tích, đánh giá, sáng tạo với một tập hợp các động từ dùng để biểu đạt từng mức như: biết, ghi nhớ, quan sát, nêu, hiểu thế nào là mô tả, phân biệt, sử dụng. - Với những kĩ năng thì căn cứ vào mức độ thành thạo thao tác của từng kĩ năng: phát hiện, biết làm, biết dùng, tìm được, soát lại, đọc, viết, trình bày lại.
Kĩ năng đòi hỏi sử dụng các tri thức đã học vào việc giải quyết một vấn đề nhất định dựa trên những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể. - Thái độ thường được phân loại căn cứ theo lĩnh vực tình cảm, cảm xúc của D.Krathwol bao gồm: tiếp nhận, đáp lại, phát huy, sắp xếp, tổ chức các giá trị. - Thái độ thể hiện tâm trạng nội tâm, biểu hiện mức độ phản ánh tích cực, chấp nhận hay không chấp nhận đối với sự vật, hiện tượng, con người,. Trong nhà trường, thái độ của HS thường là thể hiện thái độ đối với việc học tập, với môn học, với GV, cán bộ nhân viên trong nhà trường, với HS khác,.
Cơ sở lý luận về kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh trong quá trình dạy học 1. Khái niệm về kiểm tra, đánh giá, kết quả học tập Kiểm tra (Testing) Kiểm tra là hoạt động để đưa ra các nhận xét, phán quyết dựa vào các thông tin thu thập được từ các công cụ đã chuẩn bị trước với mục đích ĐG thực trạng, nhằm xác định các mặt tích cực, các hạn chế, các nguyên nhân để điều chỉnh hướng tới mục tiêu đã đề ra[10]. Kết quả học tập KQHT được coi như là thành công của người học thể hiện cụ thể những điều HS biết và làm được so với mục tiêu học tập. UNESCO còn nhấn mạnh đặc điểm “có thể chứng minh sau khi hoàn thành quá trình học tập”.
Ví dụ mục tiêu của HS cần đạt được sau khi học xong bài nội dung “ Dẫn Nhiệt” thuộc chủ đề “Các hình thức truyền nhiệt” - Quan sát, phân tích, giải thích hiện tượng nhiệt xảy ra với chiếc thìa - Phát hiện được VĐ : “Mọi chỗ trên chiếc thìa có nóng lên cùng một lúc hay không? Nhiệt được truyền trong chiếc thìa như thế nào” - Đề xuất phương án kiểm tra xem chiếc thìa có nóng lên cùng một lúc không - Đề xuất dự đoán xem nếu dùng các thìa (các chất rắn) khác nhau thì tại cùng 1 vị trí nó có nóng lên cùng một lúc không? - Đề xuất phương án làm nguội nhanh cốc nước - Phân tích, đánh giá xem phương án nào kiểm tra chiếc thìa có nóng lên cùng 1 lúc là chính xác, an toàn và khả thi. - Tiến hành TN để kiểm tra sự truyền nhiệt trong chiếc thìa (thanh nhôm) - Tiến hành TN kiểm tra sự truyền nhiệt trong các vật rắn khác nhau có như nhau hay không - Biết điều chỉnh từng bước tiến hành TN cho phù hợp 9 - Phát biểu được nhiệt năng có thể truyền từ phần này sang phần khác của một vật, từ vật này sang vật khác bằng hình thức dẫn nhiệt. - Phát biểu được chất rắn dẫn nhiệt tốt. Trong chất rắn, kim loại dẫn nhiệt tốt nhất.
Chất lỏng và chất khí dẫn nhiệt kém. - Phát biểu được VĐ “Chất lỏng dẫn nhiệt kém nhưng khi đun nóng từ phía dưới thì lại nóng lên rất nhanh. Vậy trong trường hợp này nhiệt được truyền trong lòng chất lỏng như thế nào?” ĐG KQHT của HS là quá trình thu thập thông tin, phân tích và lý giải thức trạng việc đạt mục tiêu học tập của HS, tìm hiểu nguyên nhân, ra những quyết định sư phạm giúp HS học tập tiến bộ (Hoàng Đức Nhuận, Lê Đức Phúc,1996). Vai trò của kiểm tra đánh giá trong quá trình dạy học ĐG là một bộ phận hợp thành quan trọng không thể thiếu được của quá trình dạy học.
Đối với GV, ĐG cung cấp những thông tin có liên quan đến HS nhằm giúp cho họ điều chỉnh hoạt động của mình tốt hơn. ĐG giúp cho GV xem xét mục tiêu đề ra, phương pháp giáo dục, giảng dạy có cần cải tiến hay không và tự ĐG trình độ chuyên môn của bản thân GV [10]. Đối với HS, ĐG được tiến hành tốt giúp HS có cơ hội để củng cố tri thức, phát triển trí tuệ. Đối với các nhà quản lý, ĐG giúp đưa ra những quyết định để cải tiến và hoàn thiện nội dung hay chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học.
Mối quan hệ giữa mục tiêu môn học và đánh giá Mục tiêu môn học và ĐG có mối quan hệ mật thiết với nhau. Trước hết mục tiêu là cái đích, là kết quả để người ĐG so sánh đưa ra các nhận định, ý kiến, đề xuất những quyết định để cải thiện thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng, hiệu quả công việc trong quá trình giảng dạy. Có thể thấy mục tiêu thế nào thì ĐG thế ấy. Ngược lại, ĐG cũng có tác động trở lại làm thay đổi mục tiêu.
