Chương 1: Những vấn đề cơ bản về cơ chế tài chính cho hoạt động truyền hình Chương 2: Thực trạng cơ chế tài chính cho hoạt động Truyền hình trả tiền của Đài Truyền hình Việt Nam Chương 3: Hoàn thiện cơ chế tài chính cho hoạt động kinh doanh truyền hình trả tiền của Đài Truyền hình Việt Nam 11 z Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CƠ CHẾ TÀI CHÍNH VÀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TRUYỀN HÌNH 1. Những vấn đề cơ bản về cơ chế tài chính 1. Cơ chế tài chính Thuật ngữ Cơ chế, Cơ chế tài chính được sử dụng khá phổ biến trong những năm gần đây. Vậy, trước khi nói về Cơ chế tài chính, cần phải làm rõ: Cơ chế là gì? Từ "cơ chế" là chuyển ngữ của từ mécanisme của phương Tây.
Từ điển Le Petit Larousse (1999) giảng nghĩa "mécanisme" là "cách thức hoạt động của một tập hợp các yếu tố phụ thuộc vào nhau". Còn Từ điển Tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học 1996) giảng nghĩa cơ chế là "cách thức theo đó một quá trình được thực hiện". “Cơ chế” được dùng với hàm ý chỉ hiện tượng ở trạng thái động chứ không phải ở trạng thái tĩnh, và con người hoạt động trong đó như là những chi tiết không thể thiếu của bộ máy quản lý. Con người tham gia thiết kế và vận hành cơ chế, song đến lượt nó lại bị cơ chế điều khiển, chứ không nằm ngoài cơ chế và điều khiển cơ chế.
Quan hệ giữa cơ chế với con người là quan hệ giữa cục bộ với toàn bộ. Cho nên nó không chỉ bao gồm những qui định về cách thức vận hành, mà còn bao gồm cả con người hoạt động theo những cách thức đã được định sẵn trong thiết kế cơ chế. Và chính hành động của tất cả con người cụ thể như thế tạo nên cơ chế như một bộ máy quản lý đang vận hành. Cần nhấn mạnh rằng cơ chế chỉ có thể vận hành theo những cách thức định sẵn, trong đó mỗi chi tiết, bộ phận phải đóng được vai trò của mình.
Chỉ cần một chi tiết, bộ phận hư hỏng hay kém chất lượng, sự vận hành của cơ chế sẽ lập tức trục trặc. Cho nên cơ chế tự nó có khả năng phát 12 z hiện và đòi hỏi loại trừ những chi tiết, bộ phận không phù hợp với nó. Như vậy là chính con người tạo ra cơ chế và cũng chính con người lại phải tuân theo sự vận hành của nó. Cơ chế chỉ có thể vận hành một cách thông suốt nếu đó là một cơ chế hoàn hảo và mỗi chi tiết, bộ phận của cơ chế luôn phù hợp với nó.
Tài chính, về bản chất là một hệ thống phức tạp các mối quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình phân phối dưới hình thức giá trị các nguồn lực tài chính để tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm thực hiện các mục tiêu nhất định của quá trình tái sản xuất xã hội. Về cơ chế tài chính, theo từ điển thuật ngữ Tài chính – tín dụng thì cơ chế tài chính được định nghĩa là “Hệ thống các hình thức, phương pháp, biện pháp để tổ chức quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các nguồn lực tài chính trong nền kinh tế quốc dân”. Phù hợp với quan niệm trên, đối với mỗi tổ chức hoặc chủ thể kinh tế, cơ chế tài chính được coi là hệ thống các hình thức, phương pháp để tổ chức quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các nguồn lực tài chính của tổ chức hoặc chủ thể kinh tế. Có nghĩa là mỗi loại hình tổ chức đều tương ứng với một cơ chế tài chính nhất định được điều chỉnh bởi các quy định của pháp luật.
