phần mở đầu, chúng tôi chủ yếu nghiên cứu những lời ca dao hiện đại được sáng tác và sưu tầm từ 1945 đến 1975. Từ 1975 đến nay vì những lý do chủ quan và khách quan, phong trào sáng tác cũng như công tác sưu tầm, nghiên cứu bộ phận ca dao mới này còn nhiêu điêu bât cập. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi đã mở ra một kỷ nguyên mới- kỷ nguyên độc lập dân tộc- tạo điều kiện cho xã hội Việt Nam phát triển về mọi mặt, trong đó có sự phát triển của khoa học Văn học dân gian. Tất nhiên, sự phát triển của khoa học văn học dân gian năm trong sự phát triển chung của toàn bộ nên văn hoá mới, trên cơ sở ba nguyên tắc dan tộc hod, đại chúng hoá và khoa học hóa mà Đảng ta đã đề ra trong bản Đề cương văn hoá Việt Nam năm 1943.
Thực ra, môn khoa học nghiên cứu thực sự có tính chất khoa học về văn học dân gian được ra đời, phát triển trên cơ sở những sang tạo văn hoa văn nghệ dân gian và những thành tựu của việc sưu tầm, giới thiệu, nghiên cứu vốn văn hoá văn nghệ đó Vậy, cùng với những sáng tạo văn hoá văn nghệ dân gian, thể loại ca dao ở giai đoạn lịch sử mới này tôn tại và phát triên như thê nào? Từ năm 1945 đến 1954 - một năm sau cách mạng và suốt chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp, thực hiện chủ trương “cách mạng hoá tư tưởng, quần chúng hoá sinh hoạt” do Đảng phát động, các nhà văn hoá và văn nghệ sĩ trong những đợt đi thâm nhập thực tế “đã có dịp được chứng kiến một sự phát triển ram rộ và phong phú của phong trào văn nghệ quần chúng”[25. Cùng với các thé loại khác của sáng tác dân gian, ca dao trong thời kỳ này xuất hiện dưới những hình thức hết sức sáng tạo và độc đáo: “ca dao dán trên báng súng, tông dao, lưỡi mác, bi đông, nồi chảo, ba lô, viết trên tường, trong lòng máng tre, “di theo” chiếc đòn gánh của anh nuôi gánh com ra trận địa”[25. Có lẽ hình thức sáng tạo sau là trường hợp rất hiếm gặp trong sáng tác thơ ca dân gian. Theo Hoài Thanh, trong Nói chuyện thơ kháng chiến, ở “chiến dịch Cao - Bắc - Lang (1950) một đồng chí cấp dưỡng gai vào nam cơm gánh ra trận địa cho bộ đội chiên đầu mây câu thơ: Mời anh xơi năm cơm chay, An no lấy sức phanh thay quân thù.
Bộ đội chiên đâu ngoài mặt trận đáp lại cũng băng cách dán trả mây câu thơ vào chiếc đòn gánh gánh cơm: Hôm nay tớ nhận cơm chay, Ngày mai tớ gửi mười Tây làm quà. 51] Điều kỳ diệu gì sẽ xảy ra khi những tác phâm thơ ca ấy được quần chúng đón nhận, lưu truyền, sáng tạo và nhân lên trong sinh hoạt lao động, chiến đấu? Từ năm 1954 đến năm 1975 - thời kỳ dân tộc ta phát động cuộc kháng chiến thần kỳ chống dé quốc Mỹ xâm lược ở miền Nam và xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, các hình thức đa dạng của ca dao lại được khơi nguồn và phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Những tập Ca dao chống Mỹ, Ca dao chiến sĩ liên tục ra đời từ phong trào sáng tác, sưu tầm ca dao ở tiền tuyến. Ở hậu phương, các tập ca dao về chủ đề sản xuất và xây dựng cuộc sống mới, tất cả cho tiền tuyến như: Hang về (Ca dao về thương nghiệp), Cửa chung (ca dao về chống tham 6 lãng phi), Đẩy lời sóng gió (ca dao phòng chống lụt bão), Biết đâu nên vợ nên chong từ đây (ca dao về sản xuất và hôn nhân), Anh đèn bổ tic (ca dao về bổ túc văn hoá), Thay người di xa (ca dao về nông nghiệp), Ngàn xanh (ca dao về lâm nghiệp), Khoi dong nước lên (ca dao về thuỷ lợi).
