mở đầu quá trình TTHS. Đây vừa là một quyền nhằm đảm bảo lợi ích hợp pháp cho nạn nhân của tội phạm nhưng cũng đồng thời tạo ra những hạn chế nếu quy định này bị người phạm tội lợi dụng để đe dọa, khống chế nạn nhân và người nhà của họ, làm cho họ không dám yêu câu khởi tô vụ án.2 Vai trò của nạn nhân trong giai đoạn điều tra Trong giai đoạn điều tra, lời khai của người bị hại là một trong những chứng cứ quan trọng trong chứng minh tội phạm. Sự tham gia của nạn nhân vào các hoạt động, như nhận dạng, đối chất, khám nghiệm hiện trường, thực nghiệm điều tra, xem xét dấu vết trên cơ thé. sẽ giúp các cơ quan bảo vệ pháp luật đánh giá chính xác, khách quan quá trình, dién biến của vụ việc, xác định đúng tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như làm rõ những van dé còn nghi ngờ, giúp cho kết luận điều tra đảm bảo tính chính xác.3 Vai trò của nạn nhân trong giai đoạn xét xử Trong giai đoạn xét xử, nạn nhân của tội phạm cũng có vai trò quan trọng.
Đối với những vụ án khởi tố theo yêu cầu của người bị hại, trước ngày mở phiên tòa, nêu người bị hại rút yêu cầu khởi tố thì vụ án phải được đình chỉ. Mặt khác, nạn nhân có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch, quyền đưa ra yêu cầu bồi thường thiệt hại, quyền trình bày lời buộc tội (trong trường hợp yêu cầu khởi tố vụ án hình sự). * Về sự khác biệt giữa hai khái niệm này, xem: Trần Hữu Tráng, Luận văn thạc sỹ luật học: Nạn nhân học trong Tội phạm học Việt Nam - Một số van dé li luận và thực tiễn, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2000. °® Xem: Điều 100 BLTTHS.4 Vai trò của nạn nhân trong quá trình quyết định hình phạt Nạn nhân của tội phạm cũng có vai trò quan trọng trong hoạt động định tội danh, định khung và quyết định hình phạt.
Nhiều đặc điểm của nạn nhân là những tình tiết quan trọng cần phải nghiên cứu khi định tội danh, như đặc điểm nghề nghiệp, chức vụ công tác (Điều 128, Điều 257, Điều 319, Điều 321 BLHS), đặc điểm giới tính của nạn nhân (Điều 111, Điều 113, Điều 130 BLHS), đặc điểm về độ tuổi của nạn nhân (Điều 94, Điều 114, Điều 115, Điều 116, Điều 120, Điều 252, Điều 256 BLHS), đặc điểm về mối quan hệ của nạn nhân với người phạm tội (Điều 100, Điều 150, Điều 151, Điều 152 BLHS). Ngoài ra cũng có nhiều tình tiết thuộc về nạn nhân của tội phạm là những tình tiết định khung hình phạt, như các tình tiết nạn nhân là người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân; nạn nhân là ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của người phạm tội; nạn nhân là phụ nữ có thai; nạn nhân là người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh. Một số đặc điểm của nạn nhân còn được nhà làm luật quy định là các tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng TNHS trong quyết định hình phạt. Ví dụ tình tiết „nạn nhân là người có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng“ là tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 46 BLHS.
Các tình tiết „nạn nhân là trẻ em, phụ nữ có thai, người già, người ở trong tình trạng không thể tự vệ được hoặc nạn nhân là người lệ thuộc người phạm tội về mặt vật chất, tinh thần, công tác hoặc các mặt khác“ quy định tại điểm h, khoản 1 Điều 48 BLHS là tình tiết tăng nặng TNHS của người phạm tội. Kinh nghiệm bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm ở một số quốc gia 2.1 Kinh nghiệm bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm ở Hoa kì Hoa kì là một trong những quốc gia có sự triển khai đồng bộ và mạnh mẽ các chương trình bảo vệ và trợ giúp cho nạn nhân và nhân chứng cũng như bảo đảm quyền được bồi thường của nạn nhân của tội phạm. Bảo đảm quyền được bồi thường của nạn nhân của tội phạm được quy định tại điều 3771 [các quyền của nạn nhân của tội phạm (Crime victims’ rights)] trong Bộ tong luật Hoa kì phan 18: Bộ luật hình sự và tố tụng hình sự (Title 18 Crimes and Criminal Procedure). Theo đó, nan nhân của tội phạm có quyền được bồi thường day đủ và nhanh chong theo quy định của pháp luật; quyền được đối xử công bằng, tôn trọng phẩm giá và các quyền r A 2 a_7 A 2.
ˆ A A A A A ” r cá nhân của nạn nhan.’ Trén co sở quy định cua Bộ Tông luật, Bộ luật của các 7 Xem U. Nguồn: http://www.edu/uscode/html/uscode18/usc_sec_18 00003771----000-. 2 bang cũng quy định chi tiết quyên của nạn nhân của tội phạm. Bộ luật tố tụng hình sự của bang Texas Hoa kì đã quy định chỉ tiết về các quyền của nạn nhân của tội phạm trong chương 56.
