Chương 1. Khái quát về thương mại dịch vụ của ASEAN và các cam kết trong hiệp định thương mại dịch vụ ASEAN Chương 2. Các vấn dé pháp lý về cam kết mở cửa thị trường theo quy định của hiệp định thương mại dịch vụ ASEAN (ATISA) Chương 3. Thực tiễn cam kết mở cửa thị trường theo hiệp định thương mại địch vụ ASEAN của một số quốc gia thành viên ASEAN và Việt Nam NỘI DUNG CHUONG 1 KHAI QUAT VE THUONG MAI DICH VU CUA ASEAN VA CAC CAM KET TRONG HIEP DINH THUONG MAI DICH VU ASEAN Trong xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, lĩnh vực thương mại dịch vụ đang ngày cảng chiếm vị trí quan trọng, góp phần vào sự thúc đây việc hợp tác kinh tế với các nước trong khu vực và trong thế giới.
Trong khuôn khổ khu vực ASEAN việc hợp tác thương mại dịch vụ giữa các nước đã được hình thành và phát triển, các cam kết đa phương song phương lần lượt được ký kết và thực hiện. Hiệp định thương mại dịch vụ ASEAN (ATISA) ra đời là một trong 03 Hiệp định trụ cột về thương mại hiện nay của ASEAN, bên cạnh Hiệp định về thương mại hàng hóa (viết tắt là ATIGA) và Hiệp định Toàn điện về đầu tư (ACIA). Khái quát về thương mại dịch vụ của ASEAN 1. Khái niệm về thương mai dịch vụ của ASEAN 1.
Định nghĩa - Dịch vu Phát triển kinh tế của mỗi quốc gia không thé chi dựa trên các ngành sản xuất hàng hoá truyền thông mà còn cần sự hỗ trợ của các ngành dịch vụ. Sản xuất và suất khâu của hàng hóa truyền thông như ngành dịch may, nông sản và các ngành san xuất khác sẽ không thé vươn tới và cạnh tranh tại các thị trường nước ngoàải nếu thiếu các dịch vụ thiết yếu như thanh toán, bảo hiểm, kế toán, công nghệ thông tin và vận chuyền. Do đó, ở các thị trường không đủ nguồn cung, nhập khâu địch vụ cũng quan trọng không kém nhập khẩu hàng hóa. Việc tự do hóa các lĩnh vực dịch vụ, tạo điều kiện mở cửa thị trường va nâng cao tính cạnh tranh của dịch vụ nội dia với dịch vụ nước ngoài đã dần trở nên thiết yếu, và tác động đến tất cả các ngành kinh tế của một quốc gia.
Nói đến địch vụ, hiện nay chưa có một 5 định nghĩa thong nhất nào bao quát được toàn bộ và sử dụng rộng rãi cho tat cả các cách tiếp cận về dich vụ. Khái niệm về địch vụ cũng được nêu trong từ điển Oxford Business English, theo đó: “Dich vụ là lợi ích mà thương nhân mang lại cho khách hàng nhưng không phải là hang hóa”!. Khái niệm này cho rằng dich vụ là những lợi ích ma một thương gia có thé dem lại cho khách hàng. Tuy nhiên khái niệm này cho rằng dịch vụ không phải là hàng hóa.
Tiếp cận theo góc độ kinh tế, “Dich vụ là một hoạt động hay lợi ích cung ứng nhằm dé trao đổi, chủ yếu là vô hình và không dan đến việc chuyên quyền sở hữu. Việc thực hiện dich vụ có thé gắn lién hoặc không gan liền với sản phẩm vật chất”2, Khái niệm này cho thay dịch vụ là một hoạt động của con người nhằm đem lại lợi ích cho người khác; dịch vụ là vô hình và không phát sinh vấn dé chuyển quyền sở hữu khi dem dich vụ ra trao đồi. Hay dịch vụ là một khái niệm rat rong, từ việc đáp ứng nhu cau cá nhân đến việc phục vụ cho một ngành sản xuất, là một ngành kinh tế độc lập, hiện nay đang chiếm một tỷ trọng lớn trong nên kinh tế quốc dan va không ngừng được tăng cao. Trong khuôn khổ của GATT/WTO, tại vòng đàm phan Uruguay diễn ra từ năm 1986 đến năm 1994, các nước thành viên của GATT đã thông qua Hiệp định chung về Thương mai dich vụ (General Agreement on Trade in Services, viết tắt là GATS).