lần lượt được xuất bản. Lại có một số tập ca dao sưu tầm tập hợp từ các phong trào thi đua sản xuất và chiến đấu, từ trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ được ra mắt độc giả: Ca dao kháng chiến, Ca dao sưu tam (từ 1945 đến nay). Một số nhà xuất bản thời đó như: Nhà xuất bản Văn học, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Nhà xuất bản Phé thông. đã rất tích cực trong việc sưu tầm, tuyển chọn ca dao.
Đặc biệt, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, trong nhiều lần xuất bản còn mở han một chuyên mục phan ánh tình hình sáng tác, sưu tam và hướng dẫn cách thức sáng tác, sưu tầm ca dao cho quần chúng, nhất là các chiến sĩ ngoài mặt trận. Chang hạn, trong cuốn Ca dao chống Mỹ cứu nước tập ba, Nhà xuất bản ghi: “Chúng tôi xin mach nước với các đồng chí là nên thuộc thật nhiều ca dao truyền thống, học lấy cách suy nghĩ bằng hình tượng của nhân dân lao động, học lấy lời ăn tiếng nói của nhân dân, học cả lối biểu hiện nữa”.69] Ban biên tập còn phân tích nội dung và hình thức nghệ thuật một lời ca dao tiêu biểu có nội dung chống Mỹ với nhan đề: “Cần thêm rất nhiều thơ ca căm thù như thế”. Như vậy, rõ ràng dù đây là phong trào văn hóa văn nghệ không chuyên, song yêu cầu về chất lượng trong đó có tính tư tưởng là điều mà các nhà xuất bản hết sức quan tâm. Điều đó còn cho thấy, số lượng ca dao mà ngày nay chúng ta lưu giữ được cũng mới chỉ là một phần được tuyên chọn từ trong số vÔ vàn lời ca dao đã từng ra đời và lưu truyền trong quần chúng.
Sau 1975, các nhà xuất bản vẫn rải rác cho ra đời một số cuốn sưu tập ca dao mới như: Ca đao Việt Nam (1945-1915), Ca dao chống Mỹ cứu nước chọn loc, Cụ Hồ ở giữa lòng dân, Ca dao về Bác Hồ, Ca dao kháng chiến chong Pháp chọn lọc v. Cụ Hồ là vị cha chung, Tháng giêng là tháng lập công, Bao giờ hết cỏ Tháp Mười, Mau lên hỡi bạn xe thổ, Giao thừa cùng hẹn đón xuân, Cưới xưa thách lợn thách vàng, Mình về ta chang cho về, Tay cam vở toán bìa vàng, Hôm qua di chợ đường xa, Ai ơi chớ lây chong non. là một sô lời ca dao tiêu biêu ra đời trong các phong trào sáng tác, sưu tầm thời đó. Tuy nhiên, hiện tượng sáng tác ca dao như sáng tác thơ không làm mất đi vai trò quan trọng của việc sáng tạo và diễn xướng ca dao theo phương thức cổ truyền.
Những sinh hoạt tập thể mà các thành viên trong đó dựa trên giai điệu dân ca cô truyền dé đặt lời mới vẫn xuất hiện trong xã hội hiện đại. Hình thức văn nghệ phù hợp với hình thái sinh hoạt tập thể như hò tiếp vận, hò đối đáp cũng vẫn được duy trì và trong những thời điểm lịch sử cụ thể, nó phát triển thành phong trào ca hát quần chúng rất mạnh mẽ. Những sinh hoạt hò hát vừa nêu chính là “biến thê trong những điều kiện xã hội mới của các loại hò lao động và hát đối đáp trước cách mạng” [25. Trong kháng chiến chống Mỹ, phong trào “Tiếng hát át tiếng bom” cũng góp phần tích cực vào việc khơi dậy niềm say mê sáng tạo thơ ca của quần chúng.
