MỞ ĐẦU Việt Nam là một quốc gia ven biển, có bờ biển dài hơn 3.260 km và vùng biển rộng khoảng 1 triệu km2, gấp 3 lần diện tích đất liền. Dải ven biển (tính theo địa giới hành chính của các thành phố, huyện!thị giáp biển) có điện tích rộng khoảng 6,1 triệu ha và dân số 21,4 triệu người, chiếm 18,4% diện tích tự nhiên và 26,7% dân số của cả nước. Vùng biển và dải ven biển Việt Nam có nhiều tiềm năng, lợi thế phát triển và là địa bàn chiến lược cực kỳ quan trọng cả về kinh tế, chính trị và an ninh quốc phòng. Với vị trí địa lý kinh tế - chính trị hết sức thuận lợi, dải ven biển được coi là cửa ngõ quan trọng, là “mới iển” lớn của nước ta để đẩy mạnh giao lưu kinh tế và hội nhập quốc tế, đồng thời là địa bàn rất thuận lợi để thu hút đầu tư phát triển nhanh, làm động lực thúc đẩy các vùng khác trong cả nước.
Các tài nguyên ở biển và ven biển khá phong phú, đa dạng, trong đó một số loại có tiểm nang lớn như dầu khí, hải sản, điều kiện xây dựng cảng, tài nguyên du lịch. là những nguồn lực phát triển quan trọng. Để phát huy có hiệu quả những tiểm năng, lợi thế đó của biển và dai ven biển, Bộ Khoa học - Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ) đã quyết định triển khai Đề tài “Cơ sở khoa học cho việc phát triển kinh tế - xã hội dải ven biển Việt Nam, đề xuất các mô hình phát triển cho một số khu vực trọng điểm ” thuộc Chương trình Điều tra cơ bản và nghiên cứu ứng dụng công nghệ Biển giai đoạn 2001 - 2005 (Mã số KC.09), coi đây là một trong những nhiệm vụ chính của Chương trình. Mục tiêu của Đề tài là: 1.
Có được cơ sở dữ liệu tương đối đây đủ, hệ thống và đủ tin cậy về điều kiện tự nhiên, tài nguyên và kinh tế - xã hội dải ven biển Việt Nam. Có được các phương án phát triển kinh tế - xã hội phù hợp, có tính khả thi cho các khu vực mang tính đột phá ven biển (quy mô lớn) nhằm tạo động lực mạnh thúc đẩy sự phát triển của toàn dải ven biển và cả nước. Để xuất và chuyển giao cho địa phương ứng dụng thử nghiệm các mô hình phát triển KTXH (uy mô nhỏ) cho một số khu vực trọng điểm ven biển Việt Nam (cho cả khu vực động lực và khu vực khó khăn). Để thực hiện các mục tiêu trên, Đề tài đã phối hợp với một số cơ quan ở Trung ương và các địa phương có biển triển khai nghiên cứu hơn 30 chuyên đề liên quan.
Trên cơ sở tổng hợp các nghiên cứu chuyên đẻ, Ban Chủ nhiệm Dé tài xây dựng Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu của Đề tài với những nội dung sau: Viện Chiến lược phát triển. Chuong I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG I - DẢI VEN BIỂN VÀ PHẠM VI RANH GIỚI CUA DAI VEN BIEN 1. Khái niệm chung về dải ven biển Dải ven biển (hay còn gọi là vùng ven biển, đới bờ, dải ven bờ, hoặc dải bờ biển.) là một thực thể tự nhiên hoàn chỉnh cấp hành tinh, có đặc trưng riêng về nguồn gốc phát sinh, về hình thái, cấu trúc, về cơ cấu tài nguyên và quá trình phát triển, tiến hoá. Mặc dù đã được nghiên cứu từ lâu nhưng cho đến nay, khái niệm về dải ven biển và phạm vi ranh giới của dải ven biển vẫn còn là những vấn đề chưa thống nhất, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu cả trong khoa học tự nhiên và trong khoa học kinh tế.