Cơ chế tài chính của cơ quan hành chính nhà nước khác cơ chế tài chính doanh nghiệp. Cơ chế tài chính của doanh nghiệp nhà nước lại khác doanh nghiệp tư nhân. Ngay doanh nghiệp nhà nước cũng có nhiều loại với những cơ chế tài chính khác nhau, ví dụ cơ chế tài chính cho tổng công ty nhà nước khác với công ty, khác với tập đoàn kinh tế v.v… Khái niệm cơ chế tài chính cho các đơn vị sự nghiệp có thu xuất hiện trong quá trình thực hiện tách chức năng quản lý nhà nước với chức năng điều hành các đơn vị sự nghiệp dịch vụ công để hoạt động theo các cơ chế riêng, phù hợp, có hiệu quả. Và như vậy nó sẽ khác với cơ chế tài chính của cho các cơ quan hành chính nhà nước mà trước đây các cơ quan hành chính và cơ quan sự nghiệp thường được gộp làm một và gọi chung là các cơ quan hành chính sự nghiệp.
Đổi mới cơ chế tài chính Đổi mới cơ chế tài chính là hoạt động của chủ thể nhằm thay thế cơ chế tài chính cũ (đổi mới hình thức, phương pháp tạo lập, phân phối và sử dụng nguồn lực tài chính) bằng một cơ chế mới khác hẳn và tiến bộ hơn nhằm khắc phục tình trạng lạc hậu, trì trệ để phát huy tối đa mọi nguồn lực tài chính phục vụ cho sự phát triển lớn mạnh của chủ thể. Như vậy, đổi mới cơ chế tài chính là hết sức cần thiết, có thể nói là sống còn cho một chủ thể đang hoạt động, vận hành theo một cơ chế tài chính được coi là lạc hậu làm kìm hãm sự phát triển. Đổi mới cơ chế tài chính là một trong 4 nội dụng chính trong Chương trình cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2006- 2010. Đổi mới cơ chế tài chính phải được tiến hành đồng bộ ở tất cả các khu vực của nền kinh tế, đặc biệt là khu vực sự nghiệp, nơi có nhiều khả năng tự trang trải được kinh phí hoạt động để giảm nguồn ngân sách khổng lồ mà Nhà nước phải gánh hằng năm.
Chính vì vậy, tại Hội nghị ngành Tài chính triển khai Nghị quyết Đại hội Đảng X và xây dựng dự toán NSNN năm 2007, Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh nhấn mạnh: “Đẩy mạnh xã hội hoá, đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với khu vực sự nghiệp là khâu đột phá quan trọng để huy động nguồn lực xã hội cùng với tăng nguồn lực từ Nhà nước, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của các lĩnh vực giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, y tế, văn hoá, thể thao. và là tiền đề để cải cách tiền lương”. Hoạt động kinh doanh truyền hình 1. Kỹ thuật truyền hình và các phương thức truyền dẫn Kỹ thuật truyền hình và các phương thức truyền dẫn tín hiệu truyền hình có ảnh hưởng quyết định đến hình thức kinh doanh truyền hình.
Vì 14 z vậy việc xác định chiến lược kinh doanh truyền hình trả tiền nhất định phải căn cứ vào chiến lược phát triển truyền hình, trong đó xu hướng phát triển kỹ thuật cũng như việc lựa chọn phương thức truyền dẫn là yếu tố quyết định. Kỹ thuật truyền hình: Các chương trình mà khán giả cả nước có thể xem được hằng ngày trên truyền hình là kết quả và sự kết hợp của hai khâu cơ bản nhất của truyền hình là Sản xuất chương trình và Truyền dẫn phát sóng. Các chương trình được các phóng viên thu thập, ghi hình tại hiện trường, hoặc trường quay (giai đoạn tiền kỳ) sau đó được dựng hình, lồng tiếng, kỹ xảo (giai đoạn hậu kỳ) tạo ra sản phẩm truyền hình và kết thúc khâu sản xuất ở trung tâm kỹ thuật sản xuất chương trình. Các sản phẩm truyền hình được chuyển thành tín hiệu truyền hình số (digital) hoặc tương tự (analog), phát sóng từ máy phát mặt đất (truyền hình quảng bá), trực tiếp từ vệ tinh (DTH), hoặc hệ thống cáp (truyền hình cáo) đến máy thu hình của người xem với phạm vi, khoảng cách tùy thuộc vào hệ thống truyền dẫn phát sóng và kết thúc khâu này khi máy thu hình nhận được tín hiệu truyền hình.