Chức năng của đánh giá Ba chức năng cơ bản của ĐG đó là chức năng định hướng, chức năng hỗ trợ và chức năng xác nhận, cụ thể: Chức năng định hướng; Chức năng hỗ trợ ; Chức năng xác nhận. Các yêu cầu sư phạm đối với việc đánh giá KQHT i) Yêu cầu đảm bảo sự phù hợp của phương pháp ĐG 10 Yêu cầu này đòi hỏi các phương pháp ĐG được lựa chọn và sử dụng phải đo lường các mục tiêu học tập đã xác định. ii) Yêu cầu đảm bảo tính giá trị Tính giá trị đòi hỏi phải ĐG và đo lường được đúng các mục tiêu định đo. Để ĐG có giá trị cần phải có sự phân tích về mặt chuyên môn nhằm xác định một công cụ được xây dựng là thích hợp cho việc đo lường các mục tiêu.
iii) Yêu cầu đảm bảo tính tin cậy Tính tin cậy chỉ sự chính xác của ĐG tức là phản ánh đúng KQHT của người học như nó tồn tại trên cơ sở đối chiếu với mục tiêu đã đề ra. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến độ tin cậy gồm yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài. iv) Yêu cầu đảm bảo công bằng ĐG đảm bảo công bằng là phải tạo điều kiện cho tất cả HS có cơ hội như nhau để thể hiện KQHT và kết quả ĐG phải thể hiện đúng KQHT của họ v) Yêu cầu đảm bảo tính hiệu quả Đảm bảo tính hiệu quả của ĐG có nghĩa là ĐG phải phù hopự với công sức và thời giạn tiến hành ĐG. Trong quá trình ĐG KQHT, tất cả các yêu cầu trên có mối liên hệ với nhau, chúng cần được thực hiện đồng thời nhằm thực hiện tốt các chức năng của ĐG.
Quy trình đánh giá KQHT Quy trình là các bước cần để tiến hành nhằm đảm bảo nguyên tắc và thu thập được đầy đủ lượng thông tin nhằm đạt mục tiêu mong muốn của ĐG KQHT. Tùy thuộc vào mục tiêu, đối tượng, nội dung , thời điểm và các kết quả ĐG đã có trước đó mà quy trình có thể chia làm các bước khác nhau. Tuy nhiên, có thể phát huy tối đa vai trò của ĐG KQHT thì cần có một số bước cơ bản sau: Bước 1: Thiết lập các mục tiêu ĐG Thiết lập các mục tiêu ĐG rõ ràng, đo lường được là yêu cầu đầu tiên của tiến trình ĐG Bước 2: Lựa chọn kĩ thuật, câu hỏi, bài tập ĐG Một khi đã thiết lập được các mục tiêu lớp học, GV cần lựa chọn kỹ thuật ĐG, thiết kế câu hỏi, bài tập ĐG thích hợp với mỗi mục tiêu nói trên. Bước 3: Thực hiện ĐG Khi tiến hành kiểm tra, GV nên thực hiện một số hoạt động sau: 11 - Sắp xếp lại môi trường thuận lợi, thoáng mát, tránh những sao nhãng, nhàm chán.
- Hướng dẫn HS cách làm bài kiểm tra như thế nào, GV có thể thu thập thông tin gì của bài kiểm tra, nên sử dụng thời gian làm bài thế nào có lợi nhất,. - Giám sát chặt chẽ suốt thời gian làm bài, khuyến khích sự cố gắng của mọi HS trong lớp. Khi quan sát trên lớp GV cần lưu ý Việc ghi lại các nội dung quan sát có vai trò rất quan trọng với tính khách quan và độ tin cậy của dữ liệu. Việc quan sát rất hữu ích trong ĐG, đặc biệt là quá trình thể hiện việc xây dựng, phát triển hoạt động của HS, hoặc sự hình thành năng lực.
Bước 4: Phân tích, thông báo kết quả với HS ĐG không chỉ là thực hành trên lớp mà còn thảo luận kết quả đạt được với HS, phản hồi lại những điểm mạnh, điểm yếu của HS. Năng lực giải quyết vấn đề 1. Giải quyết vấn đề Vấn đề Theo từ điển Petit Robet [43], VĐ là câu hỏi cần GQ. Câu trả lời cho câu hỏi này đưa đến hoặc là tìm thấy một kết quả xuất phát từ một số dữ liệu, hoặc là xác định một PP cần theo đuổi để nhận được một kết quả được cho là đã biết.
Đến thế kỉ XVIII, từ “vấn đề” dần dần thay cho từ “câu hỏi”. Vậy, thế nào là một câu hỏi? Từ điển này cũng cho rằng “câu hỏi” được vay mượn từ ngôn ngữ la tinh thế kỉ XVII. Thuật ngữ này biểu thị “việc NC nói chung” và còn có nghĩa là điều tra, hỏi, chính xác hơn là “điều tra với sự mò mẫm” và trong ngôn ngữ triết học là “hỏi”, “thảo luận”. Thậm chí, từ điển còn chính xác rằng: từ câu hỏi, cần thực hiện NC, yêu cầu làm cái gì đó để thu nhận thông tin.