Theo các tài liệu nước ngoài, tương đương với thuật ngữ "đổi ven biển" của Việt Nam, có các thuật ngữ sau: - Nga: Vùng duyên hải - - Phdp: Ving ven bién (Littoral hoac Céte). - Anh: Ving ven bién (Coastal zone), - Trung Quốc: Vàng diên hải hay Vùng duyên hải. Như vậy, quan niệm, việc phân định và tiêu chí để xác định ranh giới dải ven biển của mỗi nước cũng khác nhau. Ngoài ra, trong từng lĩnh vực khoa học khác nhau cũng có những khái niệm riêng về dải ven biển và cách tiếp cận riêng để xác định phạm vì ranh giới của dải ven biển.
Trong "Từ điển bách khoa các thuật ngữ Địa lý tự nhiên (bốn thứ tiếng Nga, Anh, Pháp, Đức) - NXB Tiến bộ, Maxcoơva 1980, vùng ven biển được định nghĩa như sau: “Vùng ven biển là dải ranh giới giữa đất liên và biển, đặc trưng bởi sự có mặt phổ biến của các dạng địa hình bờ biển cổ và hiện đại. Ở dạng đầy đủ hơn, bao gồm khái niệm miền duyên hải - là dải lục địa có các thêm biển cổ, dải bờ - nơi có các dạng bờ hiện đại, và ven bờ biển hoặc là nơi có các dạng bờ cổ bị chìm ngập”. Định nghĩa này trình bày khái niệm theo quan điểm địa mạo, địa lý tự nhiên. Cũng theo quan điểm này, một số tác giả khác sử dụng đường đẳng cao 25 mét làm ranh giới phía trong của vùng ven biển.
Song trong thực tiễn nghiên cứu cho thấy, ở phạm vi rộng hơn thì cách xác định ranh giới vùng ven biển như trên là chưa bao quát được hết những đối tượng nghiên cứu mà các nhà khoa học và quản lý quan tâm, nhất là trong các lĩnh vực khoa học Địa lý kinh tế - xã hội, kinh tế học và nhân khẩu học. 6 Ble téng hợp Đề tài KC. Viện Chiến lược phát triển. Trong Bách khoa toàn thư về Hải dương học, các nhà khoa học Xô Viết trước đây cũng đưa ra những quan điểm khác nhau về ranh giới vùng ven biển.
Song phần lớn các cách xác định đó chỉ phù hợp với việc nghiên cứu các quy luật và đặc điểm của tự nhiên, môi trường và tài nguyên thiên nhiên. Còn đối với các nghiên cứu về dân cư, kinh tế - xã hội thì lại chưa bao quát được và có những khó khăn nhất định trong việc thu thập và xử lý số liệu. Tại Hội thảo Khoa học quốc gia “Nghiên cứu và quản lý vùng ven biển Viét Nam" thang 12 nam 1992, Gido su Joe Baker của Viện Khoa học biển Autralia đã dẫn ra một số định nghĩa về dải ven biển như sau: Thứ nhất, “Dải ven biển là độ dài đường bờ biển của đất nước" - "The lineal length of the country’s coastline". Ong cho rang dinh nghia nay chua thích đáng, vì nó không thể hiện được sự tương tác giữa biển và lục địa cũng như những biến đổi điễn ra do mối tương tác đó.
Tiếp đến ông lại dẫn ra định nghĩa khác: "Vùng ven biển là dải đất rộng khoảng 3 km dọc đường bờ biển, bao gồm phần kéo dài của biểu đến ranh giới ảnh hưởng của thuỷ triểu vào trong đất liên", Tuy định nghĩa này cũng đã đề cập đến tương tác biển - lục địa, thông qua tác động của thuỷ triều, song vẫn có những hạn chế, nhất là khi nghiên cứu những vấn đề liên quan đến sử dụng đất đai, thổ nhưỡng và các vấn đề về kinh tế - xã hội. của đải ven biển. Sau cùng ông đưa ra định nghĩa: “Vàng ven biển là vùng đất - biển kéo dài từ giới hạn phía trên của lưu vực các con sông, suối. chảy vào biển, tới giới hạn ảnh hưởng của lục địa".