Có thê nói, các hình thức ca hát trên là mảnh đât màu mỡ đê ca dao nảy mâm và phát triên. Những ghi chép sau của các nhà nghiên cứu, nhà văn là một vài minh hoạ chưa day đủ cho phong trào sáng tao và thưởng thức thơ ca dân gian sôi nổi, hồn nhiên đó. Trong bài Những người sáng tác ca dao ở nông thôn hiện nay, tác gia Đặng Văn Lung đã miêu tả một đêm lao động và sáng tác ca dao như sau: “Ở đây không thể có sự thống kê chính xác nào về số lượng ca dao hôm ấy. Câu này tiếp câu kia như tranh lợp nhà, khi giống nhau ở phần đầu, khi giống nhau ở phần giữa hay phan cuối, thậm chí giống nhau hai phần ba hay cũng bài ấy đôi đi may chữ.
Người ta không nghĩ đến chất lượng câu ca dao vừa làm, cũng chăng nghĩ đến việc ghi lại, sửa chữa dé gửi đến một bài báo nao, chỉ miễn sao động viên được mọi người vui vẻ, hăng hái hoàn thành công việc của minh. Người ta cũng không thể nhớ được câu ca dao ấy do ai làm ra”[95]. Đây là một đoạn miêu tả cảnh sinh hoạt văn nghệ trong khuôn khổ truyền thống cũ do nhà văn Trần Đăng ghi lại vào thu đông năm 1949: “Xâm tối, anh chính trị viên xem đồng hỗ tính nhằm một chương trình sinh hoạt văn nghệ cap tốc. Kiểm thảo nội bộ.
không còn gì để kiểm thảo nữa, ở các nhà, các trung đội đã bắt đầu vui hát. Chèo Éttipô tau mã cười nôn ruột. Tình quân dân, ý nghĩa anh là bộ đội đi giết giặc, tôi là dan ở nhà tăng gia sản xuất. Những lời hai người ngâm đối đáp văn hoa rất dài.
Giọng ngâm tốt sang sảng của hai đội viên thi nhau ngân dai và đọc | ra n: “Anh øà chiến sĩ ngàn phương”, “Tôi đi tô thắm điệu đời đêm /ay”.nghe phơi phới, non trẻ, tươi thắm lạ thường. Bài viết Từ một giọng hò quen thuộc (báo Quân đội nhân dân số 3890 ra ngày - 12/3/1972) lại miêu tả cảnh sinh hoạt hò hát trong lao động của một đơn vị thanh niên xung phong trong đó có “Sửu và Thức là hai cô ở tổ đánh min” nồi tiếng về “giọng hò hay” và về “tài xuất khẩu thành hò”: “Cuộc đối đáp của chúng tôi đang ở phút hào hứng. Cậu Ngà vừa mới cất lên một câu: Em rằng min giỏi nhất min, Dọa chồng có dọa giật mìn hay không? Nguyễn Thị Thức liền trả lời ngay: Min kia chị dé mở duong Cho chong ra trận diệt phường xâm lăng! Vợ em khuôn phép giỏi giang, Dạy chẳng chắc han cũng không dùng min. Ngà ta đỏ mặt tía tai lên, đành chịu khen: giỏi giỏi, nhưng phải truy cho cô ta một câu nữa mới được: Quê em han dat gan ga, Quả khé thì ngọt, dan bà thì chua.
Lập tức cậu ta bị Thức dồn luôn: Có chua mới at mui tanh, Quê hương đánh giặc nổi danh Nam Ha. Có về Kim Bảng cùng ta, Dé biết đàn bà vác giáo đuối Tây. 498] Đó là những cảnh sinh hoạt văn nghệ, hò hát của quần chúng trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ mà các tác giả ghi lại được. Còn biết bao nhiêu lần sinh hoạt văn nghệ, bao nhiêu cuộc hò hát và bao nhiêu lời ca dao, bao nhiêu di ban ca dao nảy sinh trong cuộc sống sinh hoạt, chiến đấu, lao động như thê mà ta chưa sưu tâm lưu giữ được?