Về quyền bồi thường cho của các nạn nhân của tội phạm, các nhà lập pháp bang Texas — Hoa ki đã quy định, trước hết, các nạn nhân của tội phạm có quyền được cung cấp các thông tin (khi yêu cầu) có liên quan đến việc người phạm tội bồi thường cho những thiệt hại do hành vi phạm tội của mình gây ra (restitution). Quyền được nhận các thông tin về việc bồi thường của nhà nước (compensation) theo quy định của pháp luật, thông tin về thủ tục làm đơn xin bồi thường thiệt hại cũng như bồi thường cho các khoản thanh toán thuốc men cho các nạn nhân bị bạo lực tình dục và khoản trợ giúp xã hội cần thiết nếu có yêu cầu. Tiếp đó, các nhà làm luật cũng xác định rõ quyền được đòi bồi thường những thiệt hại mà tội phạm đã gây ra cho nạn nhân và gia đình họ." Bộ luật tố tụng hình sự của bang Utah cũng dành chương 37 để quy định về quyền của nạn nhân của tội phạm. Theo đó, nạn nhân và nhân chứng có quyền được thông báo về mức độ bảo vệ khỏi sự nguy hiểm cũng như sự đe dọa có thể xảy ra cho họ khi tham gia quá trình tố tụng.
Các nạn nhân và nhân chứng kể cả người giám hộ cũng có quyền được thông tin và trợ giúp như vậy. Các nạn nhân và nhân chứng có quyền được giải thích rõ ràng về quá trình tố tụng hợp pháp. Họ có quyền được đảm bảo an toàn tại những nơi biệt lập với bị cáo cũng như gia đình và bạn bè của bị cáo. Nạn nhân và nhân chứng có quyền được hưởng sự bồi thường bao gồm cả chỉ phí thuốc men theo quy định của pháp luật.
Nạn nhân và nhân chứng có quyền yêu cầu trả lại những tài sản đã bị hành vi phạm tội xâm hại hoặc tài sản có liên quan đến vụ án. Nạn nhân và nhân chứng cũng có quyền được thông báo kịp thời về các thủ tục tư pháp mà họ tham dự để họ chủ động trong việc bảo vệ quyền lợi của mình, được thông báo kip thời việc hủy các hoạt hoạt động tố tụng. Nạn nhân của các tội phạm tình dục có quyên yêu cầu kiểm tra tự nguyện về việc nhiễm HIV cũng như có quyền yêu cầu kiểm tra bắt buộc việc nhiễm HIV đối với người phạm tội. Cùng với việc quy định quyền của các nạn nhân của tội phạm, chương này cũng quy định cơ chế đảm bảo cho việc thực hiện các quyền này của nạn nhân.
Hau hết các điều khoản trong chương này đều quy định nghĩa vụ của các nhân viên cơ quan tư pháp hình sự có nghĩa vụ bảm đảm việc thực thi các quyền này như nghĩa vụ thông báo cho nạn nhân của tội phạm các quyền của họ, nghĩa vụ cung cấp thông tin, nghĩa vụ trả lại tài sản liên quan dén vụ án khi thay việc tạm giữ đô vật và tài sản không, 8 Xem: Chapter 56, Texas Code of Criminal Procedure. Nguồn: http://law.com/codes/texas/2005/cr.” Cùng với các bang Texas và Utah thi hầu hết các bang của Hoa kì đều quy định rất cụ thể những quyền của nạn nhân của tội phạm và cơ chế bảo đảm các quyền cơ bản của nạn nhân của tội phạm để bảo vệ quyền lợi cho họ; quyền được bảo vệ khỏi những nguy hiểm và sự đe dọa của người phạm tội cũng như quyền được bồi thường những thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra và quyền được hưởng những trợ giúp như trợ giúp thuốc men, trợ giúp tài chính hay trợ giúp pháp lí nhằm giúp nạn nhân và gia đình họ nhanh chóng khắc phục những hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, ôn định cuộc sống. Hau hết các bang của Hoa kì đều tích cực triển khai các chương trình bảo vệ nạn nhân và nhân chứng cũng như thành lập các cơ quan, các quỹ bồi thường và trợ giúp nạn nhân của tội phạm. Ngày nay, toàn bộ đất nước Hoa kì đã triển khai gần 1000 chương trình trợ giúp cho nạn nhân của tội phạm trong đó có sự phối kết hợp của nhiều cơ quan, tô chức như cơ quan công tố, cục điều tra liên bang, cơ quan trợ giúp người nhập cư, văn phòng nạn nhân của tội phạm, văn phòng chống bạo lực đối với phụ nữ, trung tâm quốc gia trợ giúp nạn nhân của tội phạm.
'9 Hoạt động tích cực và có hiệu quả của các cơ quan này nhằm bảo đảm tốt nhất sự bảo vệ và trợ g1úp nạn nhân của tội phạm. Từ các quy định của các văn bản pháp luật và thực tiễn hoạt động bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm ở Hoa kỳ cho thấy, một cơ chế đảm bảo hoạt động bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm chỉ phát huy hiệu quả trên cơ sở có sự kết hợp đồng bộ giữa yếu tố pháp luật và cách thức tổ chức thực hiện. Hệ thống văn bản pháp luật phải tạo ra được một hành lang pháp lí để có đầy đủ căn cứ thực hiện tốt việc bảo vệ vào trợ giúp cho nạn nhân cũng như có thé huy động được tối đa sức mạnh của cả nhà nước và xã hội tham gia vào hoạt động bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm. Mặt khác, nhà nước phải tổ chức được một mạng lưới cơ quan, tổ chức tham gia rộng rãi vào hoạt động bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm.
Trong đó, quyền hạn, trách nhiệm của từng cơ quan phải được xác định cụ thể rõ ràng. Cần xác định rõ cơ chế phối hợp hoạt động giữa các cơ quan này với nhau và giữa các cơ quan này với các cơ quan, tô chức, đơn vị và cá nhân trong xã hội.