Hiệp định được thiết lập nhằm mở rộng phạm vi điều chỉnh của hệ thông thương mại đa phương sang lĩnh vực dịch vụ chứ không điều chỉnh một mình lĩnh vực thương mại hàng hóa như trước đó. GATS không có định nghĩa cụ thể về địch vụ, theo đó đề xác định hành vi hoặc hoạt động nào là dịch vụ, các nước phải tuân theo quy định của Liên hợp quốc về dịch vụ, đặc biệt là phải tuân theo quy định tại Bảng phân 1 Oxford Business English Dictionary, 2005 ? Philip Kotler. (2001), Marketing Management Millenium Edition, Prentice-Hall, USA, tr. 200 4 Thuong mai dich vụ- Một sô van dé lý luận và thực tiễn- GS.
Hồ Văn Tĩnh — Học viện Chính tri Quốc gia Hồ Chi Minh. 6 loại các dịch vụ cơ bản của Liên hợp quốc (Danh mục PCPP/CPC). Bất cứ hành vi hoặc hoạt động nào được liệt kê vào, được mô ta và được mã hoa trong Danh mục PCPC/CPC nói trên thì hành vi hoặc hoạt động đó được thừa nhận là dịch vụ trong giao dịch thương mại quốc tê. Như vậy có thé hiểu, địch vụ là những hoạt động tạo ra giá trị mà chủ thé cung cap dich vu thực hiện cho chủ thé sử dung địch vu ma sản phâm của nó ở dang vô hình.
- Thương mại dịch vụ Thuong mại dich vu (trade in services) là quan hệ mua ban giữa nha cung cấp dich vụ và người sử dung dich vu diễn ra đưới hinh thức cung ứng dich vụ. Trong khuôn khổ của GATS/WTO thương mại dich vụ là quan hệ thương mại giữa nhà cung cấp dịch vụ và người sử dung dich vụ diễn ra duoi hình thức cung ứng dịch vu theo các phương thức sau: + Từ lãnh thé của quốc gia này (bên cung ứng dịch vụ) đến lãnh thé của quốc gia khác (bên sử dung dich vụ) theo phương thức cung ứng dich vụ qua biên giới; + Trên lãnh thồ của quốc gia này (bên sử dụng dịch vụ) cho người sử dụng dịch vụ của bất kỷ quốc gia nảo khác theo phương thức tiêu dùng dịch vu Ở nước ngoài; + Bởi nhà cung ứng dịch vụ của quốc gia này (bên cung cấp dịch vụ) tại bat ky quốc gia nao khác (bên sử dung dich vụ) theo phương thức hiện điện thương mại; + Bởi thể nhân cung cấp dịch vụ của quốc gia này (bên cung cấp dịch vụ) tại bất ky quốc gia nào khác (bên sử dụng dich vụ) theo phương thức hiện diện thé nhân. Tóm lại, có thể hiéu thương mại dịch vụ của ASEAN là các hoạt động thương mại trong lĩnh vực dịch vụ của ASEAN được thực hiện theo 04 4 Trường Đại học Luật Hà Nội (2021), Giáo trình luật thương mại quốc tế, NXB Công an nhân dan, tr. 7 phương thức: cung cấp dịch vụ qua biên giới; tiêu dùng dịch vụ ở nước ngoài; hiện diện thương mại; và hiện diện thể nhân.