Ở khâu sản xuất chương trình, hiện nay hầu hết các nước trên thế giới đang ứng dụng mạnh mẽ kỹ thuật số (digital). Các thiết bị sản xuất chương trình kỹ thuật số có ưu điểm là thực hiện được nhiều kỹ xảo phức tạp, tạo ra hình ảnh và âm thanh trung thực, sinh động lại gọn, nhẹ, dễ thao tác, chi phí thấp và có thể ứng dụng công nghệ thông tin vào quá trình sản xuất. Việc thay thế và nâng tỷ trọng thiết bị kỹ thuật số trong dây chuyền sản xuất đơn giản, không ảnh hưởng đến việc thu xem của người dân vì nó chỉ xảy ra ở khâu sản xuất, trong phạm vi một đài truyền hình và có thể tiến hành từng phần. Chính vì vậy, đến thời điểm này, Đài Truyền hình Việt Nam đã thay thế gần hết các thiết bị trong dây chuyền sản xuất của mình bằng các thiết bị sản xuất kỹ thuật số và có kế hoạch số hoá toàn bộ thiết bị 15 z sản xuất trong vài năm tới.
Trung tâm sản xuất mới của Đài Truyền hình Việt Nam do Chính phủ Nhật Bản viện trợ trị giá hơn 300 triệu USD sẽ sử dụng 100% thiết bị kỹ thuật số. Ngược lại, ở khâu truyền dẫn phát sóng, phổ biến ở Việt Nam và cả thế giới hiện nay vẫn sử dụng kỹ thuật tương tự. Từ vài năm nay, Công ty VTC thuộc thuộc Đài Truyền hình Việt Nam (nay đã chuyển về Bộ Bưu chính Viễn thông) đã tiến hành nghiên cứu và ứng dụng kỹ thuật số ở khâu truyền dẫn phát sóng gọi là Truyền hình kỹ thuật số VTC. Tuy nhiên, đây chỉ là bước thử nghiệm để theo dần kỹ thuật truyền hình thế giới và phạm vi thử nghiệm cũng chỉ ở khâu máy phát sóng, còn máy thu hình của người xem vẫn là máy analog nên phải có thiết bị giải mã kèm theo với chất lượng chưa đạt yêu cầu so với tiêu chuẩn truyền hình số thế giới (dừng hình, lệch tiếng.
Lộ trình ứng dụng truyền hình số ở Việt Nam còn lâu dài, phụ thuộc vào điều kiện phát triển kinh tế- xã hội của đất nước. Để ứng dụng truyền hình kỹ thuật số một cách đồng bộ, phải thay đổi toàn bộ hệ thống thiết bị cả ở khâu sản xuất và truyền dẫn phát sóng với mạng lưới hàng trăm máy phát hình trên cả nước từ kỹ thuật analog sang số với chi phí ước tính hàng tỷ USD. Quan trọng hơn là toàn bộ máy thu hình của người xem cũng phải là máy thu hình kỹ thuật số với giá hàng nghìn dollar/1 chiếc. Với 10 triệu máy thu hình hiện nay nếu được thay toàn bộ bằng máy thu hình kỹ thuật số thì chi phí xã hội cho việc chuyển đổi này sẽ là hàng chục tỷ dollar.
Ngay cả những nước giàu có như Nhật Bản, Australia, Hàn Quốc. còn đặt ra lộ trình ứng dụng truyền hình số kéo dài hàng chục năm nữa.