Với định nghĩa này thì vùng ven biển nước ta có phạm vi rất rộng và hầu như bao trùm toàn bộ lãnh thổ của Việt Nam. Do đó việc xác định nội dung nghiên cứu, trọng điểm nghiên cứu và qui hoạch phát triển vùng ven biển có nhiều khó khăn, không cụ thể và không sát với thực tế. Trong Chương trình quản lý nguồn tài nguyên ven biển khu vực Đông Á, khi để cập đến việc phân định ranh giới của dải ven biển, các nhà nghiên cứu của các nước ASEAN đã nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa các vấn đề sinh thái nhân văn với các vấn đề địa kinh tế - xã hội trong việc phân định dải ven biển. Với cách tiếp cận này, các nhà nghiên cứu cho rằng vùng ven biển là vùng kinh tế - xã hội và nhân văn có liên quan đến quá trình khai thác tài nguyên biển theo quan điểm phát triển bền vững phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Quan điểm phân định này nghiêng về khai thác các nguồn tài nguyên phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội, các yếu tố về địa sinh thái còn mờ nhạt. Mặt khác phạm vi không gian của vùng ven biển ở đây là tương đối mở 7 Bile tổng hợp Đề tài KC. Viện Chiến lược phát triển. và không xác định cụ thể.
Việc xác định phạm vi vùng ven biển là bao nhiêu Km từ bờ biển vào trong đất liền phụ thuộc vào mức độ đầu tư phát triển các ngành dựa vào khai thác các nguồn tài nguyên biển và ven biển của mỗi quốc gia. Theo chúng tôi quan điểm này chỉ phù hợp với các quốc gia nhỏ ven biển như Singapore và các quốc gia đảo khác. Trong các chương trình quản lý tổng hợp vùng ven biển (ICZM) của các nước ASEAN, phần lớn các nước đều dựa vào nguồn lợi của vùng nước lợ và hệ sinh thái nước lợ để xác định ranh giới tương đối của dải ven biển để xây dựng các kế hoạch phát triển và quản lý. Ví dụ, Malayxia căn cứ vào hệ sinh thái nước lợ ở các vùng ngập mặn như rừng sú vẹt, rừng tràm.
(khoảng 4%oø lãnh thổ) để xác định vùng ven biển phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội vùng ven biển. Malayxia và Philippine thì xác định ranh giới tương đối của vùng ven biển là từ vùng nước sâu 50 mét trên biển đến nơi có hệ sinh thái nước lợ tồn tại (khoảng 10 km). Còn Bangladesh lại xác định vùng ven biển từ đường đẳng sâu 100 mét đến vùng nước lợ ở các cửa sông lúc triều lên, vào sâu trong lục địa khoảng 12 km v. Trong các nghiên cứu hỗ trợ cho lĩnh vực môi trường ở Việt Nam, Tổ chức bảo tồn thiên nhiên Quốc tế IUCN cũng rất quan tâm đến các vùng ven biển và cho rằng: “Việc xác định thế nào là vùng ven biển rất khó, song có thể nói đó là vùng tính sâu vào nội địa tới điểm ảnh hưởng của thuỷ triểu lên các con sông, suối và các vùng đất ngập nước, hoặc tính sâu vào nội địa 10 km, tuỳ theo khoảng cách nào lớn hơn".
Cách hiểu này là tương đối phù hợp với hướng nghiên cứu những vấn đề về điều kiện tự nhiên và tài nguyên vùng ven biển.