Đặc điểm Thứ nhát: Dịch vụ là loại sản phâm vô hình, không sờ mó, nhìn thây được nhưng lại được cảm nhận qua tiêu dùng trực tiếp của khách hàng. Quá trình sản xuất và tiêu dùng sản phẩm dich vụ diễn ra đồng thời, nhưng hiệu quả của dịch vụ đối với người tiêu dùng lại rất khác nhau. Có loại xây ra tức thì, nhưng có loại chỉ đem lại hiệu quả sau nhiều năm, chẳng hạn dịch vụ giáo dục phải sau 5-10 năm mới có thể đánh giá đầy đủ. Do đó, việc đánh giá hiệu quả thương mại dịch vụ phức tạp hơn so với thương mại hàng hóa.
Thứ hai: Thương mại dịch vụ có phạm vi hoạt động rat rộng, từ dich vụ cho tiêu dùng cá nhân đến địch vụ sản xuất, kinh đoanh, quản lý trong tất cả các ngành của nền kinh tế quốc dân, thu hút đông dao người tham gia với trình độ cũng rất khác nhau, từ lao động đơn giản như giúp việc gia đình, bán các hàng lưu niệm ở khu du lịch đến lao động chất xám có trình độ cao như các chuyên gia tư vấn, chuyên gia giáo dục., do đó đây là một lĩnh vực có nhiều cơ hội phát triển và tạo được nhiều công ăn việc làm, rất có ý nghĩa về kinh tế — xã hội ở nước ta hiện nay. Thứ ba: Thương mai dịch vụ hiện nay đang có sự lan tỏa rất lớn, ngoải tác dụng trực tiếp của bản thân dich vu, nó còn có vai trò trung gian đối với sản xuất và thương mại hàng hóa, nên phát triển thương mại dịch vụ có ảnh hưởng gián tiếp lên tất cả các ngành của nên kinh tế quốc dân, do đó tac dụng của thương mại dịch vụ là rất lớn. Người ta tính rằng, néu thuong mai dich vu được tu do hóa thi lợi ich của nó còn cao hon thương mai hang hóa hién nay va xap xi bang lợi ích thu được khi tự do hóa thương mại hang hóa hoàn toàn cho cả hàng hóa nông nghiệp và hàng hóa công nghiệp. Thứ tw: Thương mại dich vụ khi lưu thông qua biên giới gắn với từng con người cụ thể, chịu tác động bởi tâm lý, tập quán, truyền thông văn hóa, 8 ngôn ngữ và cá tính của người cung cấp và người tiêu dùng dịch vụ, điều nảy khác với thương mại hàng hóa, sản phâm là vật vô tri vô giác, đi qua biên giới có bị kiểm soát nhưng không phức tạp như kiểm soát con người trong thương mại dich vu, vì thế mà thương mại dịch vụ phải đối mặt nhiều hơn với những hàng rào thương mại so với thương mại hàng hóa.
Các cuộc thương lượng dé đạt được tự đo hóa thương mại dịch vụ thường gặp nhiều khó khăn hơn tự do hóa thương mại hàng hóa, nó còn phụ thuộc vào tình hình chính trị, kinh tế — xã hội, văn hóa của nước cung cấp va nước tiếp nhận dịch vụ đó. Vai trò + Thương mại dịch vụ phát triển giúp tăng tưởng, phát triển kinh tế của các quốc gia ASEAN Cộng đồng kinh tế ASEAN là khuôn khổ hội nhập kinh tế ở mức độ cao giữa các thành viên. Nếu triển khai thành công cơ chế phối hợp nhằm thúc đây và thuận lợi hóa thương mại dịch vụ, các nước trong cộng đồng kinh tế sẽ thu được những lợi ích nhất định, đặc biệt là giúp tăng tưởng, phát triển kinh tế của các quốc gia ASEAN; thu hút dau tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và du lịch mạnh mẽ hon, tao ra nhiều việc lam hơn, phân bổ nguồn lực tốt hơn, tăng cường năng lực sản xuất va tao cơ hội dé các doanh nghiệp cải thiện năng lực cạnh tranh.